4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Vườn Hoa Văn Nghệ
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức

Biên Khảo

Ba mươi năm nhìn lại 
những con số trong Cộng Ðồng
Phạm Bá Hoa (khóa 5) 

Bài này do tham khảo bài "Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ" ngày 16 tháng 3 năm 2005 của ông Ðỗ Tăng Bí, bài "Sự Phân Tán Và Tập Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ" ngày 10 tháng 4 năm 2005 của tác giả Hồng Châu, tài liệu thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc năm 2000, và tài liệu thống kê của Census Bureau Hoa Kỳ cũng năm 2000. Tất cả đều lấy xuống từ trên Internet. Trong những tài liệu tham khảo, những con số căn cứ vào Census Bureau (Hoa Kỳ) thì giống nhau, nhưng những con số tham khảo từ những tài liệu khác thì không hoàn toàn giống nhau. 

Thưa quí vị, người Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước cho đến năm 1950 -cách nay 55 năm- vào khoảng 500 người. Chỉ có con số "vào khoảng", vì lúc đó thống kê về phần người Việt Nam chúng ta hầu như không có, mà chỉ do phỏng đoán mơ hồ. Con số đó đến năm 1970, tăng lên khoảng 5.000 người. Từ đó đến năm 1974, Việt Nam chúng ta trên đất Mỹ gộp chung vào khoảng 20.000 người, sống rải rác các tiểu bang miền Ðông Bắc và miền Tây Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ cũng chưa hình thành tổ chức Cộng Ðồng. 

Cuộc chiến tranh ý thức hệ do lãnh đạo cộng sản Việt Nam -tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa- cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, từ năm 1954. Ðến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta sụp đổ, và lãnh đạo cộng sản cai trị toàn cõi Việt Nam dưới tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hằng loạt những chính sách cai trị để đánh quỵ xã hội mà họ vừa chiếm được, đã ban hành và thực hiện chẳng khác những cuộc hành quân về phương diện bảo mật: 

- Trước hết là chính sách tập trung cải tạo quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ. Theo tài liệu của Sở Công An Sài Gòn mà họ đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, thì đến cuối tháng 7 năm 1975, nhà cầm quyền đã đẩy 154.772 quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ vào các trại tập trung. Ðến cuối tháng 10 cùng năm (1975), Cảnh Sát Công An bắt thêm 68.037 người nữa. Cộng chung tính đến 30 tháng 10 năm 1975, tổng số cựu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ, bị họ giam giữ trong khoảng 200 trại tập trung trên toàn cõi Việt Nam là 222.809 người. Trong số khoảng 200 trại này, chỉ riêng Ðoàn 776 của họ, đã quản trị đến 82 trại trong tổ chức của 6 Liên Trại trong vùng rừng núi từ Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn, ngược lên thượng nguồn Sông Hồng đến tận biên giới Việt Nam - Trung Hoa. 

- Ngày 20 tháng 8 năm 1975, Bộ Văn Hóa Thông Tin cộng sản Việt Nam, ra lệnh mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hóa phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra "tòa án nhân dân". Chính sách này giống như chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Ðông cộng sản.

- Ngày 18 tháng 9 năm 1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam bất thình lình thực hiện chính sách đổi tiền. Họ ấn định số tiền tối đa được mang đến đổi, nhưng chỉ được nhận lại tối đa là 200 đồng mới, mà họ qui định 1 đồng bạc mới bằng 500 đồng bạc cũ (1 mới = 500 cũ). Số tiền còn lại, cứ mỗi khi gia đình có nhu cầu phải làm đơn xin và phải được Phường/Xã chứng nhận mới được cứu xét.

- Ngày 10 tháng 11 năm 1975, chính sách đánh vào ngành kinh doanh thương mãi, ép mọi chủ nhân mà họ gọi là "vận động" hiến tặng cho nhà nước toàn bộ cơ sở kinh doanh thương mãi, kể cả nhà ở, rồi chuyển đến các khu hoang vắng mà họ gọi là "khu kinh tế mới" tự mưu sinh. Trường hợp không chấp hành sự vận động của họ, thì bị bắt vào trại tập trung, còn tài sản đều bị tịch thu. Có nghĩa là, cho dù bằng cách nào đi nữa thì tài sản cũng vào tay nhà nước cộng sản, chỉ khác ở chỗ là những chủ nhân có bị vào trại tập nhỏ -tức nhà tù- hay vẫn trong trại tập trung lớn -tức xã hội- thế thôi. 

- Ðến chính sách cải tạo văn nghệ sĩ. Trên tờ L' humanité của đảng cộng sản Pháp, số ra ngày 21 tháng 3 năm 1976 tại Paris, có đăng tải danh sách 321 văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa, đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt vào trại tập trung cải tạo từ ngày 13 tháng 6 năm 1976. 

- Tháng 6 năm 1977, lại một chính sách khác ra đời. Ðó là chính sách buộc tất cả mà họ gọi là "vận động" nông dân có đất ruộng, đem tập trung vào Hợp Tác Xã, và nông dân vẫn canh tác nhưng sản phẩm do Hợp Tác Xã quản trị, còn nông dân tùy theo lao động của mình bỏ ra mà nhận lại đồng lương bằng sản phẩm do Hợp Tác Xã quyết định. Và họ quản trị lao động công việc đồng áng chẳng khác những trại lính. 

