4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức

Biên Khảo

Quan niệm
Công Viên Văn Hóa Việt Nam
Phạm Bá Hoa

Có dịp đến các trường tiểu học, trung học, và đại học, nếu quan tâm một chút, chúng ta sẽ rất hài lòng khi nhìn thấy con cháu chúng ta -nói chung là tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại- hòa nhập một cách tự nhiên vào các cộng đồng bạn cùng trang lứa. Chúng cùng nhau học hành trong lớp, cùng vui đùa trên sân bãi, cùng múa hát trong các lễ hội của trường, cùng tham gia các sinh hoạt cộng đồng. Ngoài cộng đồng bản xứ, các cộng đồng bạn từ nhiều quốc gia trên thế giới có mặt trên đất nước này với những lý do khác nhau, trong đó có cộng đồng Việt Nam chúng ta, cùng hòa nhập vào nếp sống văn hóa xã hội nơi đây. Tất cả cùng học một ngôn ngữ, đó là Anh ngữ. Và cho đến nay, Anh ngữ vẫn là ngôn ngữ thông dụng nhất thế giới.

Với chính sách giáo dục công lập hết bậc trung học của chánh phủ liên bang Hoa Kỳ, con cháu chúng ta có từ 14 năm đến 21 năm, hay hơn nữa, tùy thuộc những cố gắng riêng của tuổi trẻ Việt Nam, để trau dồi Anh ngữ và tiếp thu kiến thức ngày càng phát triển do nền giáo dục nơi đây cung ứng. Một nền giáo dục mà cho đến nay, vẫn được đánh giá là bậc nhất thế giới về "khoa học kỹ thuật" trong một xã hội có nhiều cơ hội tiến thân cho mọi người hơn bất cứ xã hội nào khác.

Như vậy, cùng với tuổi trẻ nơi đây, tuổi trẻ Việt Nam được "trang bị một kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến bao gồm tổ chức và quản trị xã hội". Nhưng đó mới là "một nửa hành trang vào đời của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại".

1. BỐI CẢNH SINH HOẠT VĂN HÓA.

Trong những ngày cuối tháng 4.1975, khi quân cộng sản miền Bắc có tên gọi là "nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" xua toàn bộ quân chính qui tràn qua biên giới (vĩ tuyến 17) giữa hai quốc gia Nam Bắc, đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Hằng trăm ngàn dân sự, quân nhân, cán bộ, và viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Hòa, ồ ạt chạy sang Hoa Kỳ tị nạn. Rồi từ đó, người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ còn lại trên quê hương, không thể sống nổi dưới sự cai trị nghiệt ngã của chế độ cộng sản độc tài, nên phải tìm đường chạy trốn đến các quốc gia tự do xin tị nạn. Cuộc chạy trốn này liên tục trong 25 năm cuối của thế kỷ 20, đã tạo nên cuộc chạy trốn vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, cũng là thảm cảnh thương tâm nhất của nhân loại trong thế kỷ 20! "Phải lao vào cõi chết để tìm cuộc sống tự do" dù hi vọng ấy quá đỗi mong manh, bằng cách lén lút len lời qua núi cao rừng rậm trên lãnh thổ Việt Nam, Cam Bốt, vượt qua biên giới vào vương quốc Thái Lan. Bằng cách luồn lách lặn lội qua các ngõ ngách để đến địa điểm vắng vẻ, lên những chiếc tàu thuyền bé bỏng trong những đêm tăm tối vượt ra hải phận quốc tế vùng Biển Ðông và vùng Vịnh Thái Lan, lênh đênh chờ các thương thuyền quốc tế cứu vớt. Với cuộc chạy trốn mà tỉ lệ nguy hiểm rất cao, cao đến mức không ai đủ tự tin là mình sẽ thoát được. Và theo ước lượng, trong số khoảng 1 triệu rưỡi người vượt biên vượt biển, có nhiều trăm ngàn bị chết mất xác giữa rừng sâu, trong lòng biển.

Do vậy, thật dễ dàng để mà khẳng định rằng: "Với bản chất độc tài, nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam áp dụng chính sách cai trị nghiệt ngã, là nguyên nhân cuộc chạy trốn dài lâu nhất, xa xôi nhất, và bi thảm nhất trong lịch sử! Ðó chính là câu giải đáp rõ ràng nhất và bi thương nhất nếu bất kỳ ai hỏi "Vì sao mà cộng đồng Việt Nam chúng ta có mặt trên đất nước này?" Chúng ta có trách nhiệm giúp con cháu chúng ta, nhất là những thế hệ sinh ra, lớn lên, và làm việc trên đất nước Hoa Kỳ (hay bất cứ quốc gia tự do nào khác), mang quốc tịch Hoa Kỳ (hay bất cứ quốc tịch nào khác), nhận thức được nguyên nhân đó và hãnh diện về nguồn gốc Việt Nam của mình trước các cộng đồng bạn, nhất là cộng đồng bản xứ.

