| Có dịp đến các trường tiểu
học, trung học, và đại học, nếu quan tâm một chút, chúng
ta sẽ rất hài lòng khi nhìn thấy con cháu chúng ta -nói chung
là tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại- hòa nhập một cách tự
nhiên vào các cộng đồng bạn cùng trang lứa. Chúng cùng nhau
học hành trong lớp, cùng vui đùa trên sân bãi, cùng múa hát
trong các lễ hội của trường, cùng tham gia các sinh hoạt
cộng đồng. Ngoài cộng đồng bản xứ, các cộng đồng bạn
từ nhiều quốc gia trên thế giới có mặt trên đất nước
này với những lý do khác nhau, trong đó có cộng đồng Việt
Nam chúng ta, cùng hòa nhập vào nếp sống văn hóa xã hội
nơi đây. Tất cả cùng học một ngôn ngữ, đó là Anh ngữ.
Và cho đến nay, Anh ngữ vẫn là ngôn ngữ thông dụng nhất
thế giới.
Với chính sách giáo dục công lập
hết bậc trung học của chánh phủ liên bang Hoa Kỳ, con cháu
chúng ta có từ 14 năm đến 21 năm, hay hơn nữa, tùy thuộc
những cố gắng riêng của tuổi trẻ Việt Nam, để trau dồi
Anh ngữ và tiếp thu kiến thức ngày càng phát triển do nền
giáo dục nơi đây cung ứng. Một nền giáo dục mà cho đến
nay, vẫn được đánh giá là bậc nhất thế giới về "khoa
học kỹ thuật" trong một xã hội có nhiều cơ hội tiến
thân cho mọi người hơn bất cứ xã hội nào khác.
Như vậy, cùng với tuổi trẻ nơi
đây, tuổi trẻ Việt Nam được "trang bị một kiến thức
khoa học kỹ thuật tân tiến bao gồm tổ chức và quản trị
xã hội". Nhưng đó mới là "một nửa hành trang vào đời
của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại".
1. BỐI CẢNH SINH HOẠT VĂN HÓA.
Trong những ngày cuối tháng 4.1975,
khi quân cộng sản miền Bắc có tên gọi là "nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa" xua toàn bộ quân chính qui tràn qua biên
giới (vĩ tuyến 17) giữa hai quốc gia Nam Bắc, đánh chiếm
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Hằng trăm ngàn dân sự, quân nhân,
cán bộ, và viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Hòa, ồ ạt
chạy sang Hoa Kỳ tị nạn. Rồi từ đó, người dân Việt
Nam Cộng Hòa cũ còn lại trên quê hương, không thể sống
nổi dưới sự cai trị nghiệt ngã của chế độ cộng sản
độc tài, nên phải tìm đường chạy trốn đến các quốc
gia tự do xin tị nạn. Cuộc chạy trốn này liên tục trong
25 năm cuối của thế kỷ 20, đã tạo nên cuộc chạy trốn
vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, cũng là thảm cảnh
thương tâm nhất của nhân loại trong thế kỷ 20! "Phải lao
vào cõi chết để tìm cuộc sống tự do" dù hi vọng ấy quá
đỗi mong manh, bằng cách lén lút len lời qua núi cao rừng
rậm trên lãnh thổ Việt Nam, Cam Bốt, vượt qua biên giới
vào vương quốc Thái Lan. Bằng cách luồn lách lặn lội qua
các ngõ ngách để đến địa điểm vắng vẻ, lên những
chiếc tàu thuyền bé bỏng trong những đêm tăm tối vượt
ra hải phận quốc tế vùng Biển Ðông và vùng Vịnh Thái
Lan, lênh đênh chờ các thương thuyền quốc tế cứu vớt.
Với cuộc chạy trốn mà tỉ lệ nguy hiểm rất cao, cao đến
mức không ai đủ tự tin là mình sẽ thoát được. Và theo
ước lượng, trong số khoảng 1 triệu rưỡi người vượt
biên vượt biển, có nhiều trăm ngàn bị chết mất xác giữa
rừng sâu, trong lòng biển.
Do vậy, thật dễ dàng để mà khẳng
định rằng: "Với bản chất độc tài, nhóm lãnh đạo cộng
sản Việt Nam áp dụng chính sách cai trị nghiệt ngã, là nguyên
nhân cuộc chạy trốn dài lâu nhất, xa xôi nhất, và bi thảm
nhất trong lịch sử! Ðó chính là câu giải đáp rõ ràng nhất
và bi thương nhất nếu bất kỳ ai hỏi "Vì sao mà cộng đồng
Việt Nam chúng ta có mặt trên đất nước này?" Chúng ta có
trách nhiệm giúp con cháu chúng ta, nhất là những thế hệ
sinh ra, lớn lên, và làm việc trên đất nước Hoa Kỳ (hay
bất cứ quốc gia tự do nào khác), mang quốc tịch Hoa Kỳ
(hay bất cứ quốc tịch nào khác), nhận thức được nguyên
nhân đó và hãnh diện về nguồn gốc Việt Nam của mình trước
các cộng đồng bạn, nhất là cộng đồng bản xứ.