Với những chính sách khắc nghiệt đó, đã là nguyên nhân chính đẩy hơn 2.000.000 người bằng mọi phương cách rời khỏi quê hương tìm tự do trên khắp thế giới! Cũng từ ngày Việt Nam Cộng Hòa bị "quân xâm lăng" mà lãnh đạo cộng sản gọi là "giải phóng" đánh chiếm, dòng người Việt Nam ào ạt trốn chạy cộng sản đang cai trị quê hương Việt Nam và nhập cư vào Hoa Kỳ, đã làm gia tăng nhanh chóng số người Việt Nam sống trên đất Mỹ, qua 3 thành phần chính sau đây:

- Thứ nhất. Thành phần di tản trước, trong, và ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong đợt di tản này, theo thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, có khoảng 150.000 người tị nạn thoát khỏi Việt Nam, trong số này khoảng 130.000 người nhập cư Hoa Kỳ và khoảng 20.000 người còn lại nhập cư các quốc gia Châu Âu, mà đa số là nước Pháp. Nhưng theo tài liệu của cơ quan thống kê Hoa Kỳ -Census Bureau- thì số nhập cư vào Hoa Kỳ chỉ riêng trong đợt di tản tháng 4 năm 1975 là 128.039 người. Tuy hai con số thống kê có khác nhau, nhưng không nhiều. 

Thưa quí vị, hằng trăm ngàn người tị nạn đầu tiên từ Guam và Phi Luật Tân đến Hoa Kỳ, được đưa đến tạm trú tại trại Pendleton của Thủy Quân Lục Chiến. Vì quá đông, nên một số được chuyển đến các trại ở Pennsylvania và Florida. Theo tác giả Hồng Châu, khi bà con tị nạn vào các trại tạm trú trên đất Hoa Kỳ thì điều kiện để được ra khỏi trại sớm, như sau: Hoặc mỗi gia đình phải chứng minh có tiền mặt ít nhất là 4.000 mỹ kim, hoặc phải có cá nhân hay tổ chức nào đó như những cơ quan thiện nguyện chẳng hạn, đứng ra bảo trợ. Thật sự thì lúc ấy đa số bà con "bỏ của chạy lấy người" nên trông chờ vào sự bảo trợ, và cho dẫu có tiền trong túi cũng e ngại khi để cho người khác biết mình có tiền, vì không lường trước được là những gì có thể xảy ra mà bà con chưa quen với tập quán xã hội, cũng như luật pháp nơi xứ sở xa quê hương đến nửa vòng trái đất này. Có thể vì vậy mà chỉ có khoảng 15% gia đình tị nạn ra khỏi trại tạm trú do thân nhân hay bạn bè bằng hữu bảo trợ. Những cơ quan hay những cá nhân đứng ra bảo trợ, trong thực tế không bị ràng buộc bởi bất cứ trách nhiệm nào khác, ngoài trách nhiệm tìm nơi cư trú và giúp tìm công ăn việc làm lúc ban đầu. Dần dần người tị nạn tự lực cánh sinh, và từ đó các gia đình tự mình chuyển nơi ở đến bất cứ thành phố nào thích hợp với hoàn cảnh. 

Thứ nhì. Thành phần trong cuộc vượt biên vượt biển sau cuộc di tản. Ðây là thành phần được xem là đông nhất và là bi thảm nhất trong ba thành phần đến Hoa Kỳ. Theo tài liệu thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc phổ biến vào năm 2000, thì thành phần vượt biên vượt biển trong 20 năm đến bến bờ tự do, tính từ tháng 6 năm 1975 đến năm 1995, có tất cả là 839.200 người tị nạn, tạm chia ra trong 4 giai đoạn như sau: 

- Giai đoạn 1, từ tháng 6 năm 1975 đến cuối năm 1979, có 14.600 người vượt biên giới trên đất liền, và 311.400 người vượt biển mà thế giới rất xót xa khi gọi là "thuyền nhân". Cộng chung của giai đoạn 1 là 326.000 người tị nạn.

- Giai đoạn 2, từ năm 1980 đến năm 1984, có 11.000 người vượt biên giới và 242.000 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 2 là 253.100 người tị nạn.

- Giai đoạn 3, từ năm 1985 đến năm 1989, có 10.500 người vượt biên giới và 186.500 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 3 là 197.000 người tị nạn. 

- Và giai đoạn 4, từ năm 1990 đến năm 1995, có 6.700 người vượt biên giới và 56.400 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 4 là 63.100 người tị nạn.

Trong số 839.200 "Thuyền Nhân" có khoảng 424.000 người nhập cư vào Hoa Kỳ, số còn lại định cư tại Australia 111.000, Canada 103.000, Pháp quốc 27.000, Anh quốc, Cộng Hòa Liên Bang Ðức, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Ðiển, Tân Tây Lan, Bỉ quốc, Phần Lan, và nhiều quốc gia khác, nhưng mỗi quốc gia chỉ nhận một ít người. 

Không một cơ quan quốc tế nào có đủ dữ kiện để ước tính số đồng bào Việt Nam chúng ta trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do, đã bị bỏ xác trong rừng sâu cũng như trên biển cả. Chúng ta chỉ có những con số phỏng đoán trên các cơ quan truyền thông quốc tế, theo đó, cứ 3 người Việt Nam vượt biên vượt biển thì 2 người đến bến bờ tự do và 1 người chết mất xác. Nếu chúng ta tạm chấp nhận cách phỏng đoán này, thì có khoảng từ 400.000 đến 500.000 người gục ngã trên đường chạy trốn chế độ cộng sản độc tài! 