Sau hơn 20 năm hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ, tháng 5 năm 1997, Quốc Hội Hoa Kỳ chánh thức công bố "ngày 11 tháng 5 hằng năm là Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam". Ðầu tháng 12 năm 1997, Hội Ðồng Thành Phố Houston chánh thức công bố, cộng đồng chúng ta là "Cộng đồng Việt Nam Tự Do Tị Nạn Cộng Sản". Trung tuần tháng 3 năm 1999, Ông Thị Trưởng thành phố Houston, chánh thức công bố "ngày 12 tháng 3 hằng năm là Ngày Nhân Quyền Cho Cộng Ðồng Việt Nam Tại Houston".

Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là một quốc gia được thành lập từ nhiều chủng tộc -nhất là từ Châu Âu- di dân đến lập nghiệp. Vì vậy mà xứ sở này thừa nhận xã hội đa chủng đa văn hóa, chung sống hòa đồng trong khuôn thước dân chủ pháp trị và tập quán mỗi cộng đồng. Mỗi chủng tộc có những cơ sở văn hóa riêng để cộng đồng miợnh tham gia sinh hoạt, giúp thăng bằng đời sống tâm linh và nếp sống văn hóa, góp phần tạo nên nét đa dạng trong đời sống văn hóa trên đất nước rộng lớn này. Việt Nam chúng ta là một trong những cộng đồng đó, một cộng đồng mà theo thống kê dân số năm 2000 là 1.122.528 người.

Tại Houston và phụ cận:

- Cộng đồng chúng ta tạo dựng được khoảng 35 cơ sở tôn giáo (nhà thờ, chùa, thiền viện, tịnh xá, thánh thất, ...v.. v..).

- Hội Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng qua các nhiệm kỳ từ 1996 đến 2002, thực hiện được 10 kỳ đài. Sau đó, một Ủy Ban thực hiện được một Tượng Ðài Việt Mỹ. Những công trình này tuy không đồ sộ, nhưng đã là biểu tượng rõ nét về sự có mặt của cộng đồng Việt Nam tị nạn cộng sản nơi đây.

- Các cơ sở tôn giáo cùng các tổ chức văn hóa xã hội, tổ chức và điều hành những lớp học dành cho các con các cháu chúng ta, học nói và viết tiếng Việt.

- Dần dần, nét đặc thù qua những lễ hội của chúng ta được tổ chức đều đặn hằng năm, thật sự góp phần quan trọng trong cố gắng gìn giữ nét đẹp trong văn hóa dân tộc trên đất nước định cư. Ðặc biệt là chiếc áo dài Việt Nam, tưởng như sẽ không còn cơ hội sử dụng từ cuộc di tản năm 1975, nhưng ngày nay sự xuất hiện ngày càng nhiều trong các lễ hội, đã tạo thêm nét duyên dáng của phụ nữ nói chung và thiếu nữ Việt Nam nói riêng đối với các cộng đồng bạn.

Những gì đã làm được, đã tạo dựng được, những gì sẽ làm và sẽ tạo dựng, đều xuất phát từ tinh thần trách nhiệm mà mỗi người trong cộng đồng chúng ta tự thấy và chung tay góp sức thực hiện. Bởi lẽ, cộng đồng chúng ta tự hình hành và tự phối hợp trong các công trình, cũng như các lễ hội ích lợi thiết thực cho sinh hoạt văn hóa xã hội trong cộng đồng, cũng là góp phần phát huy văn hóa dân tộc. Trong cuộc sống nơi đây, chẳng may, một cộng đồng nào đó mất cội nguồn văn hóa dân tộc, cộng đồng đó không còn chỗ đứng giữa các cộng đồng bạn, và bị chìm sâu trong cộng đồng bản xứ, và "mất cội nguồn"!

Nhìn chung, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng chúng ta đã khởi sắc sau một thời gian cần thiết để ổn định cuộc sống. Chúng ta có quyền hãnh diện về những gì đã làm được. Nhưng, rõ ràng là chưa đủ để thể hiện dòng lịch sử về "Ðất nước, Con người, Văn hóa Việt Nam", và đây là một trong những cách thực tiễn giúp tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, trang bị thêm phần kiến thức lịch sử và văn hóa dân tộc trong hành trang vào đời. Ðồng thời, tạo điều kiện cho người bản xứ Hoa Kỳ cũng như các cộng đồng bạn, khi đến thăm công viên -trong một mức độ nào đó- hiểu được cội nguồn và sức sống của dân tộc Việt Nam. Và cũng hiểu được, vì sao cộng đồng chúng ta có mặt trên đất nước Hoa Kỳ, và đã góp phần đáng kể trong mức phát triển chung của xứ sở này.

Tôi nghĩ, cộng đồng chúng ta cần tạo được một cơ sở có khả năng như vậy, hay ít ra cũng gần như vậy.

2. MỤC ÐÍCH.

Xây dựng một "Công Viên Văn Hóa Việt Nam" bao gồm nhiều công trình khác nhau, mà trong đó, ngôi đền thờ là công trình trọng tâm. Tất cả các công trình, có khả năng dựng lại một cách khái quát về "dòng lịch sử vẻ vang của Tổ quốc, sức sống mãnh liệt của Dân tộc, nếp sống đạo nghĩa của Xã Hội Việt Nam".