Sau hơn 20 năm hội nhập vào xã
hội Hoa Kỳ, tháng 5 năm 1997, Quốc Hội Hoa Kỳ chánh thức
công bố "ngày 11 tháng 5 hằng năm là Ngày Nhân Quyền Cho Việt
Nam". Ðầu tháng 12 năm 1997, Hội Ðồng Thành Phố Houston chánh
thức công bố, cộng đồng chúng ta là "Cộng đồng Việt
Nam Tự Do Tị Nạn Cộng Sản". Trung tuần tháng 3 năm 1999,
Ông Thị Trưởng thành phố Houston, chánh thức công bố "ngày
12 tháng 3 hằng năm là Ngày Nhân Quyền Cho Cộng Ðồng Việt
Nam Tại Houston".
Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là một
quốc gia được thành lập từ nhiều chủng tộc -nhất là
từ Châu Âu- di dân đến lập nghiệp. Vì vậy mà xứ sở
này thừa nhận xã hội đa chủng đa văn hóa, chung sống hòa
đồng trong khuôn thước dân chủ pháp trị và tập quán mỗi
cộng đồng. Mỗi chủng tộc có những cơ sở văn hóa riêng
để cộng đồng miợnh tham gia sinh hoạt, giúp thăng bằng
đời sống tâm linh và nếp sống văn hóa, góp phần tạo nên
nét đa dạng trong đời sống văn hóa trên đất nước rộng
lớn này. Việt Nam chúng ta là một trong những cộng đồng
đó, một cộng đồng mà theo thống kê dân số năm 2000 là
1.122.528 người.
Tại Houston và phụ cận:
- Cộng đồng chúng ta tạo dựng
được khoảng 35 cơ sở tôn giáo (nhà thờ, chùa, thiền viện,
tịnh xá, thánh thất, ...v.. v..).
- Hội Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng
qua các nhiệm kỳ từ 1996 đến 2002, thực hiện được 10
kỳ đài. Sau đó, một Ủy Ban thực hiện được một Tượng
Ðài Việt Mỹ. Những công trình này tuy không đồ sộ, nhưng
đã là biểu tượng rõ nét về sự có mặt của cộng đồng
Việt Nam tị nạn cộng sản nơi đây.
- Các cơ sở tôn giáo cùng các tổ
chức văn hóa xã hội, tổ chức và điều hành những lớp
học dành cho các con các cháu chúng ta, học nói và viết tiếng
Việt.
- Dần dần, nét đặc thù qua những
lễ hội của chúng ta được tổ chức đều đặn hằng năm,
thật sự góp phần quan trọng trong cố gắng gìn giữ nét
đẹp trong văn hóa dân tộc trên đất nước định cư. Ðặc
biệt là chiếc áo dài Việt Nam, tưởng như sẽ không còn
cơ hội sử dụng từ cuộc di tản năm 1975, nhưng ngày nay
sự xuất hiện ngày càng nhiều trong các lễ hội, đã tạo
thêm nét duyên dáng của phụ nữ nói chung và thiếu nữ Việt
Nam nói riêng đối với các cộng đồng bạn.
Những gì đã làm được, đã tạo
dựng được, những gì sẽ làm và sẽ tạo dựng, đều xuất
phát từ tinh thần trách nhiệm mà mỗi người trong cộng đồng
chúng ta tự thấy và chung tay góp sức thực hiện. Bởi lẽ,
cộng đồng chúng ta tự hình hành và tự phối hợp trong các
công trình, cũng như các lễ hội ích lợi thiết thực cho
sinh hoạt văn hóa xã hội trong cộng đồng, cũng là góp phần
phát huy văn hóa dân tộc. Trong cuộc sống nơi đây, chẳng
may, một cộng đồng nào đó mất cội nguồn văn hóa dân
tộc, cộng đồng đó không còn chỗ đứng giữa các cộng
đồng bạn, và bị chìm sâu trong cộng đồng bản xứ, và
"mất cội nguồn"!
Nhìn chung, sinh hoạt văn hóa của
cộng đồng chúng ta đã khởi sắc sau một thời gian cần
thiết để ổn định cuộc sống. Chúng ta có quyền hãnh diện
về những gì đã làm được. Nhưng, rõ ràng là chưa đủ
để thể hiện dòng lịch sử về "Ðất nước, Con người,
Văn hóa Việt Nam", và đây là một trong những cách thực tiễn
giúp tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, trang bị thêm phần kiến
thức lịch sử và văn hóa dân tộc trong hành trang vào đời.
Ðồng thời, tạo điều kiện cho người bản xứ Hoa Kỳ cũng
như các cộng đồng bạn, khi đến thăm công viên -trong một
mức độ nào đó- hiểu được cội nguồn và sức sống của
dân tộc Việt Nam. Và cũng hiểu được, vì sao cộng đồng
chúng ta có mặt trên đất nước Hoa Kỳ, và đã góp phần
đáng kể trong mức phát triển chung của xứ sở này.
Tôi nghĩ, cộng đồng chúng ta cần
tạo được một cơ sở có khả năng như vậy, hay ít ra cũng
gần như vậy.
2. MỤC ÐÍCH.
Xây dựng một "Công Viên Văn Hóa
Việt Nam" bao gồm nhiều công trình khác nhau, mà trong đó,
ngôi đền thờ là công trình trọng tâm. Tất cả các công
trình, có khả năng dựng lại một cách khái quát về "dòng
lịch sử vẻ vang của Tổ quốc, sức sống mãnh liệt của
Dân tộc, nếp sống đạo nghĩa của Xã Hội Việt Nam".