Thưa quí vị, vào những ngày cuối tháng 3 năm 2005, một phái đoàn khoảng 150 người gồm nhiều thành phần xã hội trong Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn, từ nhiều quốc gia khác nhau mà đông nhất là từ Hoa Kỳ, cùng đến Mã Lai và Nam Dương, là những quốc gia đã đón nhận cưu mang hằng 700-800 ngàn đồng bào Việt Nam chúng ta trong thời gian tạm trú, chờ đi định cư các quốc gia thứ ba. Qua những giờ tường trình từ các quốc gia đó, phái viên Ðinh Quang Anh Thái của đài phát thanh Little Saigon (Nam California), một trong những câu chuyện cảm động nhất dù chỉ nghe trên làn sóng. Theo đó thì vài người Mã Lai khi hay tin tàu chở người Việt Nam vượt biển bị chìm, họ đã cùng kêu gọi nhiều người nữa ra biển vớt được 130 "xác thuyền nhân Việt Nam", và chôn trong một cái hố! Quí vị nghĩ gì khi hình dung cái quang cảnh 130 xác đồng bào lớn nhỏ bập bềnh trên sóng nước vịnh Thái Lan? Và quí vị nghĩ gì nếu như trông thấy 130 xác đồng bào lớn nhỏ nhầy nhụa ngổn ngang bị quẳng vào cái mồ chôn tập thể? Thật là thê lương! Thật là bi thảm! Nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, là nguyên nhân chính đẩy dân tộc vào nỗi thê lương bi thảm này khi họ chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta! 

Và thứ ba. Thành phần thuộc các chương trình Ðoàn Tụ Gia Ðình, Cựu Tù Nhân Chính Trị (HO), Con Lai, ..v..v.. Các chương trình này xem như chánh thức bắt đầu từ năm 1990, dù rằng lác đác đã có chương trình Ðoàn Tụ Gia Ðình. Số người thuộc các chương trình này đến Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2002 là 481.245 người, bao gồm 249.086 người thuộc diện di dân, và 232.159 thuộc diện tị nạn. Trong số người tị nạn, có khoảng 112.000 cựu tù nhân chính trị, và đa số trong số tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ trong chương trình HO, số còn lại là vượt biên vượt biển sau khi ra tù. 

Nhân đây, xin được nhắc lại mục đích và ý nghĩa của hai chữ "H.O." qua lời thư của cựu Ðại Tướng Vessey. Ðây là nguyên văn bức thư. 

John W. Vessey, General USA (retired). June 10, 1997 
To Mr. Nguyen Xuan Huan
President, Association of Former Political Detainees in Minnesota.
1030 University Avenue. ST. Paul, MN 55104.

Dear Mr. Huan.

Because I am unable to attend your important meeting on Saturday, June 21, I ask that this letter be read on my behalf to your members and guests.

It is important to honor all those who served the cause of freedom in Vietnam and Indochina. It is also important to recognize and assist those who suffered under Communist rule for their prior service to the Republic of Vietnam. Political detainees under the Communist regime after 1975 had served their country and their people in the honorable and esteemed tradition of parriotism, putting service to country above self during a long and arduous war. The sacrifices of all who served and fought in the Vietnam war, Vietnam, Americans, and other Allies, made a difference for the important human ideals of freedom and personal dignity. The world was changed through a collective effort. The spread of Communist in Asia was harted by the sacrifices in Vietnam, Laos, and Cambodia, and with the help of other nations of Southeast Asia. All who participated in that effort can be proud of their contributions.

When President Reagan call me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called, "reeducation camps". I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country. Because, at the time of the original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed "humannitarian operations". Consequently, the term H.O. has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now resident in the United States.

To me, the term H.O. is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall within that context of the term are the among the true heroes of our time.

My very best wishes to all attending your event.

Sincerely yours.
John W. Vessey

Lời người chuyển ngữ: Ðây là thư của cựu Ðại Tướng John W. Vessey, cựu Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ. Ông sinh ra và lớn lên tại tiểu bang Minnesota. Tôi xin lược dịch phần chính của lá thư với mục đích phổ biến đến quí vị chung vui niềm vui vinh dự của gia đình H.O. Minnesota, vì đây là vinh dự không phải của riêng các H.O. tại Minnesota, mà là vinh dự của toàn thể H.O. đang sống tại Hoa Kỳ. (Nguyễn T. Ngọc Châu )

***

"Vinh danh những người đã phụng sự cho chính nghĩa tự do ở Việt Nam và Ðông Dương, là một điều quan trọng. Việc công nhận và trợ giúp những người đã bị chế độ cộng sản ngược đãi vì đã phục vụ cho chế độ tự do tại các quốc gia đó, lại càng quan trọng hơn. Những tù nhân chính trị dưới chế độ cộng sản sau năm 1975, là những người đã từng phục vụ quê hương và đồng bào với truyền thống yêu nước cao cả và đáng kính, đã vì nước quên mình trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt. Lòng hy sinh của tất cả những ai đã từng phục vụ và chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam, người Việt, người Mỹ, và những đồng minh khác, đã đem lại một ý nghĩa đặc biệt hơn cho lý tưởng của con người về tự do và nhân vị. Thế giới đã thay đổi nhờ một nỗ lực tập thể. Sự bành trướng của cộng sản ở Á Châu đã bị ngăn chận bởi những sự hy sinh ở Việt Nam, ở Lào, và Cam Bốt, cùng với sự hỗ trợ của các nước Ðông Nam Á. Tất cả những ai đã tham gia vào nỗ lực đó, có thể tự hào về những đóng góp của mình".

"Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Ðặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà Tổng Thống giao phó cho tôi, là phải tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái trại gọi là "trại cải tạo". Tôi được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng, Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng với gia đình họ sang Hoa Kỳ.Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh "Humanitarian Operation" (chiến dịch nhân đạo), gọi tắt là H.O. Do đó, danh từ H.O. được Cộng Ðồng Việt Mỹ sử dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đang sống trên đất Hoa Kỳ". 

"Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và lòng hy sinh của người H.O. Tất cả những ai thuộc diện H.O. đều là những anh hùng thật sự trong thời đại chúng ta". 

***

Thưa quí vị, theo thống kê của Census Bureau năm 1990, Cộng Ðồng Việt Nam tại Hoa Kỳ là 614.547 người, trong số này có khoảng 18% chào đời trên đất Mỹ. Cũng từ Census Bureau, tài liệu thống kê dân số năm 2000 ghi nhận Cộng Ðồng Việt Nam lên đến 1.122.528 người, tức gia tăng gần gấp đôi so với 10 năm trước đó. Tài liệu thống kê này còn ghi nhận có đến 80.5% người Việt Nam qui tụ vào 293.621 đơn vị gia cư, với nhân khẩu từ 3 người trở lên. Tức là mỗi gia đình ít nhất là 3 người. Gần 20% còn lại là sống cá nhân hoặc gia đình 2 người. Vẫn tính riêng đơn vị gia cư trong Cộng Ðồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, thì số nhà do người Việt làm chủ là 158.319 đơn vị -tức 54%- phần còn lại là thuê mướn. Thử làm một so sánh với người Mỹ, số đơn vi gia cư do người Mỹ làm chủ là 66.2%. Cứ chấp nhận là Cộng Ðồng Việt Nam mới hình thành cách nay 30 năm, mà chúng ta đã trở thành chủ nhà với tỷ lệ 54% so với 66.2% của người bản xứ, rõ ràng là Cộng Ðồng chúng ta đã vươn lên rất nhanh, dù là đa số khởi đầu cuộc sống trên vùng đất hứa xa xôi này với những bàn tay trắng.

Và đây là định nghĩa "đơn vị gia cư" tạm dịch từ chữ household. Một đơn vị gia cư là một ngôi nhà, một nhà tiền chế, một phòng hay một nhóm phòng trong chung cư, mà có nhiều người sống trong đó, với những sinh hoạt riêng biệt cũng như lối đi riêng biệt với những người trong những đơn vị gia cư khác. 

Với một Cộng Ðồng 1.122.528 người -tức khoảng 0.4% dân số Hoa Kỳ- nếu nhìn theo từng vùng mà mỗi vùng gồm một số tiểu bang, thì vùng đông bắc có 115.487 người, vùng trung tây là ít nhất với 106.938 người, vùng nam Hoa Kỳ có 335.679 người, và vùng tây Hoa Kỳ là đông nhất có đến 564.424 người. Nếu nhìn theo tiểu bang thì Cộng Ðồng chúng ta tại California là đông nhất với 484.023 người, và tiểu bang có số người Việt ít nhất là Wyoming chỉ có 128 người. Nếu nhìn theo khu vực gồm nhiều quận hạt hay nhiều thành phố, thì Cộng Ðồng lớn nhất là nam California với 263.000 người, thứ nhì là bắc California, thứ ba là Houston, thứ tư là Dallas Fort Worth, và thứ năm gồm Washington DC, Virginia, và Maryland với 43.000 người. 

Trong giai đoạn đầu trong khoảng 1975 đến 1980, phần lớn chúng ta khi được các cơ quan thiện nguyện bảo trợ và tìm nơi định cư đầu tiên, hầu như ở những thành phố nhỏ. Rồi từng bước hội nhập vào xã hội nơi đây, người Việt chúng ta dần dần tìm đến thành phố lớn lập nghiệp, nhất là những thành phố có cơ sở kỹ nghệ quốc phòng. Nguyên nhân là từ đầu những năm 80, thời kỳ cao điểm của "chiến tranh lạnh" giữa khối dân chủ tự do với khối cộng sản độc tài, hay nói cho đúng là giữa Hoa Kỳ với Liên Xô, nền kỹ nghệ quốc phòng Hoa Kỳ hoạt động rất mạnh và thu hút rất nhiều công nhân. 

Mức độ ổn định cuộc sống song đôi với mức độ hội nhập vào sinh hoạt xã hội, mà tài liệu thống kê năm 2000 đã ghi nhận hơn 70% trong số hơn 1 triệu 1 trăm ngàn người Việt, tập trung vào 20 thành phố lớn, như Los Angeles, Westminster, San Jose, Houston, Dallas, Boston, Washington DC, ..v.. v.. Tại những thành phố này, cư dân Việt Nam có từ 20.000 người trở lên. Cũng phải kể đến khoảng 30 thành phố mà số cư dân Việt Nam chúng ta có từ 2.000 đến 10.000 người, phần còn lại là những Cộng Ðồng nhỏ sống rải rác tại tất cả các tiểu bang, kể cả Alaska được xem là nơi có thời tiết khắc nghiệt nhất. Những gia đình thông thạo nghề đánh bắt hải sản thì qui tụ đến tiểu bang Florida với con số 33.190 người, tiểu bang Louisiana 24.358 người, tiểu bang Mississippi 5.387 người, và một số khác qui tụ về vùng vịnh San Francisco. 