Trách nhiệm xây dựng công viên là do những cá nhân, những tổ chức, đoàn thể, tự nguyện dấn thân, mà động lực cao nhất và duy nhất là vì lợi ích thiết thân đối với những thế hệ nối tiếp chúng ta. Chẳng những giúp con cháu chúng ta không bao giờ quên mình là người Việt Nam, mà còn hãnh diện khi nói cho bất cứ ai đó hiểu rằng: "Tôi là người Việt Nam. Ông cha tôi đến đây tị nạn chính trị từ nửa vòng trái đất xa xôi, chỉ vì nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam cai trị với chế độ độc tài nghiệt ngã. Tôi sinh ra và lớn lên trên đất nước này, tôi luôn luôn làm đúng những gì mà Hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ qui định. Ðồng thời, tôi cũng hành động theo trách nhiệm và đạo lý của dân tộc Việt Nam, bởi nơi đó, là cội nguồn của tôi".

Với chủ đề "Dựng Lại Dòng Lịch Sử Việt Nam, biểu tượng qua Ðất nước, Con người, Văn hóa dân tộc", là một nửa mục tiêu còn lại mà chúng ta cần góp vào hành trang của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại.

3. GỢI Ý QUAN NIỆM CÔNG VIÊN.

Công viên không thuộc về bất cứ cá nhân, đoàn thể, hay tổ chức nào, mà là của tất cả người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Houston và phụ cận. Ðược quản trị bởi một "Ban Quản Trị Công Viên" do cộng đồng người Việt tự do bầu lên theo từng nhiệm kỳ với "Hội Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng" (hay một tổ chức tương tự sau này). Ðến khi nước Việt Nam được quản trị bởi một chế độ dân chủ tự do thật sự, Ban Quản Trị Công Viên vẫn là một tổ chức của cộng đồng Việt Nam tại Houston, nhưng vấn đề có chuyển giao quyền quản trị tài sản này cho cơ quan lãnh sự ngoại giao Việt Nam tại đây hay không, sẽ do cộng đồng và cơ quan ngoại giao quyết định.

a. Quan niệm tổng quát các công trình.

Gợi ý quan niệm toàn cảnh:

Khu đất khuôn viên hình vuông hoặc hình chữ nhật hay đại loại như vậy, bao quanh bởi hàng rào bằng cây trúc hoặc tre. Từ ngoài vào: Cổng tam quan. Bãi đậu xe. Hồ nước và chiếc cầu ngang hồ nước, và hồ này vòng qua bên góc trái. Phòng vé vào cửa. Từ đây nhìn vào khu giữa khuôn viên, có công trình Cụm tượng đài, công trình Kỳ đài với 3 lá cờ: Cờ liên bang, cờ Việt Nam Cộng Hòa, và cờ tiểu bang. Sau kỳ đài là công trình Ðền thờ. Sau đền thờ là khu triển lãm thành tựu của cộng đồng Việt Nam tị nạn hải ngoại, và mô tả ước vọng góp phần xây dựng quê hương Việt Nam thời hậu cộng sản. Góc phải phía trước của khuôn viên là các công trình Phòng chiếu băng phim video, Phòng bảo tàng, Phòng thư viện. Góc phải phía sau là công trình Khu sinh hoạt ngoài trời. Góc trái phía sau là công trình Phòng sinh hoạt và triển lãm, công trình Phòng nghỉ dành cho người trụ trì đền thờ và người bảo vệ công viên, Phòng bán vật dụng kỷ niệm và phim ảnh. Và góc bên trái phía trước là hồ nước từ cổng vòng qua đây. Công trình nhà thủy tạ, hồ có trồng hoa sen, hoa sún. Nối kết 4 góc với nhau bằng công trình những lối đi quanh co dưới rặng cây, vòng vèo qua những chiếc cầu hẹp ngang qua dòng nước róc rách. Lối đi có thể tráng nhựa hay lót đá sạn. Tạo cảnh trí cho khách quay phim chụp ảnh kỷ niệm. Bốn góc khuôn viên, có thể tạo nên 4 khu hoa kiểng của 4 mùa.

b. Quan niệm công trình trọng tâm.

Công trình trọng tâm là đền thờ:

(1) Ba phía bên trong đền thờ (không tính phía từ cửa chánh vào), từ trong vách ra khoảng 5 feet là bàn thờ. Trên bàn thờ, từ cửa chánh nhìn thẳng vào, chính giữa là thờ Vua Hùng có công dựng nước với pho tượng nguyên người (nếu được). Dọc hai bên, có những tượng bán thân nhỏ của những vị anh hùng có công mở nước và giữ nước. Ngay trước mỗi bức tượng, có tập tài liệu song ngữ, trích lược về bối cảnh lịch sử thời ấy, tiểu sử, và thành tích của vị anh hùng. Ngoài ra còn có di ảnh, bài vị riêng, bài vị chung, của tất cả những vị hay toàn thể chiến sĩ trong từng bối cảnh lịch sử (nếu được). Ðền thờ là nơi thờ phượng vua Hùng dựng nước, thờ tất cả những anh hùng trong lịch sử cận đại đã mở nước, thờ Dân-Quân-Cán-Chánh Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh trong chiến tranh giữ nước, đã tuẫn tiết trong ngày kết thúc giai đoạn chiến tranh 1954 -1975, đã chết trong các trại tù cộng sản, đã chết trên đường vượt biên vượt biển, đã chết tại các quốc gia tạm cư, chết trên đất nước Hoa Kỳ. Ngay phía sau đền thờ, có một phòng hầm dành cho đồng hương để các bình đựng tro cốt của thân nhân thờ phượng nơi đây hoặc chờ đem về Việt Nam.