Trách nhiệm xây dựng công viên
là do những cá nhân, những tổ chức, đoàn thể, tự nguyện
dấn thân, mà động lực cao nhất và duy nhất là vì lợi
ích thiết thân đối với những thế hệ nối tiếp chúng
ta. Chẳng những giúp con cháu chúng ta không bao giờ quên mình
là người Việt Nam, mà còn hãnh diện khi nói cho bất cứ
ai đó hiểu rằng: "Tôi là người Việt Nam. Ông cha tôi đến
đây tị nạn chính trị từ nửa vòng trái đất xa xôi, chỉ
vì nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam cai trị với chế độ
độc tài nghiệt ngã. Tôi sinh ra và lớn lên trên đất nước
này, tôi luôn luôn làm đúng những gì mà Hiến pháp và luật
pháp Hoa Kỳ qui định. Ðồng thời, tôi cũng hành động theo
trách nhiệm và đạo lý của dân tộc Việt Nam, bởi nơi đó,
là cội nguồn của tôi".
Với chủ đề "Dựng Lại Dòng Lịch
Sử Việt Nam, biểu tượng qua Ðất nước, Con người, Văn
hóa dân tộc", là một nửa mục tiêu còn lại mà chúng ta
cần góp vào hành trang của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại.
3. GỢI Ý QUAN NIỆM CÔNG VIÊN.
Công viên không thuộc về bất cứ
cá nhân, đoàn thể, hay tổ chức nào, mà là của tất cả
người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Houston và phụ cận.
Ðược quản trị bởi một "Ban Quản Trị Công Viên" do cộng
đồng người Việt tự do bầu lên theo từng nhiệm kỳ với
"Hội Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng" (hay một tổ chức tương
tự sau này). Ðến khi nước Việt Nam được quản trị bởi
một chế độ dân chủ tự do thật sự, Ban Quản Trị Công
Viên vẫn là một tổ chức của cộng đồng Việt Nam tại
Houston, nhưng vấn đề có chuyển giao quyền quản trị tài
sản này cho cơ quan lãnh sự ngoại giao Việt Nam tại đây
hay không, sẽ do cộng đồng và cơ quan ngoại giao quyết định.
a. Quan niệm tổng quát các công
trình.
Gợi ý quan niệm toàn cảnh:
Khu đất khuôn viên hình vuông hoặc
hình chữ nhật hay đại loại như vậy, bao quanh bởi hàng
rào bằng cây trúc hoặc tre. Từ ngoài vào: Cổng tam quan. Bãi
đậu xe. Hồ nước và chiếc cầu ngang hồ nước, và hồ
này vòng qua bên góc trái. Phòng vé vào cửa. Từ đây nhìn
vào khu giữa khuôn viên, có công trình Cụm tượng đài, công
trình Kỳ đài với 3 lá cờ: Cờ liên bang, cờ Việt Nam Cộng
Hòa, và cờ tiểu bang. Sau kỳ đài là công trình Ðền thờ.
Sau đền thờ là khu triển lãm thành tựu của cộng đồng
Việt Nam tị nạn hải ngoại, và mô tả ước vọng góp phần
xây dựng quê hương Việt Nam thời hậu cộng sản. Góc phải
phía trước của khuôn viên là các công trình Phòng chiếu
băng phim video, Phòng bảo tàng, Phòng thư viện. Góc phải phía
sau là công trình Khu sinh hoạt ngoài trời. Góc trái phía sau
là công trình Phòng sinh hoạt và triển lãm, công trình Phòng
nghỉ dành cho người trụ trì đền thờ và người bảo vệ
công viên, Phòng bán vật dụng kỷ niệm và phim ảnh. Và góc
bên trái phía trước là hồ nước từ cổng vòng qua đây.
Công trình nhà thủy tạ, hồ có trồng hoa sen, hoa sún. Nối
kết 4 góc với nhau bằng công trình những lối đi quanh co
dưới rặng cây, vòng vèo qua những chiếc cầu hẹp ngang qua
dòng nước róc rách. Lối đi có thể tráng nhựa hay lót đá
sạn. Tạo cảnh trí cho khách quay phim chụp ảnh kỷ niệm.
Bốn góc khuôn viên, có thể tạo nên 4 khu hoa kiểng của 4
mùa.
b. Quan niệm công trình trọng
tâm.
Công trình trọng tâm là đền thờ:
(1) Ba phía bên trong đền thờ (không
tính phía từ cửa chánh vào), từ trong vách ra khoảng 5 feet
là bàn thờ. Trên bàn thờ, từ cửa chánh nhìn thẳng vào,
chính giữa là thờ Vua Hùng có công dựng nước với pho tượng
nguyên người (nếu được). Dọc hai bên, có những tượng
bán thân nhỏ của những vị anh hùng có công mở nước và
giữ nước. Ngay trước mỗi bức tượng, có tập tài liệu
song ngữ, trích lược về bối cảnh lịch sử thời ấy, tiểu
sử, và thành tích của vị anh hùng. Ngoài ra còn có di ảnh,
bài vị riêng, bài vị chung, của tất cả những vị hay toàn
thể chiến sĩ trong từng bối cảnh lịch sử (nếu được).
