4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Vườn Hoa Văn Nghệ
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức

Bình Luận


Cộng sản Việt Nam, tội ác bán đất bán biển
Phạm Bá Hoa

Tổ Quốc Việt Nam.

Tổ quốc, bao gồm một lãnh thổ, một dân tộc, một nền văn hóa, một tổ chức công quyền, và những công trình kiến trúc mỹ thuật. 

Tổ quốc Việt Nam, theo cụ Trần Trọng Kim trong bộ Việt Nam Sử Lược, hình thành từ năm 2879 trước tây lịch. Lịch sử Việt Nam, với biết bao thăng trầm vinh nhục theo vận nước, với biết bao hi sinh quả cảm của ông cha ta trong gần 5000 năm dựng nước, mở nước, giữ nước! 

Trong những ngàn năm đó, Trung Hoa phong kiến cai trị chúng ta 4 lần, cộng chung 1.000 năm: 

Lần thứ nhất, từ năm 111 trước tây lịch đến năm 39 sau tây lịch = 150 năm.

Lần thứ hai, từ năm 43 đến năm 544 = 501 năm.

Lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939 = 336 năm.

Lần thứ tư, từ năm 1.414 đến năm 1.427 = 13 năm. 

Suốt thời gian bị trị dài lâu đó, dân tộc ta, chẳng những đã không bị đồng hoá cho dù 40 thế hệ ông cha bị dìm dưới sự cai trị hà khắc của các triều đại Trung Hoa, mà lịch sử đã lưu lại cho dân tộc Việt một truyền thống oai hùng bất khuất, hình thành từ tinh thần chống giặc ngoại xâm với những trận chiến lừng danh có tầm vóc quốc tế thời ấy, đặc biệt là trong thế kỷ 11 với nhà Lý, thế kỷ 13 với nhà Trần, và thế kỷ 15 với nhà Lê. 

Biên giới phía Nam từ khi dựng nước là Hà Tỉnh, và nguyên trạng như vậy trong gần 4000 năm. Đến nửa cuối thế kỷ 11 sau tây lịch, bắt đầu mở mang xuống đến Quảng Trị. Từ đó đến cuối thế kỷ 18 -khoảng 700 năm- biên giới phía nam nước ta mở mang xuống đến Mũi Cà Mau với hình thể có dạng hình cong chữ S như hiện nay. 

Từ nửa cuối thế kỷ 19, nước ta bị nước Pháp thực dân đánh chiếm cai trị cho đến năm 1945. Trong khoảng thời gian bị trị, chánh phủ Pháp thực dân với Trung Hoa phong kiến triều đại nhà Thanh, đã ký Hiệp Ước về biên giới trên vịnh Bắc Việt được gọi là Hiệp Ước Constans ngày 16/6/1887 tại Bắc Kinh. Theo đó, 62% thuộc chủ quyền Việt Nam và 38% thuộc về Trung Hoa, dựa theo đường thẳng đứng trùng hợp với 108 độ kinh đông trên bản đồ. Đường biên giới trên bộ trên biển Việt Nam-Trung Hoa đến trước cuối năm 1999 nguyên trạng như vậy.

Kết thúc chiến tranh 1945-1954 giữa Việt Minh cộng sản với nước Pháp thực dân bằng Hiệp Định Đình Chiến ngày 20/7/1954 tại Genève, chia Việt Nam thành hai quốc gia: Từ vĩ tuyến 17 trở lên biên giới phía Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cai trị theo chế độ độc tài (gọi tắt là VNCS), từ vĩ tuyến 17 trở xuống biên giới phía Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ dân chủ tự do (gọi tắt là VNCH). Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. 

Phần tin tức.

Năm 1956 & 1958, VNCS công nhận lãnh hải VN thuộc THCS. 

Năm 1956, trong văn phòng Bộ Ngoại Giao VNCS, ông Ung Văn Khiêm, Bộ Trưởng Ngoại Giao nói với ông Li Zhiman, đại lý sự vụ tòa đại sứ THCS tại Hà Nội rằng: “Về phương diện lịch sử, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc về THCS”. 

Ngày 4/9/1958, ông Chu Ân Lai, Thủ Tướng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (tức Trung Hoa cộng sản=THCS) công bố “lãnh hải Trung Hoa là 12 hải lý”.

Mở ngoặc. Theo Công Ước quốc tế về lãnh hải: Năm 1929 là 3 hải lý. Năm 1936 là 10 hải lý. Năm 1958 THCS tự công bố lãnh hải của họ là 12 hải lý. Một hải lý=1.8 cây số dài. Đóng ngoặc. (trích trên Nước Việt Online) 

Ngày 14/9/1958 -tức 10 ngày sau- ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNCS gởi văn kiện cho Thủ Tướng THCS, “công nhận lãnh hải 12 hải lý trong bản tuyên bố của THCS”. Theo bản công bố đó thì quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc THCS. 

Đây là công hàm nói trên. Phía dưới tiêu đề Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), nguyên văn nội dung như sau:

Thưa đồng chí Tổng Lý, 

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ, Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và “tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung “Hoa (CHNDTH), quyết định về hải phận của Trung quốc. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết “định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý “của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể. 

“Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958”

(ký tên Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNDCCH. Đóng dấu) 

Năm 1974, THCS đánh chiếm Hoàng Sa.

NGày 19/1/1974, THCS huy động một lực lượng Hải Quân hùng hậu so với lực lượng trú phòng của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), mở cuộc tấn công quần đảo Hoàng Sa do Hải Quân VNCH trấn giữ. Sau trận ác chiến, hai bên cùng tổn thất đáng kể và Hải Quân THCS chiếm đóng Hoàng Sa. 

Năm 1988, một phần Trường Sa vào tay THCS.

Sau cuộc chiến tranh 1955-1975 VNCS chiếm VNCH, với chính sách gậm nhấm, THCS lần lượt đánh chiếm hoặc lấn chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa. Cứ mỗi lần chiếm đóng một đảo, THCS với VNCS tuyên bố hai bên cùng giải quyết trong hòa bình, nhưng rồi VNCS vẫn để nguyên trạng mất đất chớ không giải quyết gì cả, và một đảo khác lại vào tay THCS. Cứ như vậy mà 8 đảo đã vào tay Hải Quân THCS. 

Năm 1999, VNCS bán đất trừ nợ vũ khí.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Canh, trong cuộc chiến tranh biên giới có thời hạn mà THCS gọi là "dạy cho VNCS một bài học" hồi tháng 2/1979, THCS xua 220.000 quân tràn sang đánh chiếm 23 thị trấn và nhiều nơi khác của Việt Nam thuộc 6 tỉnh dọc biên giới Việt-Trung. Một tháng sau đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố rút quân về nước, nhưng vẫn chiếm giữ nhiều địa điểm chiến lược sâu trong lãnh thổ nước ta, ngay cả cửa Hữu Nghị Quan phải lui vào nội địa Việt Nam đến 480 thước. Chúng trục xuất người Việt trên vùng đất hằng chục ngàn mẫu tây, và đưa người Trung Hoa đến canh tác. Ngày 30/12/1999, VNCS với THCS đã ký Hiệp Ước biên giới trên bộ, và ông Nông Đức Mạnh phê chuẩn ngày 9/6/2000 với tư cách Chủ Tịch Quốc Hội. 

Năm 2000, VNCS bán biển giá 2 tỷ mỹ kim.

Ngày 25/12/2000, Chủ Tịch nhà nước Trần Đức Lương sang THCS với danh nghĩa thăm viếng thiện chí, nhưng thật sự là ký Hiệp Ước biên giới trên vịnh Bắc Việt với lãnh đạo THCS tại Bắc Kinh. 

Năm 2001, tin mất đất loan truyền tại Hà Nội.

Tháng 6/2001, tại Hà Nội, trong một tài liệu lén lút phổ biến trong thành phần chống đối đảng, có bài của luật gia trẻ Lê Chí Quang, tố cáo lãnh đạo VNCS đã ký hai Hiệp Ước mà trong đó, VNCS đã cắt phần lãnh thổ trên bộ đến hằng trăm kí lô mét vuông, và một phần lãnh hải trên vịnh Bắc Việt theo tỷ lệ 54/46, cống hiến cho THCS. Phần trên bộ, chưa rõ diện tích chính xác đã mất bao nhiêu, nhưng trên biển thì ta đã mất, từ tỷ lệ 62% xuống còn 54%! Hiệp Ước này sẽ đưa ra Quốc Hội VNCS phê chuẩn. Lê Chí Quang đã hiên ngang thách thức mời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đối chất là ông ta nhân danh ai mà dám ký Hiệp Ước làm mất đất biên giới cho THCS. Thế là “hung thần” Công An cộng với “ác quỷ” trong cái gọi là Hội Đồng Xử Án đẩy người công dân can đảm tên Quang vào tù.

(Với sơ đồ này, phần màu vàng là Việt Nam, đảo Hải Nam bên phải là THCS, lằn đen từ Bắc xuống Nam cong theo độ cong bờ biển Việt Nam, gần như ngăn đôi phần biển Việt Nam với THCS theo Hiệp Ước VNCS bán cho THCS). 

Những bí ẩn trong vụ bán đất bán biển.

Dưới đây là tài liệu gởi đi từ e-mail <tranmong......> ngày 20/8/2008 gồm cả bản Anh ngữ lẫn Việt ngữ. 

Năm 1988, Lê Khả Phiêu sang thăm THCS đã trúng kế mỹ nhân Cheng Mei Wang (phiên âm Trương Mỹ Vân) với kết quả một đứa bé ra đời. Lê Khả Phiêu không dám mang về Việt Nam. Nắm được yếu điểm của Tổng Bí Thư VNCS, tháng 1/1999, THCS gởi văn thư mật đặt vấn đề biên giới trên bộ trên biển với Phiêu kèm theo lời dọa nếu không hợp tác thì THCS đưa vụ bê bối này ra ánh sáng. Cuối cùng, Lê Khả Phiêu ký Hiệp Ước ngày 30/12/1999 chấp nhận giao cho THCS một dãi đất dọc biên giới, bao gồm các địa danh mà THCS đòi hỏi (Ải Nam Quan, Bản Giốc, vùng đất Sapa, Cao Bằng, ..).