(2) Toàn bộ bốn phía vách, từ bàn thờ lên đến trần, sẽ là những bức hoành tráng (khởi đầu là tranh vẽ, khi có tiền sẽ thực hiện bằng sơn mài) dựng lại dòng lịch sử Việt Nam từ thuở Vua Hùng dựng nước, lần lượt trải qua hằng ngàn năm mở nước giữ nước, từ trong lịch sử cận đại đến thời đương đại, cuộc chạy trốn cộng sản độc tài năm 1954-1955, cuộc di tản năm 1975, và cuộc chạy trốn trong 25 năm cuối của thế kỷ 20. Mỗi bức hoành tráng là một bối cảnh lịch sử và vị anh hùng trực tiếp. Nội dung những bức hoành tráng đó, trong khi chờ đợi những nhà sử học là những vị mà tôi nghĩ có đủ tư cách xác định nội dung từng bối cảnh lịch sử, tôi xin nêu lên như là một ý kiến nhỏ nhoi:

- Vua Hùng dựng nước.

- Hai Bà Trưng, chiến thắng Tô Ðịnh năm 40 sau tây lịch.

- Ông Ngô Quyền, chiến thắng trên sông Bạch Ðằng năm 938.

- Ðinh Tiên Hoàng, ổn định loạn sứ quân năm 968 và lên ngôi.

- Tướng Lý Thường Kiệt, chiến thắng Quảng Ðông trên đất Trung Hoa năm 1075.

- Vua Trần Thánh Tông, với hội nghị Diên Hồng năm 1284.

- Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, chiến thắng trên sông Bạch Ðằng năm 1288.

- Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, chiến thắng Ðống Ða và Thăng Long năm 1789.

- Ông Phan Thanh Giản, tuẫn tiết năm 1867 khi 3 tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp.

- Ông Phan Ðình Phùng, với 10 năm khởi nghĩa kháng Pháp 1886-1895.

- Ông Nguyễn Thái Học, với cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, chống thực dân Pháp.

- Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, với cuộc chạy trốn cộng sản của 1 triệu đồng bào miền Bắc vào Nam 1954.

- Tướng Ngô Quang Trưởng, với chiến thắng tại Huế năm 1968.

- Tướng Lê Văn Hưng, với chiến thắng An Lộc năm 1972.

- Hiệp Ðịnh Paris và quân cộng sản bao vây thủ đô Sài Gòn tháng 4.1975. (nêu bật bản chất tráo trở lật lọng của cộng sản VN).

- Cuộc di tản những ngày cuối tháng 4.1975.

- Năm Tướng lãnh và hằng trăm sĩ quan đã tuẫn tiết khi có lệnh buông súng ngày 30.4.1975 và ngay sau đó.

- Thảm cảnh chạy trốn cộng sản trong 25 năm cuối của thế kỷ 20.

- Cảnh lao tù khắc nghiệt, đọa đày Dân-Quân-Cán-Chánh Việt Nam Cộng Hòa trong 17 năm liên tục.

Ngôi nhà sau đền thờ:

- Bước đầu định cư của cộng đồng Việt Nam tại Houston.

- Những thành công của cộng đồng Việt Nam tại Houston.

- Ước vọng tương lai của Cộng Ðồng Việt Nam trên đất Mỹ, và ước vọng đối với quê hương Việt Nam thời hậu cộng sản.

Dưới mỗi bức hoành tráng, có tượng bán thân của vị anh hùng hoặc của tập thể, cùng với tập tài liệu song ngữ, tóm lược bối cảnh của giai đoạn lịch sử, tiểu sử, và thành tích của những vị anh hùng đó. Băng phim video (cũng như hướng dẫn viên) cần diễn giải ngắn gọn, nhưng đủ cho khách hiểu được bối cảnh lịch sử từ bức hoành tráng này đến bức hoành tráng kế tiếp.

Trường hợp khách cần được giải thích rõ hơn, cứ nhấc một trong ba ống nghe tự động với ngôn ngữ thích hợp trong ba ngôn ngữ Việt-Anh-Tây Ban Nha.

(3) Một bộ lịch sử Việt Nam viết bằng song ngữ, tóm lược từ thời lập quốc đến nay, do tham khảo sách báo và tài liệu khả tín. Cần ngắn, gọn, vừa đủ để khách thăm có được khái niệm về Ðất nước-Con người-Văn hóa Việt Nam.

(4) Một sa bàn bản đồ Việt Nam từ thời lập quốc, và qua từng thời đại mở mang bờ cõi xuống phương Nam. Sử dụng kỹ thuật điện tử, diễn đạt từng thời đại mở nước cùng với chân dung vị đứng đầu thời đại đó.