Ðền thờ là nơi thờ phượng vua Hùng dựng nước, thờ tất
cả những anh hùng trong lịch sử cận đại đã mở nước,
thờ Dân-Quân-Cán-Chánh Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh trong
chiến tranh giữ nước, đã tuẫn tiết trong ngày kết thúc
giai đoạn chiến tranh 1954 -1975, đã chết trong các trại tù
cộng sản, đã chết trên đường vượt biên vượt biển,
đã chết tại các quốc gia tạm cư, chết trên đất nước
Hoa Kỳ. Ngay phía sau đền thờ, có một phòng hầm dành cho
đồng hương để các bình đựng tro cốt của thân nhân thờ
phượng nơi đây hoặc chờ đem về Việt Nam.
(2) Toàn bộ bốn phía vách, từ
bàn thờ lên đến trần, sẽ là những bức hoành tráng (khởi
đầu là tranh vẽ, khi có tiền sẽ thực hiện bằng sơn mài)
dựng lại dòng lịch sử Việt Nam từ thuở Vua Hùng dựng
nước, lần lượt trải qua hằng ngàn năm mở nước giữ
nước, từ trong lịch sử cận đại đến thời đương đại,
cuộc chạy trốn cộng sản độc tài năm 1954-1955, cuộc di
tản năm 1975, và cuộc chạy trốn trong 25 năm cuối của thế
kỷ 20. Mỗi bức hoành tráng là một bối cảnh lịch sử và
vị anh hùng trực tiếp. Nội dung những bức hoành tráng đó,
trong khi chờ đợi những nhà sử học là những vị mà tôi
nghĩ có đủ tư cách xác định nội dung từng bối cảnh lịch
sử, tôi xin nêu lên như là một ý kiến nhỏ nhoi:
- Vua Hùng dựng nước.
- Hai Bà Trưng, chiến thắng Tô Ðịnh
năm 40 sau tây lịch.
- Ông Ngô Quyền, chiến thắng trên
sông Bạch Ðằng năm 938.
- Ðinh Tiên Hoàng, ổn định loạn
sứ quân năm 968 và lên ngôi.
- Tướng Lý Thường Kiệt, chiến
thắng Quảng Ðông trên đất Trung Hoa năm 1075.
- Vua Trần Thánh Tông, với hội
nghị Diên Hồng năm 1284.
- Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn,
chiến thắng trên sông Bạch Ðằng năm 1288.
- Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, chiến
thắng Ðống Ða và Thăng Long năm 1789.
- Ông Phan Thanh Giản, tuẫn tiết
năm 1867 khi 3 tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp.
- Ông Phan Ðình Phùng, với 10 năm
khởi nghĩa kháng Pháp 1886-1895.
- Ông Nguyễn Thái Học, với cuộc
khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, chống thực dân Pháp.
- Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, với
cuộc chạy trốn cộng sản của 1 triệu đồng bào miền Bắc
vào Nam 1954.
- Tướng Ngô Quang Trưởng, với
chiến thắng tại Huế năm 1968.
- Tướng Lê Văn Hưng, với chiến
thắng An Lộc năm 1972.
- Hiệp Ðịnh Paris và quân cộng
sản bao vây thủ đô Sài Gòn tháng 4.1975. (nêu bật bản chất
tráo trở lật lọng của cộng sản VN).
- Cuộc di tản những ngày cuối
tháng 4.1975.
- Năm Tướng lãnh và hằng trăm
sĩ quan đã tuẫn tiết khi có lệnh buông súng ngày 30.4.1975
và ngay sau đó.
- Thảm cảnh chạy trốn cộng sản
trong 25 năm cuối của thế kỷ 20.
- Cảnh lao tù khắc nghiệt, đọa
đày Dân-Quân-Cán-Chánh Việt Nam Cộng Hòa trong 17 năm liên
tục.
Ngôi nhà sau đền thờ:
- Bước đầu định cư của cộng
đồng Việt Nam tại Houston.
- Những thành công của cộng đồng
Việt Nam tại Houston.
- Ước vọng tương lai của Cộng
Ðồng Việt Nam trên đất Mỹ, và ước vọng đối với quê
hương Việt Nam thời hậu cộng sản.
Dưới mỗi bức hoành tráng, có
tượng bán thân của vị anh hùng hoặc của tập thể, cùng
với tập tài liệu song ngữ, tóm lược bối cảnh của giai
đoạn lịch sử, tiểu sử, và thành tích của những vị anh
hùng đó. Băng phim video (cũng như hướng dẫn viên) cần diễn
giải ngắn gọn, nhưng đủ cho khách hiểu được bối cảnh
lịch sử từ bức hoành tráng này đến bức hoành tráng kế
tiếp.
Trường hợp khách cần được giải
thích rõ hơn, cứ nhấc một trong ba ống nghe tự động với
ngôn ngữ thích hợp trong ba ngôn ngữ Việt-Anh-Tây Ban Nha.
(3) Một bộ lịch sử Việt Nam viết
bằng song ngữ, tóm lược từ thời lập quốc đến nay, do
tham khảo sách báo và tài liệu khả tín. Cần ngắn, gọn,
vừa đủ để khách thăm có được khái niệm về Ðất nước-Con
người-Văn hóa Việt Nam.
(4) Một sa bàn bản đồ Việt Nam
từ thời lập quốc, và qua từng thời đại mở mang bờ cõi
xuống phương Nam. Sử dụng kỹ thuật điện tử, diễn đạt
từng thời đại mở nước cùng với chân dung vị đứng đầu
thời đại đó.