Vẫn theo tài liệu thống kê năm 2000, nếu nhìn Cộng Ðồng chúng ta theo thành phần dân số, thì từ trẻ sơ sinh đến 19 tuổi là 338.457 người, hay là 30.1% trong tổng số cư dân Việt Nam tại Hoa Kỳ, trong khi người Hoa Kỳ cùng lứa tuổi là 28.6%. Từ 20 tuổi đến 65 tuổi là 725.830 người hay là 64.7%, trong khi người Hoa Kỳ cùng lứa tuổi chiếm tỷ lệ 58.9%. Từ 65 tuổi trở lên là 58.241 người hay là 5.2%, trong khi người Hoa Kỳ cùng lứa tuổi chiếm đến 12.4%. Với tỷ lệ này trong thành phần dân số Hoa Kỳ hiện nay, và đang có chiều hướng gia tăng do tuổi thọ ngày càng nâng cao, sẽ là vấn đề mà các nhà chính trị lẫn xã hội đang nghiên cứu tìm giải pháp thích ứng cho tương lai trước mặt. Nếu nhìn theo khía cạnh phái tính, thì trong Cộng Ðồng chúng ta phái nam chiếm 50.6%, và phái nữ chiếm 49.4%, trong khi Hoa Kỳ thì tỷ lệ phái nữ cao hơn phái nam. Nữ chiếm 50.9% trong khi phái nam khiêm nhường một chút với tỷ lệ 49.1%. Nói một cách tổng quát thì Việt Nam chúng ta trai thừa gái thiếu, còn Hoa Kỳ thì trai thiếu gái thừa, nhưng thiếu hay thừa cũng không cách biệt bao nhiêu, nên xã hội không có những vấn đề lớn về mặt này. 

Thưa quí vị, nếu nhìn theo khía cạnh gia đình thì thống kê năm 1990 của Census Bureau cho thấy, người Việt chúng ta có khuynh hướng lập gia đình ở tuổi 25 trở lên. Một tỷ lệ đáng lưu tâm là có đến 28.6% ở lứa tuổi từ 25 đến 44 chưa lập gia đình, và hơn 1/3 số người trong tuổi từ 65 trở lên là sống độc thân do ly di hoặc vợ hay chồng đã chết. Có lẽ phải có một cuộc nghiên cứu tường tận mới có thể tìm câu giải đáp, nhưng một phần trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có lẽ là do mất mát trong chiến tranh, cũng như mất mát trên hành trình vượt biên vượt biển! Ðấy là theo thống kê năm 1990, nhưng với thống kê năm 2000 có nhưng thay đổi trong khía cạnh này. Theo đó thì số người Việt chúng ta sống ly thân là 15.046 người hay là 1.7%, số người ở góa là 32.276 hay là 3.7% mà đa số là phụ nữ, số người lỵ dị là 35.177 hay là 4.1%. 

Nếu nhìn theo khía cạnh giáo dục, thống kê năm 2000 riêng về Cộng Ðồng chúng ta có những con số sau đây: Trong số 693.441 người từ 25 tuổi trở lên: 

- 18% chưa xong lớp 9. 

- 20.1% theo học từ lớp 9 đến lớp 12.

- 19.1% tốt nghiệp trung học. 

- 7.7% tốt nghiệp đại học hai năm "hay là 49.236 người", trong khi phía Hoa Kỳ là 6.3%. 

- 14.5% tốt nghiệp đại học bậc cử nhân "hay là 100.548 người", trong khi phía Hoa Kỳ tốt nghiệp là 15.5%. 

Hai con số tốt nghiệp đại học 2 năm và đại học 4 năm trên đây chỉ tính tuổi từ 25 trở lên, trong thực tế nếu tính tuổi 23 và 24 đã tốt nghiệp từ hai cấp này, ắt hẳn sẽ cao hơn đáng kể.

- 4.9% tốt nghiệp bậc cao học "hay là 33.578 người", trong khi phía Hoa Kỳ có tỷ lệ 8.9%. 

Nhìn chung trong giáo dục, theo tỷ lệ thì sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học hai năm nhiều hơn sinh viên Hoa Kỳ, nhưng ở bậc đại học và trên đại học thì sinh viên Việt Nam ít hơn sinh viên Hoa Kỳ. Có một điều thật rõ nét là những nhóm gia đình đến Hoa Kỳ trong giai đoạn 1975-1980, có trình độ học vấn cao hơn những nhóm gia đình đến sau. Nói cách khác, học sinh sinh viên Việt Nam trong những nhóm gia đình đến trước, thì thời gian chính là điều kiện giúp hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ nhanh hơn do có nhiều cơ hội thuận lợi hơn, dĩ nhiên là có mức sống cao hơn. 

Nếu nhìn theo khía cạnh báo chí, một phương tiện dựng lại những sinh hoạt văn hóa của Cộng Ðồng chúng ta tại hải ngoại. Theo tác giả Ðỗ Năng Bí căn cứ vào tài liệu của "Trung Tâm Tác Vụ Ðông Dương" (IRAC), thì sự ra đời của một số báo chí sau khi định cư tại một số các quốc gia, nhất là tại Hoa Kỳ và Pháp: 

"Tờ Ðất Mới tại Seattle, tiểu bang Washington tháng 5 năm 1975, tờ Hồn Việt ở Gleandale, California tháng 7 năm 1975, tờ Văn Nghệ Tiền Phong ở Arlington tiểu bang Vitginia tháng 11 năm 1975, tờ Quê Mẹ ở Paris tháng 1 năm 1976, cùng trong tháng đầu năm 1976 có thêm tờ Trắng Ðen ở Gleandale, California, tờ Việt Nam Quê Hương ở San Diego, California tháng 3 năm 1976, ..v.v... Ðến nay thì hầu như tại những thành phố lớn trên các quê hương thứ hai có đông đảo người Việt chúng ta, hầu như đều có báo chí Việt ngữ phát hành. Riêng tại California, nhật báo Người Việt được xem là tờ báo có số lượng phát hành hằng ngày từ 16.000 đến 18.500 tờ, với số trang ngày thường là 40 trang, ngày thứ sáu và thứ bảy lên đến 80 trang.Nhật báo dùng đường bưu điện chuyển đến nhiều thành phố tại Hoa Kỳ cũng như đến các quốc gia bên Âu Châu, Nhật Bản, Canada, và Australia. 