Ngay hôm sau -31/12/1999- ông Tang Jiaxuan, Bộ Trưởng Ngoại Giao THCS sang VNCS gặp riêng Lê Khả Phiêu bàn thêm về biên giới trên biển mà THCS cần đến. Ngày 25/2/2000, Lê Khả Phiêu cử Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên sang THCS cho biết VNCS đồng ý giao thêm phần trên biển. 

Nhân chuyến viếng thăm Thái Lan, Ngoại Trưởng THCS gởi văn thư mời ông Nguyễn Dy Niên sang gặp ông ta tại Bangkok. Ngày 26/7/2000, Nguyễn Dy Niên sang Bangkok gặp Ngoại Trưởng THCS tại khách sạn Shangri-La. Ông Niên mang về Việt Nam một hồ sơ mà trong đó THCS đòi phân chia vùng biển trong vịnh Bắc Bộ theo tỷ lệ 50/50. Ngày 28/7/2000, Bộ Chính Trị VNCS họp mật về vấn đề này.

Ngày 26/9/2000, Bộ Chính trị cử ông Phan Văn Khải, Thủ Tướng VNCS bay sang THCS gặp Lý Bằng (dường như là Thủ Tướng). Lý Bằng nhận thấy Phan Văn Khải có vẻ không đồng tình trong hành động giao đất giao biển cho THCS, nên Lý Bằng cho ông Khải biết rằng, ông Nông Đức Mạnh, Chủ Tịch Quốc Hội VNCS với Lê Khả Phiêu đã gặp riêng Chủ Tịch Giang Trạch Dân vào tháng 4/2000 tại THCS và tháng 8/2000 tại New York, cả ba đã thỏa thuận. Lý Bằng nói thêm, sau khi ông Lê Khả Phiêu xuống thì Nông Đức Mạnh phải được đưa lên nắm chức Tổng Bí Thư trong đại hội đảng CSVN lần thứ 9 vào tháng 3/2001, nếu không thì THCS sẽ đòi nợ trong chiến tranh.

Vẫn chưa thấy ông Khải chấp nhận, Lý Bằng đưa Phan Văn Khải đến Zhong-Nai-Hai gặp Giang Trạch Dân. Cuối cùng, Phan Văn Khải bị ông Zhu Rongji đe dọa “tẩy chay” Khải nếu Khải không nghe theo THCS. (chữ “tẩy chay” theo nghĩa của cộng sản được hiểu như thanh trừng).

Ngày 24/12/2000, ông Lê Công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao VNCS được ông Trần Đức Lương, Chủ Tịch VNCS cử sang THCS gặp ông Hoàng Di, phụ trách tình báo và là cánh tay phải của Ngoại Trưởng THCS. Đại diện THCS vẫn khăng khăng đòi tỷ lệ 50/50 trên vịnh Bắc Việt, gồm cả đảo Bạch Long Vĩ. Lê Công Phụng được lệnh Bộ Chính Trị cố gắng “xin lại 6%” gần khu vực Bạch Long Vĩ. Kết quả cuối cùng cuộc đi đêm của Lê Công Phụng, biên giới trên biển theo tài liệu này VNCS từ 62% còn 56% và THCS từ 38% lên 44%.

Ngày 25/12/2000, Chủ Tịch Trần Đức Lương sang THCS gặp Chủ Tịch Giang Trạch Dân và hai bên cùng ký Hiệp Ước. Theo đó, VNCS bán một phần biển cho THCS với giá 2.000.000.000 mỹ kim (2 tỷ), và THCS trả cho VNCS dưới hình thức đầu tư. Hãy nghe Lý Bằng nói với Trần Đức Lương tại Quảng Trường Nhân Dân ngày 26/12/2000: “Số tiền 2 tỷ mỹ kim để mua 16.000 cây số vuông trên biển là hợp lý” (Có tài liệu ghi là 11.362 cây số vuông). Lý Bằng nói tiếp: “Trong thời gian chiến tranh, Trung Hoa đã giao cho Việt Nam vô số vũ khí để mua vùng đất Sapa, Ải Nam Quan, Bản Giốc, ... của Việt Nam”. Trần Đức Lương cám ơn THCS vì nhờ có 2 tỷ mỹ kim này sẽ làm giảm bớt sự phẫn nộ của Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt, và các nhân vật khác trong Quốc Hội.

Như vậy, phần biển với 16.000 (?) cây số vuông bán với giá 2 tỷ mỹ kim, còn phần đất 789 cây số vuông dọc biên giới mà VNCS bán cho THCS dưới hình thức trừ nợ mua vũ khí đạn dược trong cuộc chiến xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa 1955-1975! 

Ngày 26/2/2001, Nguyễn Mạnh Cầm được cử sang Hải Nam gặp ông Qian Qichen để nói lời cám ơn THCS đã mua vùng biển trên vịnh Bắc Việt với giá 2 tỷ mỹ kim! 

Năm 1974 & 2006, sách giáo khoa và bản đồ.