(5) Một sa bàn (khác) bản đồ Việt
Nam, tóm lược "Ðất nước-Con người-Văn hóa-Cảnh trí Việt
Nam", như: Sông Hồng cuồn cuộn chảy, Sông Hương với dòng
nước chầm chậm, Sông Cửu Long màu nước đục chảy nhanh.
Sử dụng kỹ thuật, tạo các dòng nước chảy như thật,
con người với y phục và sinh hoạt nông thôn mỗi miền. Về
cảnh trí, có vịnh Hạ Long, vùng núi Sa Pa, thành nội Huế,
bãi Sa Huỳnh, vùng núi Ðà Lạt, vùng núi Pleiku Kontum, Mũi
Cà Mau, đảo Phú Quốc, ..v.. v.. Khi diễn giải, có âm thanh
ca nhạc thích hợp với sinh hoạt Nam Trung Bắc, hổ trợ cho
lời diễn giải.
Cả hai sa bàn này (như loại bản
đồ nổi) đặt ở vị trí cuối cùng, như là phần diễn
giải tóm tắt cho khách dễ nhớ trước khi khách ra khỏi đền
thờ.
c. Quan niệm chi tiết vài công
trình khác.
(1) Công trình phòng bảo tàng.
Thu thập và gìn giữ những vật
dụng, tranh vẽ, và những gì thuộc về vết tích của tất
cả các lãnh vực sinh hoạt trong lịch sử, trong giai đoạn
chiến tranh bảo vệ tổ quốc, kể cả những gì liên quan
đến quân lực VNCH, đến cuộc di cư từ Bắc vào Nam 1954,
cuộc di tản 1975, tù đày 1975-1992, vượt biên vượt biển
từ năm 1975, và liên quan đến an cư lạc nghiệp tại Mỹ.
Khả năng chính của phòng này là "thể hiện được lịch
sử văn hóa Việt Nam, và phơi bày tội ác của các nhóm lãnh
đạo cộng sản Việt Nam".
(2) Công trình phòng thư viện.
Thư viện lưu giữ tất cả những
sách báo, tài liệu, hồ sơ, của các lãnh vực sinh hoạt trong
lịch sử, liên tục đến khi an cư lạc nghiệp tại Mỹ, tương
tự như Phòng Bảo Tàng.
(3) Công trình tượng đài tưởng
niệm.
Có thể có Tượng Tiếc Thương
+ Tượng Tù Nhân Chính Trị + Tượng Người Vượt Biển, tạo
nên cụm tượng đài, hoặc mỗi tượng đài riêng rẽ.
(4) Công trình phòng sinh hoạt.
Công trình cần có khả năng chứa
được vài trăm chỗ ngồi, dành cho các tổ chức hay những
cá nhân cần hội họp, hoặc triển lãm, hay mở các lớp học
cần thiết. Có được công trình này, sẽ giúp cho sinh hoạt
của công viên thêm phần nhộn nhịp. Ðây là nơi thường
xuyên triển lãm về tội ác của cộng sản Việt Nam.
(5) Công trình khu sinh hoạt ngoài
trời.
Công trình này có khả năng thu hút
các tổ chức thanh thiếu niên đến sinh hoạt hằng tuần,
cũng như những buổi cắm trại của các tổ chức trong cộng
đồng. Cũng giúp tạo nên không khí nhộn nhịp vào những
cuối tuần hoặc những ngày nghỉ lễ.
(6) Công trình phòng bán vật dụng
kỷ niệm.
Rất cần thiết để góp phần tạo
quỹ điều hành cho Ban Quản Trị Công Viên.
d. Quan niệm thời gian thực hiện.
Ðây là dự án rất qui mô, cho nên
tùy theo khả năng nhân sự và vận động phương tiện, có
thể thực hiện từ 5 đến 10 năm hay lâu hơn nữa, kể từ
khi thật sự bắt đầu. Thực hiện được quan niệm qua 5
giai đoạn, như sau:
- Giai đoạn 1, chuẩn bị. Giai đoạn
này từ lúc Nhóm Vận Ðộng hình thành và thật sự hoạt
động, đến khi hoàn tất mọi thủ tục pháp lý với lễ
đặt viên đá đầu tiên xong. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ phải
có một ngân khoản nào đó (theo điều kiện của cơ quan xây
dựng thành phố) ký thác vào ngân hàng, để thành phố tin
rằng chúng ta có khả năng thực hiện dự án.
- Giai đoạn 2, thực hiện. Xây dựng
công trình đền thờ, vì công trình này cần nhiều thời gian
trình bày trang trí bên trong, và trong khi trình bày trang trí,
tạm sử dụng làm nơi sinh hoạt hội họp vào dịp cuối tuần
vì diện tích rộng trong khi chờ đợi xây dựng Phòng sinh
hoạt riêng. Trong cùng thời gian, tùy khả năng, công trình
nào thực hiện được thì nên bắt đầu ngay, có thể là
Cụm tượng đài.
Ngay trong giai đoạn này, nên có
Nhóm tham mưu phụ trách dự thảo bản "Nội Quy". Nội Quy là
văn kiện lập qui mà "Ban Quản Trị Công Viên" (BQTCV) sẽ căn
cứ vào đây để điều hành công việc. Bản Nội Quy phải
được "Hội Ðồng Hoạch Ðịnh & Giám Sát" (HÐHÐ&GS)
và "Ủy Ban Xây Dựng" (UBXD) thông qua mới có giá trị. BQTCV
sẽ do cộng đồng bầu chọn cùng lúc với bầu chọn Hội
Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng (hay tổ chức tương tự), và
nhiệm kỳ cũng cùng thời gian với Hội Ðồng này.