(5) Một sa bàn (khác) bản đồ Việt Nam, tóm lược "Ðất nước-Con người-Văn hóa-Cảnh trí Việt Nam", như: Sông Hồng cuồn cuộn chảy, Sông Hương với dòng nước chầm chậm, Sông Cửu Long màu nước đục chảy nhanh. Sử dụng kỹ thuật, tạo các dòng nước chảy như thật, con người với y phục và sinh hoạt nông thôn mỗi miền. Về cảnh trí, có vịnh Hạ Long, vùng núi Sa Pa, thành nội Huế, bãi Sa Huỳnh, vùng núi Ðà Lạt, vùng núi Pleiku Kontum, Mũi Cà Mau, đảo Phú Quốc, ..v.. v.. Khi diễn giải, có âm thanh ca nhạc thích hợp với sinh hoạt Nam Trung Bắc, hổ trợ cho lời diễn giải.

Cả hai sa bàn này (như loại bản đồ nổi) đặt ở vị trí cuối cùng, như là phần diễn giải tóm tắt cho khách dễ nhớ trước khi khách ra khỏi đền thờ.

c. Quan niệm chi tiết vài công trình khác.

(1) Công trình phòng bảo tàng.

Thu thập và gìn giữ những vật dụng, tranh vẽ, và những gì thuộc về vết tích của tất cả các lãnh vực sinh hoạt trong lịch sử, trong giai đoạn chiến tranh bảo vệ tổ quốc, kể cả những gì liên quan đến quân lực VNCH, đến cuộc di cư từ Bắc vào Nam 1954, cuộc di tản 1975, tù đày 1975-1992, vượt biên vượt biển từ năm 1975, và liên quan đến an cư lạc nghiệp tại Mỹ. Khả năng chính của phòng này là "thể hiện được lịch sử văn hóa Việt Nam, và phơi bày tội ác của các nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam".

(2) Công trình phòng thư viện.

Thư viện lưu giữ tất cả những sách báo, tài liệu, hồ sơ, của các lãnh vực sinh hoạt trong lịch sử, liên tục đến khi an cư lạc nghiệp tại Mỹ, tương tự như Phòng Bảo Tàng.

(3) Công trình tượng đài tưởng niệm.

Có thể có Tượng Tiếc Thương + Tượng Tù Nhân Chính Trị + Tượng Người Vượt Biển, tạo nên cụm tượng đài, hoặc mỗi tượng đài riêng rẽ.

(4) Công trình phòng sinh hoạt.

Công trình cần có khả năng chứa được vài trăm chỗ ngồi, dành cho các tổ chức hay những cá nhân cần hội họp, hoặc triển lãm, hay mở các lớp học cần thiết. Có được công trình này, sẽ giúp cho sinh hoạt của công viên thêm phần nhộn nhịp. Ðây là nơi thường xuyên triển lãm về tội ác của cộng sản Việt Nam.

(5) Công trình khu sinh hoạt ngoài trời.

Công trình này có khả năng thu hút các tổ chức thanh thiếu niên đến sinh hoạt hằng tuần, cũng như những buổi cắm trại của các tổ chức trong cộng đồng. Cũng giúp tạo nên không khí nhộn nhịp vào những cuối tuần hoặc những ngày nghỉ lễ.

(6) Công trình phòng bán vật dụng kỷ niệm.

Rất cần thiết để góp phần tạo quỹ điều hành cho Ban Quản Trị Công Viên.

d. Quan niệm thời gian thực hiện.

Ðây là dự án rất qui mô, cho nên tùy theo khả năng nhân sự và vận động phương tiện, có thể thực hiện từ 5 đến 10 năm hay lâu hơn nữa, kể từ khi thật sự bắt đầu. Thực hiện được quan niệm qua 5 giai đoạn, như sau:

- Giai đoạn 1, chuẩn bị. Giai đoạn này từ lúc Nhóm Vận Ðộng hình thành và thật sự hoạt động, đến khi hoàn tất mọi thủ tục pháp lý với lễ đặt viên đá đầu tiên xong. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ phải có một ngân khoản nào đó (theo điều kiện của cơ quan xây dựng thành phố) ký thác vào ngân hàng, để thành phố tin rằng chúng ta có khả năng thực hiện dự án.

- Giai đoạn 2, thực hiện. Xây dựng công trình đền thờ, vì công trình này cần nhiều thời gian trình bày trang trí bên trong, và trong khi trình bày trang trí, tạm sử dụng làm nơi sinh hoạt hội họp vào dịp cuối tuần vì diện tích rộng trong khi chờ đợi xây dựng Phòng sinh hoạt riêng. Trong cùng thời gian, tùy khả năng, công trình nào thực hiện được thì nên bắt đầu ngay, có thể là Cụm tượng đài.

Ngay trong giai đoạn này, nên có Nhóm tham mưu phụ trách dự thảo bản "Nội Quy". Nội Quy là văn kiện lập qui mà "Ban Quản Trị Công Viên" (BQTCV) sẽ căn cứ vào đây để điều hành công việc. Bản Nội Quy phải được "Hội Ðồng Hoạch Ðịnh & Giám Sát" (HÐHÐ&GS) và "Ủy Ban Xây Dựng" (UBXD) thông qua mới có giá trị. BQTCV sẽ do cộng đồng bầu chọn cùng lúc với bầu chọn Hội Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng (hay tổ chức tương tự), và nhiệm kỳ cũng cùng thời gian với Hội Ðồng này.