Nếu nhìn theo khía cạnh kinh tế, chúng ta có những con số khác nhau. Thưa quí vị, cứ tạm đồng ý với nhau là chúng ta đang ở vào năm 1995, thì những gia đình đến Hoa Kỳ trong khoảng từ năm 1975 đến năm 1990 chẳng hạn, chắc chắn là có mức sống khác với những gia đình mới đến vài ba năm. Nhưng những gia đình đến Hoa Kỳ trong cùng thời gian, cũng không có nghĩa là có mức sống ngang nhau, do hoàn cảnh gia đình về số người, về kiến thức, về cá tính, về hoàn cảnh, và cả về cơ hội trong xã hội nơi cư trú nữa. Vậy, xin quí vị không nên bận tâm theo ý nghĩa tiêu cực, khi quí vị thoạt nghe một vài con số tưởng chừng không vui.

Theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu xã hội qui định trong sách chỉ dẫn năm 1989 của liên bang Hoa Kỳ, lợi tức hằng năm ở mức 6.310 mỹ kim cho một người, hay 9.885 mỹ kim cho một gia đình 3 người, được xem là nghèo khổ. Với cách chỉ dẫn này, thống kê năm 2000 cho thấy là trong Cộng Ðồng chúng ta có đến 27% sống dưới mức nghèo khổ, trong khi tình trạng như vậy của người Hoa Kỳ nói chung là 13%. Tài liệu cũng cho thấy rằng, tính từ tháng 1 năm 1988 đến tháng 6 năm 1994, số lượng người Việt Nam nhận trợ cấp an sinh xã hội từ chánh phủ ngày càng gia tăng so với những nhóm chủng tộc khác, mà một trong những nguyên nhân có thể là Việt Nam chúng ta hưởng nhiều chương trình nhập cư vào Hoa Kỳ, mang theo cả những người thân lớn tuổi trong gia đình. 

Lợi tức trung bình hằng năm của những gia đình đến Hoa Kỳ trong những năm 1975 đến 1979 là 58.000 mỹ kim, cao hơn những gia đình đến Hoa Kỳ trong khoảng thời gian 1987 đến 1990, những gia đình này có lợi tức trung bình dưới 30.000 mỹ kim. Ở đây chỉ thấy tài liệu cung ứng những con số mà không thấy đề cập đến trị giá đồng mỹ kim ở hai giai đoạn khác nhau, nên khó mà so sánh theo trị giá thật của lợi tức. 

Gần 20% những gia đình Việt Nam chúng ta có 3 người đi làm, đây là con số cao hơn người bản xứ. Rõ ràng là Việt Nam chúng ta đã mang đến đất nước Hoa Kỳ một truyền thống gia đình mà người bản xứ không có được như vậy. Tiếp đây là những con số về lợi tức gia đình trong Cộng Ðồng Việt Nam chúng ta theo thống kê năm 2000:

- 27.4% hay là 80.452 gia đình có lợi tức hằng năm dưới 25.000 mỹ kim, trong khi Hoa Kỳ là 28.6%

- 27.2% hay là 79.864 gia đình có lợi tức hằng năm từ 25.000 đến dưới 50.000 mỹ kim, Hoa Kỳ là 28.7%.

- 31.3% hay là 91.903 gia đình có lợi tức hằng năm từ 50.000 đến dưới 100.000 mỹ kim, Hoa Kỳ là 29.8%.

- 12.3% hay là 36.115 gia đình có lợi tức hằng năm từ 100.000 đến dưới 200.00 mỹ kim, Hoa Kỳ là 9.9%.

- 1.8% hay là 5.285 gia đình có lợi tức từ 200.000 mỹ kim trở lên, trong khi Hoa Kỳ là 2.4%. Nếu tính riêng trong Cộng Ðồng chúng ta tại tiểu bang California thì số gia đình có lợi từ 200.000 mỹ kim trở lên chiếm đến 2.6%. Nhưng tỷ lệ 2.6% này không có nghĩa là cao hơn 2.4% của Hoa Kỳ, vì lẽ tỷ lệ 2.4% là trên căn bản toàn liên bang trong khi tỷ lệ 2.6% của chúng ta chỉ tính riêng tại California mà thôi. Với lại con số trên 200.000 mỹ kim, có một số rất nhỏ Việt Nam chúng ta đứng vào hàng triệu phú, nhưng trị giá của người Việt Nam giàu nhất có thể đến hằng chục triệu chớ chưa thể đạt đến hằng trăm triệu trở lên, vì Cộng Ðồng chúng ta còn non trẻ về thời gian hội nhập. 

Nhìn chung, Cộng Ðồng non trẻ 30 năm của chúng ta trên đất Hoa Kỳ, có mức sống chênh lệch không bao nhiêu giữa những thành phần gia đình Việt Nam với những thành phần gia đình người bản xứ Hoa Kỳ. 