Nhưng trong thời gian xây dựng, khi
cần quản trị một vài công trình hoàn tất, HÐHÐ&GS sẽ
thành lập "BQTCV tạm thời" để tiếp nhận và quản trị,
giúp giảm bớt trách nhiệm của HÐHÐ&GS và UBXD. Khi công
trình đền thờ hoàn tất phần căn bản (được hiểu là
bắt đầu hoạt động), và nếu đến kỳ bầu chọn HÐÐDCÐ,
thì HÐHÐ&GS phối hợp để cùng lúc đồng hương bầu
chọn BQTCV nhiệm kỳ đầu tiên. BQT tạm thời sẽ bàn giao
trách nhiệm cho BQTCV được công bố hợp lệ sau cuộc bầu
chọn.
Trong nhiệm kỳ đầu tiên này, BQTCV,
nên nghiên cứu soạn thảo một tài liệu tham mưu khác, rất
cần thiết cho các thành viên trong BQTCV. Ðó là "Huấn Lệnh
Ðiều Hành Căn Bản" (HLÐHCB). HLÐHCB là văn kiện hệ thống
hóa từng công tác tham mưu căn bản của từng thành viên trong
BQTCV. Tài liệu này có mục đích hướng dẫn bất cứ thành
viên nào khi nhận trách nhiệm trong BQTCV, xem qua cũng hiểu
được những việc phải làm, ít nhất cũng là phần căn bản,
giúp giảm bớt những lúng túng có thể gặp phải.
Danh xưng của 3 tổ chức trên đây,
chỉ là tôi tự đặt ra để có tên gọi sử dụng trong bài
này mà thôi.
- Giai đoạn 3 và 4, thực hiện các
công trình khác.
- Giai đoạn 5, hoàn chỉnh các công
trình.
e. Quan niệm nhu cầu nhân sự
Ngoài thành phần tham mưu và quản
trị, rất cần sự tham gia của các vị chuyên môn về: Kiến
trúc. Ðiêu khắc. Họa sĩ. Ðiện và điện tử. Luật sư.
Sử gia. Trang trí. Âm nhạc. Làm băng phim video. Bảo tàng. Thư
viện. Thờ phượng. Còn cần thêm những vị thông thạo về
thuế vụ, về vận động hội đồng thành phố và chánh quyền
thông qua dự án và hỗ trợ phương tiện, vận động tài
chánh trong cộng đồng, vận động các công ty hãng xưởng
có nhiều nhân viên Việt Nam để họ nhận bảo trợ từng
công trình hoặc từng phần công trình.
f. Quan niệm về tổ chức.
Tôi nghĩ là lúc khởi sự, cần
có 2 tổ chức và tạm gọi như đã sử dụng ở phần trên:
- Một là, "Hội Ðồng Hoạch Ðịnh
& Giám Sát" (HÐHÐ&GS). Trong Hội Ðồng này, có vị Chủ
Tịch Ủy Ban Xây Dựng dự án. Hay nói cách khác, một trong
những thành viên của Hội đồng, được bầu chọn vào trách
nhiệm Ủy Ban Xây Dựng.
- Hai là, "Ủy Ban Xây Dựng Công
Viên" (UBXDCV).
Tất cả tài liệu -kể cả phim
ảnh- cũng như các biên bản mỗi lần họp, hay bản nháp viết
tay, liên quan đến dự án công viên này từ khi khởi đầu
cho đến khi hoàn tất, dù phải trải qua thời gian rất dài,
đều phải lưu giữ cẩn thận để đưa vào thư viện. Ðây
là những tài liệu chứng minh rất cần thiết về mọi diễn
tiến -kể cả thu chi tài chánh- của dự án, và đây cũng
là nơi lưu giữ cho những thế hệ mai sau hiểu được nỗ
lực của thế hệ cha ông nhằm mục đích góp thêm trong hành
trang vào đời cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, kiến thức
lịch sử và văn hóa dân tộc, cội nguồn của con người
Việt Nam.
Tôi quan niệm những trách nhiệm
sau đây nên riêng biệt nhau: "Vận động tài chánh. Gìn giữ
tài chánh (thủ quỹ). Xuất chi. Mua sắm vật liệu và thuê
mướn máy móc dụng cụ. Tiếp nhận và sử dụng (xây dựng).
Kiểm soát". Quan niệm này không có nghĩa là nghi ngờ, mà chính
là sự minh bạch cần thiết ngay từ khởi sự công tác. Cũng
là giúp những vị trách nhiệm, dễ dàng trong công tác quản
trị của mình.
4. QUAN NIỆM VỀ HÀNH CHÁNH THAM
MƯU.
a.Với chánh quyền.
Sự liên lạc với cơ quan hành chánh
và chuyên môn của thành phố là rất cần thiết, để biết
rõ những nguyên tắc và điều kiện liên quan đến việc hoàn
thành mọi thủ tục pháp lý, trong đó có quốc kỳ Việt Nam
Cộng Hòa vĩnh viễn trên kỳ đài. Và khi hoàn tất, vận động
ghi vào "danh sách thắng cảnh của thành phố Houston".