Theo Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, THCS chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ bằng cách họ viện dẫn sách giáo khoa của VNCS sử dụng trong các trường học từ năm 1974 về trước, ghi rằng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa tạo thành vòng đai an ninh bảo vệ Trung Hoa chống lại âm mưu xâm lăng của đế quốc”.

Vẫn theo Giáo Sư Canh, tháng 6/2006, THCS vẽ lại bản đồ Biển Đông mà phần lãnh hải đến sát bờ biển Việt Nam như họ đã công bố hồi tháng 9/1958. THCS đã đưa bản đồ đó vào hệ thống giáo dục của họ. 

Năm 2007, VNCS đồng lõa THCS chiếm Hoàng Sa Trường Sa.

Tháng 11/2007, Quốc Vụ Viện THCS ban hành văn kiện thành lập quận Tam Sa tỉnh Hải Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông của Việt Nam. Lãnh đạo VNCS phản ứng qua Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao VNCS, đủ để gọi là có phản ứng. 

Tháng 12/2007, thanh niên sinh viên tại Hà Nội cũng như Sài Gòn, thực hiện biểu tình chớp nhoáng trước tòa đại sứ và tòa tổng lãnh sự THCS, để phản đối họ chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Sau đó, dự định tổ chức mít tinh biểu tình chức qui mô hơn với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, nhưng đã bị lãnh đạo VNCS tung lực lượng Công An đàn áp ngăn chận nên không thực hiện được.

Năm 2008, đàn áp biểu tình chống THCS chiếm Hoàng Sa Trường Sa.

Sinh viên và các tầng lớp cá nhân cùng những tổ chức đấu tranh trong nước đòi thực hiện dân chủ tự do và nhân quyền cho Việt Nam, dự định tổ chức mít tinh biểu tình trước tòa đại sứ THCS tại Hà Nội vào ngày 14/9/2008, ngày mà 50 năm trước Thủ Tướng VNCS Phạm Văn Đồng đã ký văn kiện công nhận chủ quyền của THCS trên Biển Đông của Việt Nam. Mục đích mít tinh biểu tình để biểu dương ý thức chính trị của thanh niên sinh viên Việt Nam phẫn uất hành động của THCS ngang nhiên ghép hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa vào quận Tam Sa của họ. Mít tinh biểu tình này cũng biểu dương sự phẫn uất đối với đảng và nhà nước VNCS, đã không có phản ứng trước sự kiện mất hai quần đảo vào tay THCS. Trái lại, lãnh đạo đảng với nhà nước VNCS phản ứng theo cách đứng về phía THCS khi điều động lực lượng “hung thần Công An áo vàng áo đen”, thẳng tay ngăn chận đàn áp quản thúc bắt giữ bất cứ ai tổ chức và tham gia cuộc biểu tình này ngay tại Hà Nội và các địa phương. 

Ngày dự định biểu tình cũng là ngày mà tòa đại sứ THCS sẽ trưng bày văn kiện công nhận Hoàng Sa Trường Sa thuộc quyền của họ do Thủ Tướng VNCS Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958. 

Theo bản tin cuối cùng lúc 7 giờ 25 phút tối 14/9/2008 (ngày giờ Việt Nam) của nhóm phóng viên đấu tranh dân chủ trong nước, chuyển đi từ e-mail <tranmong....>. Ngày 10&11/9/2008, Cục A42 thuộc Tổng Cục An Ninh VNCS thực hiện chiến dịch vào ban đêm bắt giữ hằng loạt những nhà đấu tranh dân chủ tại các tình miền Bắc, đem giam giữ thẩm vấn tại trại B14 Thanh Liệt, Hà Nội. Bản tin tóm tắt tình hình các nơi vào trước ngày chủ nhật 14/9/2008, như sau: 

(1) Tại Sài Gòn. Công An bao vây nhà kỹ sư Đỗ Nam Hải, nhà giáo Trần Khuê, các cô Vũ Thanh Phương, Lư Thị Thu Duyên, Lư Thị Thu Trang, và tất cả thành viên câu lạc bộ nhà báo tự do. Các trường đại học có sinh viên tham gia biểu tình chống THCS hồi tháng 12/2007 trước tòa Tổng Lãnh Sự THCS trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, cũng trong tình trạng bị đông đảo Công An canh giữ ngăn chận ra vào. 

(2) Tại Lâm Đồng. Công An đặt điểm canh gác nhà của các dân oan tích cực ủng hộ những nhà tranh đấu đòi công lý và dân chủ Phạm Văn Quang, Trương Văn Kim, Trương Thị Tám, ... 

(3) Tại Thái Bình. Công An bao vây nhà cựu Trung Tá (cộng sản) Trần Anh Kim và một số dân oan đòu công lý. 

(4) Tại Lạng Sơn. nhà của ông Vi Đức Hồi, cựu Giám Đốc trường đảng Nguyễn Ái Quốc huyện Hữu Lủng. 

(5) Tại Yên Bái. Nhà tranh đấu trẻ Nguyễn Tiến Nam liên tục bị Công An gọi đến cơ quan thẩm vấn, trong mục đích ngăn chận về Hà Nội tham gia biểu tình ngày 14/9/2008. 