Nhưng trong thời gian xây dựng, khi cần quản trị một vài công trình hoàn tất, HÐHÐ&GS sẽ thành lập "BQTCV tạm thời" để tiếp nhận và quản trị, giúp giảm bớt trách nhiệm của HÐHÐ&GS và UBXD. Khi công trình đền thờ hoàn tất phần căn bản (được hiểu là bắt đầu hoạt động), và nếu đến kỳ bầu chọn HÐÐDCÐ, thì HÐHÐ&GS phối hợp để cùng lúc đồng hương bầu chọn BQTCV nhiệm kỳ đầu tiên. BQT tạm thời sẽ bàn giao trách nhiệm cho BQTCV được công bố hợp lệ sau cuộc bầu chọn.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên này, BQTCV, nên nghiên cứu soạn thảo một tài liệu tham mưu khác, rất cần thiết cho các thành viên trong BQTCV. Ðó là "Huấn Lệnh Ðiều Hành Căn Bản" (HLÐHCB). HLÐHCB là văn kiện hệ thống hóa từng công tác tham mưu căn bản của từng thành viên trong BQTCV. Tài liệu này có mục đích hướng dẫn bất cứ thành viên nào khi nhận trách nhiệm trong BQTCV, xem qua cũng hiểu được những việc phải làm, ít nhất cũng là phần căn bản, giúp giảm bớt những lúng túng có thể gặp phải.

Danh xưng của 3 tổ chức trên đây, chỉ là tôi tự đặt ra để có tên gọi sử dụng trong bài này mà thôi.

- Giai đoạn 3 và 4, thực hiện các công trình khác.

- Giai đoạn 5, hoàn chỉnh các công trình.

e. Quan niệm nhu cầu nhân sự

Ngoài thành phần tham mưu và quản trị, rất cần sự tham gia của các vị chuyên môn về: Kiến trúc. Ðiêu khắc. Họa sĩ. Ðiện và điện tử. Luật sư. Sử gia. Trang trí. Âm nhạc. Làm băng phim video. Bảo tàng. Thư viện. Thờ phượng. Còn cần thêm những vị thông thạo về thuế vụ, về vận động hội đồng thành phố và chánh quyền thông qua dự án và hỗ trợ phương tiện, vận động tài chánh trong cộng đồng, vận động các công ty hãng xưởng có nhiều nhân viên Việt Nam để họ nhận bảo trợ từng công trình hoặc từng phần công trình.

f. Quan niệm về tổ chức.

Tôi nghĩ là lúc khởi sự, cần có 2 tổ chức và tạm gọi như đã sử dụng ở phần trên:

- Một là, "Hội Ðồng Hoạch Ðịnh & Giám Sát" (HÐHÐ&GS). Trong Hội Ðồng này, có vị Chủ Tịch Ủy Ban Xây Dựng dự án. Hay nói cách khác, một trong những thành viên của Hội đồng, được bầu chọn vào trách nhiệm Ủy Ban Xây Dựng.

- Hai là, "Ủy Ban Xây Dựng Công Viên" (UBXDCV).

Tất cả tài liệu -kể cả phim ảnh- cũng như các biên bản mỗi lần họp, hay bản nháp viết tay, liên quan đến dự án công viên này từ khi khởi đầu cho đến khi hoàn tất, dù phải trải qua thời gian rất dài, đều phải lưu giữ cẩn thận để đưa vào thư viện. Ðây là những tài liệu chứng minh rất cần thiết về mọi diễn tiến -kể cả thu chi tài chánh- của dự án, và đây cũng là nơi lưu giữ cho những thế hệ mai sau hiểu được nỗ lực của thế hệ cha ông nhằm mục đích góp thêm trong hành trang vào đời cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, kiến thức lịch sử và văn hóa dân tộc, cội nguồn của con người Việt Nam.

Tôi quan niệm những trách nhiệm sau đây nên riêng biệt nhau: "Vận động tài chánh. Gìn giữ tài chánh (thủ quỹ). Xuất chi. Mua sắm vật liệu và thuê mướn máy móc dụng cụ. Tiếp nhận và sử dụng (xây dựng). Kiểm soát". Quan niệm này không có nghĩa là nghi ngờ, mà chính là sự minh bạch cần thiết ngay từ khởi sự công tác. Cũng là giúp những vị trách nhiệm, dễ dàng trong công tác quản trị của mình.

4. QUAN NIỆM VỀ HÀNH CHÁNH THAM MƯU.

a.Với chánh quyền.

Sự liên lạc với cơ quan hành chánh và chuyên môn của thành phố là rất cần thiết, để biết rõ những nguyên tắc và điều kiện liên quan đến việc hoàn thành mọi thủ tục pháp lý, trong đó có quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vĩnh viễn trên kỳ đài. Và khi hoàn tất, vận động ghi vào "danh sách thắng cảnh của thành phố Houston".

Có thể vận động với chánh quyền về vấn đề yểm trợ một ngân khoản nào đó cho công viên chăng? Vì đây sẽ là một thắng cảnh của thành phố.

b. Thủ tục mua sắm.