Nếu nhìn theo khía cạnh kinh doanh thương mãi, thì năm 1982 trên toàn liên bang Hoa Kỳ có 4989 cơ sở do Việt Nam làm chủ, với doanh thu hằng năm là 215.000.000 mỹ kim. Ðến năm 1987 thì số cơ sở do Việt Nam làm chủ đã lên đến 25.671 cơ sở, với doanh thu 1.361.000.000 mỹ kim. Theo thống kê năm 2000 thì Việt Nam làm chủ lên đến 97.784 cơ sở, với doanh thu hằng năm là 6.768.000.000 mỹ kim. Nếu tính riêng những cơ sở kinh doanh thương mại và dịch vụ có thuê nhân công, thì 18.948 cơ sở với số công nhân là 79.035 người, và tiền lương phải trả hằng năm là 1.165.000.000 mỹ kim. 

Nếu nhìn theo khía cạnh hội nhập xã hội, thì thống kê năm 2000 cho thấy có 57.9% người Việt Nam trở thành công dân Hoa Kỳ do tiến trình nhập tịch, và 23.9% do chào đời trên đất Mỹ. Ngày nay, muốn nhập quốc tịch phải có điều kiện sống 5 năm tại Hoa Kỳ và phải vượt qua được cuộc khảo sát Anh ngữ về một số lãnh vực sinh hoạt. 

Trong những gia đình Việt Nam, tài liệu thống kê cho thấy ngôn ngữ thường dùng giữa những người thân trong gia đình là tiếng Việt. Ðồng thời, có nhiều cơ sở giảng dạy tiếng Việt cho lớp trẻ sinh ra trên đất Mỹ. Theo nét nhìn của những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, thì đây cũng là yếu tố làm chậm mức độ hội nhập vào xã hội nơi đây, nhưng theo nét nhìn của người viết bài này thì đó là yếu tố thật sự cần thiết, góp phần vào trọng tâm gìn giữ văn hóa dân tộc cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại. 

Nếu nhìn theo khía cạnh vận động với cơ quan Hành Pháp lẫn Lập Pháp, về những quyền lợi cho Cộng Ðồng cũng như hỗ trợ công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam, nói chung là vận động chính trị. Chỉ riêng khía cạnh công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta, tính đến ngày 25 tháng 10 năm 2006, có 103 đơn vị hành chánh đã công nhận quốc kỳ Việt Nam chúng ta, gồm: 11 tiểu bang, 7 quận hạt, 85 thành phố, thuộc 28 tiểu bang theo thứ tự mẫu tự sau đây: Tiểu bang California và 3 quận hạt (QH) với 12 thành phố (TP). Tiểu bang Colorado. Connecticut có TP. Tiểu bang Florida và 3 TP. Tiểu bang Georgia và 5 TP. Hawai I co 1 TP. Indiana có 2 TP. Kansas có 3 TP. Tiểu bang Louisiana. Massachussetts có 8 TP. Michigan có 2 TP. Tiểu bang Minnesota và 3 TP. Mississippi có 1 TP. Missouri có 1 TP. Nebraska có 1 TP. New Mexico có 1 TP. New York có 1 TP. Tiểu bang New Jersey với 1 QH và 2 TP. North Carolina có 1 TP. Tiểu bang Oklahoma và 1 TP. Tiểu bang Ohio và 1 TP. Oregon có 2 TP. Pennsylvania có 3 TP. South Carolina có 2 TP. Tiểu bang Texas và 11 TP. Utah có 2 TP. Tiểu bang Virginia với 1 QH và 1 TP. Sau cùng là Washington State với 2 quận hạt và 13 thành phố.

Cũng cần nhắc đến do sự vận động riêng tư của kỹ sư Huỳnh Lương Vinh (Portland, Oregon), mà ngày 17 tháng 5 năm 2004, quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta, được ông Craig Van Hoy, trưởng đoàn leo núi, cắm trên đỉnh núi Everest ở độ cao 29.035 feet trong dãy Hy Mã Lạp Sơn.

Tóm lại. Với những con số do những tài liệu thống kê cung ứng liên quan đến Cộng Ðồng Việt Nam chúng ta trong 25 năm qua -từ năm 1975 đến năm 2000- đã cho chúng ta nét nhìn tổng quát qua cuộc di tản cuối tháng 4 năm 1975, cuộc vượt biên vượt biển vô cùng bi thảm trong suốt 25 năm cuối của thế kỷ 20, rồi từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi đây, từ lo âu đến ổn định, từ gây dựng đến phát triển, từ khách hàng trở thành chủ nhân, và trong hầu hết các lãnh vực sinh hoạt đều có sự đóng góp của những chuyên viên chuyên gia Việt Nam, thậm chí có một số chuyên gia thượng thặng như tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh trong lãnh vực vũ trụ không gian, như bà Dương Nguyệt Ánh, một chuyên gia về chất nổ nổi tiếng trong lãnh vực quốc phòng trên thế giới, ..v.. v... 

Có thể nói rằng, những tài liệu thống kê trong cách nhìn nào đó, đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh khắc họa hình ảnh Cộng Ðồng Việt Nam non trẻ qua những con số sau đây tính đến năm 2000:

- Về dân số, là 1.122.528 người. Trong số này, có 80.5% sống trong 293.621 đơn vị gia cư, và mỗi đơn vị gia cư có từ 3 nhân khẩu trở lên. Số đơn vị gia cư do người Việt Nam làm chủ là 54%. 

- Về khu vực cư trú. Có 70% người trong tổng số của Cộng Ðồng qui tụ vào 20 

thành phố lớn, và 30 thành phố cỡ vừa.