(6) Tại Hải Phòng. Công An canh giữ nhà của cô Phạm Thanh Nghiên, cựu tù chính trị Nguyễn Văn Tính, và tất cả nhà của những thanh niên sinh viên đã tham gia biểu tình chống THCS tại Hà Nội vào cuối năm 2007 và biểu tình ngày 29/4/2008. 

(7) Tại Hà Nội. Với lực lượng Công An đông đảo hơn bất cứ nơi nào đã canh giữ nhà của những người tranh đấu từ nhiều năm qua, là Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Thanh Tùng, Nguyễn Phương Anh, bà Dương Thị Xuân, ... Các nơi tá túc của hằng trăm dân oan cũng bị canh giữ ngăn chận đồng bào hòa nhập vào đám đông biểu tình chống THCS. Tại các trường đại học Công Nghệ Thông Tin, Xây Dựng, Bách Khoa, Giao Thông Vận Tải, Sư Phạm ngoại ngữ, Kiến Trúc, Tổng Hợp, ..v..v.., đều bị Công An canh giữ chung quanh. 

(8) Tại Sài Gòn. Các trường đại học tại đây, Công An vào tận nơi đe dọa nếu sinh viên nào tham gia biểu tình ngày 14/9/2008, lập tức sẽ bị đuổi học. 

Vì lực lượng “hung thần” Công An đông đảo bao vây ngăn chận bắt giữ khắp nơi và liên tục đe dọa, nên dự định mít tinh biểu tình trước tòa đại sứ THCS tại Hà Nội ngày 14/9/2008 đã không thể thực hiện đuợc. 

Nỗi đau mất đất mất biển! 

Bác sĩ Trần Đại Sỹ, Paris

Lúc ấy làm việc cho “Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu” (viết tắt của Pháp ngữ là CEF) và “Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa” (viết tắt của Pháp ngữ là CMFC), ngày 9/1/2000 - tức 10 ngày sau ngày ký thỏa ước bán đất trên bộ- ông được hai người bạn Trung Hoa đang là ký giả cho ông biết, chính xác là 789 cây số vuông thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng đã thuộc về THCS. Về mặt chính quyền, bộ Ngoại Giao VNCS đã lặng lẽ sửa câu văn trong trang Web trên mạng lưới thông tin toàn cầu, như sau: “Lãnh thổ Việt Nam khởi từ cây số KHÔNG ở phía bắc”.

Ông nhận lời mời của một đại sứ VNCS tại một nước Châu Âu, tháng 8/2001 ông về VN giúp hướng dẫn học sinh Việt Nam về những thủ tục du học Châu Âu mà không tốn tiền hoặc tốn rất ít. Xong công tác, ông ra phi trường Tân Sơn Nhất để về Pháp, ông bị 3 sĩ quan công an khám xét hành lý của ông trong 98 phút. Lý do đơn giản, vì trong chuyến về này ông cố tình đến cột mốc mới của biên giới mà trang Web của bộ Ngoại Giao VNCS đã nói. Ông mướn xe đi Lạng Sơn, đến trạm biên giới, và xin sang Trung Hoa thì bị công an VNCS từ chối. 

Bác sĩ Sỹ cũng cho biết rằng, trước đây, do công tác mà ông đã qua lại Ải Nam Quan nhiều lần. Lúc ấy điểm phân định biên giới là con sông nhỏ với cây cầu có tên Nam Quan, và nơi đây cũng là cây số Zéro. Hai bên cầu có nhiều cơ sở của Việt Nam và Trung Hoa. Nhưng bây giờ, ông đến đây, toàn bộ cơ sở này trở thành của THCS. 

Về Hiệp Ước bán một phần biển trên vịnh Bắc Việt, ông Trần Đại Sỹ nhận định: “Không phải nhà Thanh thiệt thòi khi nhận chủ quyền 38% trong Hiệp Định với Pháp, vì đó là món quà từ trời rơi xuống cho họ. Bởi từ xa xưa, vua quan phong kiến Trung Hoa vẫn xem vịnh Bắc Việt là của Việt Nam, vì người Việt Nam vẫn sinh sống trên các đảo trong vịnh. Với lại chính họ cũng dùng tên gọi vịnh Bắc Việt, cũng là cách thừa nhận chủ quyền của Việt Nam rồi. Nếu có tranh giành thì họ đã sử dụng tên vịnh theo họ đặt ra chớ đâu gọi theo tên Việt Nam. Cho đến nay, họ vẫn gọi là vịnh Bắc Việt mà. Năm 1983, bác sĩ Sỹ có đến thăm những đảo trên phần chủ quyền của THCS trong vịnh Bắc Việt, những người Việt Nam vẫn sống với văn hoá Việt, như: mặc áo quần kiểu Việt Nam, ăn các món ăn Việt Nam, và nói tiếng Việt Nam”. 