Có thể vận động với chánh quyền
về vấn đề yểm trợ một ngân khoản nào đó cho công viên
chăng? Vì đây sẽ là một thắng cảnh của thành phố.
b. Thủ tục mua sắm.
Mỗi nhu cầu mua sắm, cần được
"khảo giá" hai hoặc ba nơi bán hàng tìm mua giá hạ, để công
tác này được minh bạch và tiết kiệm trong chi tiêu.
c. Hồ sơ công tác.
Mỗi Ban trong Ủy Ban Xây Dựng, cần
có một hồ sơ công tác, ít nhất là gồm:
- Sơ đồ tổ chức nhân sự và
trách nhiệm từng người.
- Các công trình hay công tác của
Ban, có ghi các công tác chính của từng công trình.
- Sổ nhật ký.
- Sổ nhận và sử dụng vật liệu.
- Hồ sơ lưu.
Toàn bộ hồ sơ công tác này, sẽ
bàn giao cho BQTCV sau khi công trình hoàn tất, để phiên dịch
sang Anh ngữ và lưu trữ trong Phòng thư viện.
d. Các công trình.
Nên mô tả dưới dạng một "hoạch
đồ thiết kế và quản trị công trình" cho mỗi công trình.
Trong hoạch đồ đó, diễn đạt từng công tác hoặc từng
nhóm công tác trong thời gian dự liệu thực hiện, đồng thời
có ghi những điều chỉnh cần thiết. Với hoạch đồ này,
bất cứ ai cần theo dõi cũng dễ nhận thấy các công tác
dự liệu và mức tiến triển của công tác.
e. Sổ nhật ký.
Sổ này dùng ghi chép diễn tiến
công tác "trong ngày có làm việc", kể cả những trở ngại
và những thay đổi cần thiết, nếu có. Sổ sẽ giúp cho bất
cứ ai có trách nhiệm hoặc quí vị mạnh thường quân muốn
biết thu chi, và các công tác đã hoặc đang thực hiện. Sổ
này là dựa theo "Hoạch đồ thiết kế và quản trị công
trình" được tóm tắt lại.
5. QUAN NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM.
a. HÐHÐ&GS, trách nhiệm:
- Toàn bộ dự án, từ vận động
nhân sự, đất đai, họa đồ, đến vận động tài chánh,
vận động phương tiện.
- Hoàn tất mọi thủ tục pháp lý
và tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên.
- Thành lập UBXD.
- Theo dõi thực hiện và giải quyết
những trở ngại.
- Dự thảo và thông qua Nội Quy
điều hành của BQTCV.
- Thành lập BQTCV tạm thời.
- Phối hợp với Ban Bầu Cử HÐÐDCÐ,
để đồng hương cử tri bầu chọn BQTCV nhiệm kỳ đầu tiên.
- Chủ tọa bàn giao công trình hoàn
tất cho BQTCV.
- Tổ chức lễ khánh thành công
viên.
- Thiết lập và giữ gìn "Những
quyển sổ vàng", với những ghi chép cẩn thận bất cứ cá
nhân hay tổ chức ủng hộ tài chánh, vật liệu, động sản,
bất động sản. Khi hoàn tất, bàn giao cho BQTCV lưu trữ trong
thư viện, sau khi có một bảng vàng ghi chép tương tự để
ở phòng chiếu băng phim video.
- Trong suốt thời gian thực hiện,
vào mỗi thời gian định kỳ hằng tháng hoặc 3 tháng, công
bố về tài chánh và công tác thực hiện cùng những khó khăn
trở ngại và cách giải quyết. Việc công bố này xin các
đài phát thanh và báo chí trợ giúp phổ biến miễn phí. Ngoài
ra, cũng nên tổ chức những diễn đàn công cộng để tường
trình với đồng hương, và tham khảo ý kiến cần thiết để
cải tiến công tác.
- Trở thành "Hội Ðồng Sáng Lập"
và "Ban Cố Vấn" cho BQTCV Văn Hóa Việt Nam Houston.
b. UBXD trách nhiệm.
- Tiếp nhận vật liệu, kế toán,
thực hiện công trình, đề nghị thay đổi cần thết.
- Bàn giao cho BQTCV (tạm thời hoặc
chánh thức) sau khi mỗi công trình hoàn tất.
- Cùng HÐHÐ&GS, thông qua Nội
Quy điều hành của BQTCV.
- Bàn giao toàn bộ hồ sơ cho BQTCV
(chánh thức) lưu trữ trong thư viện./.
Houston, mùa thu 1997
Bổ túc 2001, 2003, 2007
Phạm Bá Hoa
Phụ trách công tác tham mưu
Viết thêm cho vẹn tròn sau trước.
Năm 1996 (?) nhân dịp chùa Ông Bổn
khánh thành, anh Tân -chủ nhân nhà hàng Kim Sơn 2- nói với
anh Võ Văn Thạnh -chủ nhân nhà sách Ngày Nay- rằng: "Ông Bổn
còn có được ngôi chùa để thờ, tại sao những ông Tướng
và các sĩ quan mình đã tuẫn tiết ngày 30 tháng 4 năm 1975,
lại không được chúng ta thờ? Anh em mình vận động cất
ngôi đền để thờ các Ông cũng được chớ?" -
Anh Thạnh hoàn toàn ủng hộ ý kiến
đó. Mấy hôm sau, tôi đến mua sách, anh Thạnh thuật lại,
và anh nói thêm: "Anh Hoa, tụi mình mời anh em bạn bè thực
hiện mục đích này đi. Tôi thấy ý kiến anh Tân hay lắm".