- Về hội nhập công dân. Có 57.9% đã nhập quốc tịch Hoa Kỳ, và 23.9% chào đời trên đất nước Hoa Kỳ. 

- Về học vấn. Trong số 693.441 người từ 25 tuổi trở lên, có 19.1% tốt nghiệp trung học, 7.7% tốt nghiệp đại học hai năm, 14.5% tốt nghiệp đại học bậc cử nhân, và 4.9% tốt nghiệp bậc cao học. Nếu tính ra số lượng, chúng ta có 183.362 chuyên viên chuyên gia trung cấp và cao cấp, bao gồm:

7.7% hay là 49.236 người tốt nghiệp đại học 2 năm.

14.5% hay là 100.548 người tốt nghiệp đại học 4 năm.

4.9% hay là 33.578 người tốt nghiệp cao học.

Trên đây là con số thống kê đến năm 2000 và chỉ riêng tại Hoa Kỳ mà thôi. Nhưng những năm sau năm 2000, số tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại tốt nghiệp bậc đại học ngày càng nhiều thêm, và nay là năm 2006, số lượng đó có thể tin được là trên dưới 230.000 trí thức. Và nếu cộng thêm tuổi trẻ tại các quê hương thứ hai ngoài Hoa Kỳ, thì Cộng Ðồng Việt Nam chúng ta trên khắp thế giới cũng đến con số 300.000 trí thức. 

Cũng có thể chúng ta ước tính trên căn bản gia đình chăng? Theo đó, cứ trung bình mỗi gia đình có 1 người tốt nghiệp đại học, thì 293.621 gia đình chúng ta từ 3 người trở lên tại Hoa Kỳ có 293.621 trí thức. Nếu phỏng tính theo cách này thì Cộng Ðồng Việt Nam trên khắp thế giới, có thể có trên 350.000 trí thức. 

- Về kinh tế. Có 97.784 cơ sở kinh doanh thương mãi và dịch vụ do Việt Nam làm chủ, với doanh thu hằng năm là 6.768.000.000 mỹ kim (6 tỷ 768 triệu). Nếu tính riêng những cỡ sở kinh doanh thương mại và dịch vụ có thuê nhân công, thì có 18.948 cơ sở với số công nhân là 79.035 người, và tiền lương phải trả hằng năm là 1.165.000.000 mỹ kim (1 tỷ 165 triệu). 

- Về lợi tức của 293.621 gia đình hằng năm, ước tính khoảng 18.641.000.000 (18 tỷ 641 triệu) mỹ kim, bao gồm:

27.4% hay là 89.452 gia đình có lợi tức dưới 25.000 mỹ kim. Nếu chấp nhận trung bình 20.000 mỹ kim, thì 89.452 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 789 triệu. 

27.2% hay là 79.864 gia đình có lợi tức từ 25.000 đến dưới 50.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 35.000 mỹ kim, thì 79.864 gia đình có lợi tức chung là 2 tỷ 795 triệu. 

31.3% hay là 91.903 gia đình có lợi tức từ 50.000 đến dưới 100.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 75.000 MK, thì 91.903 gia đình có lợi tức chung là 6 tỷ 892 triệu. 

12.3% hay là 36.115 gia đình có lợi tức từ 100.000 đến dưới 200.00 MK. Nếu chấp nhận trung bình 150.000 MK, thì 36.115 gia đình có lợi tức chung là 5 tỷ 417 triệu. 

1.8% hay là 5.825 gia đình có lợi tức từ 200.000 MK trở lên. Nếu chấp nhận trung bình 300.000 MK, thì 5.825 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 747 triệu MK. 

Trên đây chỉ ước tính 80.5% trong tổng số 1.122.528 người sống trong 293.621 đơn vị gia cư từ 3 người trở lên, như vậy còn lại 19.5% hay là 218.892 người sống trong chung cư hoặc trong những căn phòng hay thuê phòng trong những nhà riêng, tạm gọi là "tiểu gia cư" một người hay hai người. Nếu sử dụng lợi tức tối thiểu "đầu người hằng năm" ngang bằng số trợ cấp an sinh xã hội 500 mỹ kim/tháng của chánh phủ liên bang, chúng ta có lợi tức chung của 218.892 người là 1 tỷ 313 triệu mỹ kim 

Một cách tổng quát, nếu chúng ta gộp chung lại doanh thu của cơ sở kinh doanh thương mãi dịch (6 tỷ 768 triệu) với lợi tức chung của gần 300 ngàn gia đình, thì lợi tức của Cộng Ðồng Việt Nam chúng ta tại Hoa Kỳ trong năm 2000 vào khoảng 26 tỷ mỹ kim (tính theo số tròn). 

Trên đây chỉ mới ước tính tổng lợi tức của Cộng Ðồng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Từ ước tính này, ước tính một cách tổng quát về tổng lợi tức của Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại trong năm 2004 có thể từ 30 đến 35 tỷ mỹ kim, là trong khả năng có thể có của Cộng Ðồng chúng ta. Bởi, chánh phủ cộng sản Việt Nam công bố con số 3 tỷ mỹ kim -khoảng 10% của tổng lợi tức- do Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại gởi về Việt Nam trong năm 2004 giúp thân nhân thân quyến, từ đó dễ dàng chấp nhận con số tổng lợi tức ước tính nói trên./. 

Houston, tháng 4 năm 2005
Bổ túc tháng 8 năm 2006
Phạm Bá Hoa (khóa 5)


 
Đầu trang