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội

Hiệp Ước bán phần đất biên giới chỉ được lãnh đạo VNCS phổ biến trong nội bộ đảng, như thể đất nước này là tài sản riêng của đảng CSVN vậy. Thông báo chánh thức đó như thế này: 

Toàn bộ diện tích các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau khoảng 227 cây số vuông. Qua đàm phán, hai bên đã thỏa thuận khoảng 113 cây số vuông thuộc Việt Nam, và khoảng 114 cây số vuông thuộc Trung Hoa. Như vậy, diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, hoàn toàn không có việc ta để mất một diện tích lớn như bọn phản động và bọn cơ hội chính trị bịa đặt”.

Ông Giang mỉa mai: Vậy là cái xấp xỉ đó có mất đất thật! Nhưng mất theo nguyên tắc nào? Vì sao Việt Nam chỉ có 320 ngàn cây số vuông lại phải xẽ cho Trung Hoa với diện tích 9 triệu 600 ngàn cây số vuông để họ có thêm 1 cây số vuông nữa? Cho dù Trung Hoa có 1 tỉ 300 triệu dân, nhưng đâu phải họ thiếu đất cho dân ở đến nỗi Việt Nam phải chia cho họ 1 cây số vuông? Ngược lại, tỷ lệ diện tích đất của Việt Nam trung bình chỉ có 4m2/đầu người, trong khi diện tích trung bình của họ là 8m2/đầu người. 

Ông chợt nhớ đến cụ Đỗ Việt Sơn ngót 80 tuổi đời mà trong đó gần 60 tuổi đảng, cụ Sơn đã dõng dạc đề nghị không thông qua bản hiệp định biên giới Việt Nam-Trung Hoa, để rồi cụ phải chịu bao nhiêu sách nhiễu răn đe hỗn xược của Công An. Ông Giang cũng nhớ đến Bùi Minh Quốc! Là nhà văn nhà thơ, thiên chức đó thôi thúc Bùi Minh Quốc không thể bàng quan, không thể nín lặng, anh đã lặng lẽ làm một cuộc hành trình dọc biên giới phía Bắc, nơi mà hiệp định đã cắt một phần biên giới cho THCS, để rồi anh bị quản chế giam hảm tại nhà. Lại đến nhà xã hội học Trần Khuê, cũng chung số phận hẩm hiu như Bùi Minh Quốc,

Ông Giang khẳng định: THCS là người láng giềng, sông liền sông núi liền núi, nhân dân hai nước sáng sớm cùng chung nghe tiếng gà gáy ó o, khi tắt lửa tối đèn cùng sống với nhau trong thân bằng quyến thuộc, nhưng THCS chưa bao giờ là người láng giềng tử tế cả, không chỉ không tử tế đối với Việt Nam chúng ta, mà đối với các quốc gia lân bang cũng vậy. Ông mời đọc lại một đoạn trong bài “Thần Chiến Thắng” của nhà thơ Chế Lan Viên sau cuộc chiến biên giới Việt Nam - Trung Hoa tháng 2/1979:

Ta đã bao đời sống đối diện, song đôi cùng với chiến tranh.
Thuộc các cỡ bom, quen kích tấc mọi nòng đại bác.
Nhưng chưa có quân thù nào như chúng mày tàn ác.
Dao quắm dao phay, mày mổ ruột băm mình.
Những xác trâu vô tội mày giết kia, ta nhìn cũng không đành.
Trên những thi thể bà mẹ địu con thơ, mày tìm khoái lạc.
Tơi tãi máu những cô gái Hòa An, những nhi đồng Bát Xát.
Chói lên mây các thế kỷ về sau, lửa mày thiêu thôn bản thị thành.
Như cha ông mày xâm lược xa xưa, mày đã hiện nguyên hình.

Rồi ông than thở: Oái oăm thay, đến khi cùng chung trận tuyến ý thức hệ, ta đã đem hằng triệu sanh linh để xây thành lũy phía Nam che chắn cho cái chính quyền cộng sản của họ, thì họ vẫn tiếp tục dòm ngó thèm thuồng lãnh thổ của ta. Cái gian tham của họ rất xảo quyệt tinh vi hơn ông cha của họ nhiều. Lúc ta bận bịu với cuộc chiến thì họ cho người dời cột mốc biên giới vào bên trong lãnh thổ Việt Nam, ngay cả cột mốc số KHÔNG cũng bị dời đi với lý do họ phải xây một nhà ga ở Nam Quan để tiếp viện cho cuộc chiến tranh mà chúng ta phải đương đầu một phần thay cho họ.

Vùng quần đảo Trường Sa. Tại đây có quân đội của Phi Luật Tân, Đài Loan, Mã Lai Á, và Việt Nam chiếm đóng, nhưng THCS thường nổ súng vào quân của VN mà không hề đụng đến quân của các quốc gia kia, chỉ vì VN đã công nhận vùng đó là của THCS nên quân đội VN có mặt ở đó họ coi là xâm phạm vùng biển của họ, thế là họ đánh. Việt Nam đề nghị mở hội nghị đa phương giải quyết, nhưng họ chỉ chấp nhận đàm phán với từng nước liên quan mà không nói chuyện với Việt Nam.

Linh mục Trần Xuân Tâm, Virginia.