Mỗi nhu cầu mua sắm, cần được "khảo giá" hai hoặc ba nơi bán hàng tìm mua giá hạ, để công tác này được minh bạch và tiết kiệm trong chi tiêu.

c. Hồ sơ công tác.

Mỗi Ban trong Ủy Ban Xây Dựng, cần có một hồ sơ công tác, ít nhất là gồm:

- Sơ đồ tổ chức nhân sự và trách nhiệm từng người.

- Các công trình hay công tác của Ban, có ghi các công tác chính của từng công trình.

- Sổ nhật ký.

- Sổ nhận và sử dụng vật liệu.

- Hồ sơ lưu.

Toàn bộ hồ sơ công tác này, sẽ bàn giao cho BQTCV sau khi công trình hoàn tất, để phiên dịch sang Anh ngữ và lưu trữ trong Phòng thư viện.

d. Các công trình.

Nên mô tả dưới dạng một "hoạch đồ thiết kế và quản trị công trình" cho mỗi công trình. Trong hoạch đồ đó, diễn đạt từng công tác hoặc từng nhóm công tác trong thời gian dự liệu thực hiện, đồng thời có ghi những điều chỉnh cần thiết. Với hoạch đồ này, bất cứ ai cần theo dõi cũng dễ nhận thấy các công tác dự liệu và mức tiến triển của công tác.

e. Sổ nhật ký.

Sổ này dùng ghi chép diễn tiến công tác "trong ngày có làm việc", kể cả những trở ngại và những thay đổi cần thiết, nếu có. Sổ sẽ giúp cho bất cứ ai có trách nhiệm hoặc quí vị mạnh thường quân muốn biết thu chi, và các công tác đã hoặc đang thực hiện. Sổ này là dựa theo "Hoạch đồ thiết kế và quản trị công trình" được tóm tắt lại.

5. QUAN NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM.

a. HÐHÐ&GS, trách nhiệm:

- Toàn bộ dự án, từ vận động nhân sự, đất đai, họa đồ, đến vận động tài chánh, vận động phương tiện.

- Hoàn tất mọi thủ tục pháp lý và tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên.

- Thành lập UBXD.

- Theo dõi thực hiện và giải quyết những trở ngại.

- Dự thảo và thông qua Nội Quy điều hành của BQTCV.

- Thành lập BQTCV tạm thời.

- Phối hợp với Ban Bầu Cử HÐÐDCÐ, để đồng hương cử tri bầu chọn BQTCV nhiệm kỳ đầu tiên.

- Chủ tọa bàn giao công trình hoàn tất cho BQTCV.

- Tổ chức lễ khánh thành công viên.

- Thiết lập và giữ gìn "Những quyển sổ vàng", với những ghi chép cẩn thận bất cứ cá nhân hay tổ chức ủng hộ tài chánh, vật liệu, động sản, bất động sản. Khi hoàn tất, bàn giao cho BQTCV lưu trữ trong thư viện, sau khi có một bảng vàng ghi chép tương tự để ở phòng chiếu băng phim video.

- Trong suốt thời gian thực hiện, vào mỗi thời gian định kỳ hằng tháng hoặc 3 tháng, công bố về tài chánh và công tác thực hiện cùng những khó khăn trở ngại và cách giải quyết. Việc công bố này xin các đài phát thanh và báo chí trợ giúp phổ biến miễn phí. Ngoài ra, cũng nên tổ chức những diễn đàn công cộng để tường trình với đồng hương, và tham khảo ý kiến cần thiết để cải tiến công tác.

- Trở thành "Hội Ðồng Sáng Lập" và "Ban Cố Vấn" cho BQTCV Văn Hóa Việt Nam Houston.

b. UBXD trách nhiệm.

- Tiếp nhận vật liệu, kế toán, thực hiện công trình, đề nghị thay đổi cần thết.

- Bàn giao cho BQTCV (tạm thời hoặc chánh thức) sau khi mỗi công trình hoàn tất.

- Cùng HÐHÐ&GS, thông qua Nội Quy điều hành của BQTCV.

- Bàn giao toàn bộ hồ sơ cho BQTCV (chánh thức) lưu trữ trong thư viện./.

Houston, mùa thu 1997
Bổ túc 2001, 2003, 2007
Phạm Bá Hoa
Phụ trách công tác tham mưu

Viết thêm cho vẹn tròn sau trước.

Năm 1996 (?) nhân dịp chùa Ông Bổn khánh thành, anh Tân -chủ nhân nhà hàng Kim Sơn 2- nói với anh Võ Văn Thạnh -chủ nhân nhà sách Ngày Nay- rằng: "Ông Bổn còn có được ngôi chùa để thờ, tại sao những ông Tướng và các sĩ quan mình đã tuẫn tiết ngày 30 tháng 4 năm 1975, lại không được chúng ta thờ? Anh em mình vận động cất ngôi đền để thờ các Ông cũng được chớ?" -

Anh Thạnh hoàn toàn ủng hộ ý kiến đó. Mấy hôm sau, tôi đến mua sách, anh Thạnh thuật lại, và anh nói thêm: "Anh Hoa, tụi mình mời anh em bạn bè thực hiện mục đích này đi. Tôi thấy ý kiến anh Tân hay lắm".