Tôi đồng ý cả hai tay, và tôi
đề nghị: "Phần tôi sẽ phác thảo một quan niệm sơ khởi
cung cấp cho anh. Phần anh, anh quen biết nhiều bạn gần xa,
anh tùy nghi vừa gợi ý vừa tham khảo các bạn. Dần dần
hình thành một nhóm và có thêm ý kiến, rồi từng bước
tiến đến. Anh nghĩ sao?" Anh Thạnh đồng ý ngay.
Quan niệm sơ khởi chỉ là ngôi
đền thờ như ý kiến anh Tân. Khi mang bản thảo đến anh
Thạnh, tôi đề nghị thêm: "Nếu như có được ngôi đền,
tại sao chỉ thờ riêng quí vị tuẫn tiết khi cộng sản chiếm
Việt Nam Cộng Hòa, mà không thờ tất cả Dân-Quân-Cán-Chánh
đã hi sinh trong suốt cuộc chiến chống cộng sản xâm lăng?"
Anh Thạnh đồng ý luôn, và tiếp
lời: "Vậy thì mình thờ từ vua Hùng dựng nước đến những
anh hùng trong lịch sử nữa".
"Ý kiến hay". Tôi xin thêm: "Mình
thờ tất cả những vị đã chết trong tù, chết trên đường
vượt biên vượt biển, và chết nơi đây nữa".
Thấy ý kiến phát biểu càng lúc
càng có lý, anh Thạnh mời anh Tân sang (cách anh mấy căn).
Nghe thuật lại, anh Tân hưởng ứng liền. Thế là chúng tôi
đồng ý một quan niệm như vậy. Trong khi phác thảo lại,
tôi chợt nghĩ: "Ðã vậy thì nên tiến đến một công viên
văn hóa, trong đó có nhiều công trình mà ngôi đền là công
trình chính. Và tôi nêu lên chủ đề cho công viên là "Dựng
Lại Dòng Lịch Sử Việt Nam biểu tượng qua Ðất Nước-Con
Người- Văn Hóa". Anh Tân và anh Thạnh đồng ý quan niệm này.
Thế là bản phác thảo được viết lại lần 3 với nội
dung như trên.
Vài tháng sau đó, nhóm bạn chúng
tôi được hình thành gồm 12 anh chị: "Trần Văn Tân, Vờ
Văn Thạnh, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Phước Trang, Nguyễn Tài
Lâm, và tôi (Phạm Bá Hoa). Dần dần có thêm các anh chị:
Nguyễn Như Nguyên, Võ Minh Thế, và Ðào Lê Minh Khải.
Trong khi phân công vận động nhân
sự để tiến đến tổ chức (1997), có một nhóm bạn công
bố trong buổi họp của các bạn ấy, theo đó thì các bạn
này đã có kế hoạch rồi (mà thật ra các bạn ấy đưa kế
hoạch của chúng tôi ra bàn thảo), cũng có cả khu đất xây
dựng đền thờ nữa, và cho biết là tuần lễ kế tiếp sẽ
quan sát khu đất để tiến hành. Các bạn ấy chỉ trích chúng
tôi có ý như đưa ra kế hoạch mà các bạn ấy đã sẵn sàng.
Thế là chúng tôi họp mặt nhau và quyết định giải tán,
vì kế hoạch đã có các bạn khác thực hiện và chờ xem
mình có thể tham gia được gì. Nhưng từ ấy đến nay, hoàn
toàn không có gì hết.
Tuy giải tán, nhưng đến nay tôi
vẫn lưu giữ đầy đủ tất cả những biên bản viết tay
lẫn đánh máy, cùng với bộ hồ sơ 21 slides chiếu trên vugraph
dự trù sử dụng khi trình bày vận động dư luận và vận
động nhân sự, trước khi vận động tài chánh. Ngoài ra,
chúng tôi cũng được Ủy Ban Xây Dựng Kỳ Ðài ở San Jose
cung cấp đầy đủ tài liệu về vận động xây dựng kỳ
đài ở đó, kể cả thư của Bộ Ngoại Giao cho biết "không
trở ngại" về việc treo quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta trên kỳ đài San Jose lúc ấy.
Ước vọng của nhóm chúng tôi về
công trình qui mô này vẫn còn đó, biết đâu khi cơ duyên
chợt đến, sẽ được thực hiện.
Nhân nhắc chuyện khởi đầu quan
niệm của bài viết này, cũng xin nhắc lại tấm lòng của
anh chị Ðỗ Hiển Ðiện qua sự giới thiệu của anh chị
Nguyễn Phước Trang, đã hướng dẫn nhóm chúng tôi đến xem
khu đất mà anh chị Ðiện sẵn lòng tặng khoảng 3 mẫu (trong
số hơn 10 mẫu) gồm cả cái hồ rất đẹp, tọa lạc sát
đường E. Mount Houston để xây dựng ngôi đền. Một lần
nữa, với tư cách người phụ trách soạn thảo kế hoạch,
trân trọng cám ơn anh chị Trang và anh chị Ðiện đã rất
nhiệt tình về một công trình không có mặt nổi nhưng có
chiều sâu của cuộc sống, dù là công trình bỏ dở khi còn
trên trang giấy./.
Phạm Bá Hoa
|