Đã là người Việt Nam, tuy về không gian địa lý quá xa quê hương, nhưng tấm lòng người xa quê lại rất gần quê. Điều đó do xa quê hương mà người Việt hải ngoại mới thấm thía sâu sắc nhóm chữ quê hương đất nước! Tổ quốc quê hương của mình là cái gì mình không chọn lựa, nhưng là cái mà mình tự nhiên yêu thương trân quí. Vì thế mà cho dù nhiều người Việt Nam đã hội nhập vào xã hội bản xứ như Hoa Kỳ chẳng hạn, có yêu nước Mỹ đến đâu cũng khó lòng mà thương nước Mỹ như thương nước Việt Nam nghèo khổ của mình! 

Đã có lòng yêu thương quê hương đất nước như thế, bất cứ người Việt Nam nào dù sống bất cứ nơi đâu, trong nước hay hải ngoại, đều bàng hoàng xúc động và phẫn nộ khi biết tin nhóm lãnh đạo VNCS đã hết sức khốn nạn khi cắt đất xén biển bán cho THCS. Càng trân quí tổ quốc bao nhiêu, người dân Việt càng phẫn nộ nhóm lãnh đạo VNCS bấy nhiêu! Chúng ta quí trọng từng tấc đất tấc biển của tổ tiên, chính yếu không phải vì giá trị kinh tế của nó, mà vì những tấc đất tấc biển là một phần máu thịt của bản thân. Bởi vì từng tấc đất tấc biển đó, đã thấm biết bao xương máu của tổ tiên, của ông cha chúng ta trong gần 5 ngàn năm dựng nước, mở nước, giữ nước. Trải qua bao đời trong lịch sử, thế hệ chúng ta được sinh ra và lớn lên trên dãi đất có hình cong chữ S, từng tấc đất quê hương đã chuyển thành máu thịt trên mỗi người Việt Nam. Do đó, từ nét nhìn, sự suy nghĩ, cách làm, cùng những cảm xúc của mỗi người chúng ta, đã bắt rễ từ lòng đất quê hương!

Phần phân tách.

Sự kiện ông Phạm Văn Đồng ký văn kiện ngày 14/9/1958 có giá trị pháp lý quốc tế hay không, xin hãy để sang một bên. Ở đây tôi nhấn mạnh đến chữ ký của ông Thủ Tướng công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trở thành lãnh thổ của nước Trung Hoa, là hành động chư hầu của nhóm lãnh đạo VNCS đối với THCS chẳng khác thời phong kiến xa xưa trong lịch sử! Với văn kiện này không thể do ông Thủ Tướng họ Phạm quyết định mà phải là lệnh của Bộ Chính Trị do ông Hồ lãnh đạo. Nói cách khác, ông Phạm ký văn kiện trao hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa cho THCS là theo lệnh ông Hồ. 

Sự kiện ông Lê Khả Phiêu có noi gương “bác Hồ” của ông ta về lăng nhăng tình ái với cô gái Trung Hoa Cheng Mei Wang hay không, xin hãy để sang một bên. Ở đây tôi nhấn mạnh đến chữ ký của ông Tổng Bí Thư đảng CSVN trên Hiệp Ước ngày 25/12/1999 dâng 789 cây số vuông dọc biên giới để trừ nợ mua vũ khí đạn dược sử dụng trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa 1955-1975, là hành động cắt đất bán cho THCS!

Sự kiện ông Trần Đức Lương viện dẫn lý do thăm viếng thiện chí Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân để ký Hiệp Ước ngày 25/12/2000 với nội dung dâng 11.362 cây số vuông trên vịnh Bắc Việt cho THCS, là hành động cắt biển bán cho THCS để lấy 2.000.000.000 mỹ kim, mà theo lời ông Lương để “vuốt ve” sức phản kháng của ông Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, và những người khác trong Quốc Hội. Phải viện dẫn lý do thăm viếng, vì sau khi những tin tức loan truyền khá rộng rãi tại Hà Nội, loan dần vào miền Nam về Hiệp Ước ngày 31/12/1999 bán đất cho THCS và đã âm thầm đưa Hiệp Ước ra Quốc Hội phê chuẩn hồi ngày 9/6/2000. Với hành động không công khai minh bạch, chứng tỏ lãnh đạo VNCS biết những hành động đó là hành động tội ác nên phải che giấu người dân dưới quyền. Biết vậy mà vẫn hành động, chính xác là lãnh đạo VNCS đặt quyền lợi đảng cộng sản Việt Nam lên trên quyền lợi tổ quốc quyền lợi dân tộc, vì quyền lợi của đảng đồng nghĩa với quyền lợi riêng tư của nhóm lãnh đạo hơn 100 đảng viên trong ban chấp hành trung ương của họ. 