Tôi đồng ý cả hai tay, và tôi đề nghị: "Phần tôi sẽ phác thảo một quan niệm sơ khởi cung cấp cho anh. Phần anh, anh quen biết nhiều bạn gần xa, anh tùy nghi vừa gợi ý vừa tham khảo các bạn. Dần dần hình thành một nhóm và có thêm ý kiến, rồi từng bước tiến đến. Anh nghĩ sao?" Anh Thạnh đồng ý ngay.

Quan niệm sơ khởi chỉ là ngôi đền thờ như ý kiến anh Tân. Khi mang bản thảo đến anh Thạnh, tôi đề nghị thêm: "Nếu như có được ngôi đền, tại sao chỉ thờ riêng quí vị tuẫn tiết khi cộng sản chiếm Việt Nam Cộng Hòa, mà không thờ tất cả Dân-Quân-Cán-Chánh đã hi sinh trong suốt cuộc chiến chống cộng sản xâm lăng?"

Anh Thạnh đồng ý luôn, và tiếp lời: "Vậy thì mình thờ từ vua Hùng dựng nước đến những anh hùng trong lịch sử nữa".

"Ý kiến hay". Tôi xin thêm: "Mình thờ tất cả những vị đã chết trong tù, chết trên đường vượt biên vượt biển, và chết nơi đây nữa".

Thấy ý kiến phát biểu càng lúc càng có lý, anh Thạnh mời anh Tân sang (cách anh mấy căn). Nghe thuật lại, anh Tân hưởng ứng liền. Thế là chúng tôi đồng ý một quan niệm như vậy. Trong khi phác thảo lại, tôi chợt nghĩ: "Ðã vậy thì nên tiến đến một công viên văn hóa, trong đó có nhiều công trình mà ngôi đền là công trình chính. Và tôi nêu lên chủ đề cho công viên là "Dựng Lại Dòng Lịch Sử Việt Nam biểu tượng qua Ðất Nước-Con Người- Văn Hóa". Anh Tân và anh Thạnh đồng ý quan niệm này. Thế là bản phác thảo được viết lại lần 3 với nội dung như trên.

Vài tháng sau đó, nhóm bạn chúng tôi được hình thành gồm 12 anh chị: "Trần Văn Tân, Vờ Văn Thạnh, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Phước Trang, Nguyễn Tài Lâm, và tôi (Phạm Bá Hoa). Dần dần có thêm các anh chị: Nguyễn Như Nguyên, Võ Minh Thế, và Ðào Lê Minh Khải.

Trong khi phân công vận động nhân sự để tiến đến tổ chức (1997), có một nhóm bạn công bố trong buổi họp của các bạn ấy, theo đó thì các bạn này đã có kế hoạch rồi (mà thật ra các bạn ấy đưa kế hoạch của chúng tôi ra bàn thảo), cũng có cả khu đất xây dựng đền thờ nữa, và cho biết là tuần lễ kế tiếp sẽ quan sát khu đất để tiến hành. Các bạn ấy chỉ trích chúng tôi có ý như đưa ra kế hoạch mà các bạn ấy đã sẵn sàng. Thế là chúng tôi họp mặt nhau và quyết định giải tán, vì kế hoạch đã có các bạn khác thực hiện và chờ xem mình có thể tham gia được gì. Nhưng từ ấy đến nay, hoàn toàn không có gì hết.

Tuy giải tán, nhưng đến nay tôi vẫn lưu giữ đầy đủ tất cả những biên bản viết tay lẫn đánh máy, cùng với bộ hồ sơ 21 slides chiếu trên vugraph dự trù sử dụng khi trình bày vận động dư luận và vận động nhân sự, trước khi vận động tài chánh. Ngoài ra, chúng tôi cũng được Ủy Ban Xây Dựng Kỳ Ðài ở San Jose cung cấp đầy đủ tài liệu về vận động xây dựng kỳ đài ở đó, kể cả thư của Bộ Ngoại Giao cho biết "không trở ngại" về việc treo quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta trên kỳ đài San Jose lúc ấy.

Ước vọng của nhóm chúng tôi về công trình qui mô này vẫn còn đó, biết đâu khi cơ duyên chợt đến, sẽ được thực hiện.

Nhân nhắc chuyện khởi đầu quan niệm của bài viết này, cũng xin nhắc lại tấm lòng của anh chị Ðỗ Hiển Ðiện qua sự giới thiệu của anh chị Nguyễn Phước Trang, đã hướng dẫn nhóm chúng tôi đến xem khu đất mà anh chị Ðiện sẵn lòng tặng khoảng 3 mẫu (trong số hơn 10 mẫu) gồm cả cái hồ rất đẹp, tọa lạc sát đường E. Mount Houston để xây dựng ngôi đền. Một lần nữa, với tư cách người phụ trách soạn thảo kế hoạch, trân trọng cám ơn anh chị Trang và anh chị Ðiện đã rất nhiệt tình về một công trình không có mặt nổi nhưng có chiều sâu của cuộc sống, dù là công trình bỏ dở khi còn trên trang giấy./.

Phạm Bá Hoa
 

Đầu trang