Lãnh đạo mà hành động gian trá khi Hiệp Ước bán đất cho THCS loan truyền khắp nơi trong nước, Bộ Chính Trị vội vàng phổ biến trong hàng ngũ đảng viên cao cấp rằng, Việt Nam “chỉ mất một cây số” mà thôi. Tức là xác nhận có mất đất thật. Lại thêm hành động gian trá xảo quyệt của lãnh đạo VNCS, khi công bố giảm án và trả tự do cho Lê Chí Quang để thu hút sự quan tâm các cơ quan truyền thông và các tổ chức nhân quyền quốc tế, khi thấy truyền thông quốc tế lọt bẫy “dương đông kích tây”, họ âm thầm đưa Hiệp Ước ngày 25/12/2000 bán biển cho THCS ra Quốc Hội phê chuẩn ngày 15/6/2004 một cách nhẹ nhàng (trích tài liệu trên Nước Việt Online). 

Mở ngoặc để trích vài đoạn trong bài “Tiếng Nói Từ Mộ Đức” của Đỗ Mai Lộc, được chuyển từ điạ chỉ <hoathoang...> ngày 15/9/2008. Ông Lộc sinh ra và lớn lên tại Mộ Đức (Quảng Ngãi), được học dưới chính sách giáo dục xã hội chủ nghĩa từ tiểu học đến đại học. Tuổi học sinh sinh viên, ông cùng bà con trong vùng đều tự hào về đảng viên Phạm Văn Đồng (Mộ Đức) và đảng viên Trần Đức Lương (Đức Phổ). Nhưng sau 30 năm dưới quyền cai trị của cộng sản độc tài, ông Lộc cay đắng: “Rồi đây, lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ ghi: Ông Phạm Văn Đồng, quê Mộ Đức, với tư cách Thủ Tướng, ngày 14/9/1958 đã ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc về Trung Hoa. Ông Trần Đức Lương, quê Đức Phổ, với tư cách Chủ Tịch nước, ngày 31/12/1999 đã ký Hiệp Ước nhượng cho Trung Hoa hằng ngàn cây số vuông, và ngày 25/12/2000 lại ký Hiệp Ước nhượng hằng chục ngàn cây số vuông trên vịnh Bắc Việt cho Trung Hoa. Vậy là Quảng Ngãi dưới triều đại Hồ Chí Minh, có hai tội đồ cùng tham gia bán nước....” Người dân Quảng Ngãi nói chung và Mộ Đức nói riêng, mô tả triều đại họ Hồ qua hai câu sau đây: “Sống dưới triều đại cha Hồ, làm con thì được làm người thì không”. Trong một đoạn khác, ông Lộc viết: “Vào lúc cuối đời, ông Đồng có câu nói như lời sám hối muộn màng: “Không ai làm Thủ Tướng lâu hơn tôi, cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi”. Đóng ngoặc.

Vậy là, ngoài nhóm 4 tên lãnh đạo tội ác nói trên đã bán đất bán biển cho THCS, thêm nhóm lãnh đạo tội ác thỏa hiệp cho THCS sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào quận Tam Sa tỉnh Hải Nam hồi tháng 11/2007. Rồi tội thêm tội, vì họ sử dụng “hung thần” Công An ngăn chận thanh niên sinh viên học sinh biểu tình phản đối THCS chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam hồi tháng 12/2007. Chưa hết, lại tội thêm tội, khi các thành phần phẫn uất hành động của THCS lẫn phản ứng của VNCS chuẩn bị mít tinh biểu tình trước tòa đại sứ THCS vào ngày 14/9/2008, phản đối chúng trưng dẫn văn kiện của Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại Hà Nội cũng như tại các địa phương, ra sức ngăn chận bắt giữ thẩm vấn những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh biểu tình. Nhóm lãnh đạo tội ác này là Nguyễn Minh Triết trong chức Chủ Tịch nước và Nguyễn Tấn Dũng trong chức Thủ Tướng.

Với những hành động gian trá giấu diếm khi ký ba văn kiện ngày 14/9/1958, ngày 31/12/1999, ngày 25/12/2000, cộng với những hành động gian trá của Quốc Hội khi phê chuẩn hai Hiệp Ước nói trên, cộng thêm sự thỏa hiệp để THCS thành lập quận Tam Sa bao gồm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, lại còn sử dụng Công An đàn áp những ai thể hiện ý thức chính trị ôn hòa qua hành động mít tinh biểu tình phản đối hành động của THCS lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, đích danh Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, là những tên bán đất bán biển cho THCS, một quốc gia với chiến lược trường kỳ xâm chiếm Việt Nam chúng ta! Chỉ riêng cái tội kinh hoàng này mà dân gian gọi là “trời không dung đất không tha”, đã quá đủ để đưa những tên này ra tòa án quốc gia phán xét, và lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian cho đến ngàn năm sau như những tên bán nước từ ngàn năm trước. 

Xin nói thêm, trong những bài viết thời sự phổ biến trên NET, chưa bao giờ tôi dùng chữ thằng, tên, hay nó, để chỉ người lớn tuổi hơn tôi, bởi đạo lý Việt Nam chúng ta luôn kính trọng người lớn tuổi, nhưng có kính trọng nhân cách của người lớn tuổi đó hay không, lại là điều khác. Riêng trường hợp này tôi gọi Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng là những tên bán nước, vì kẻ bán nước không bao giờ được người đời gọi bằng ông dù họ bao nhiêu tuổi hay giữ chức vụ gì trong xã hội. Kẻ bán nước phải bị tòa án trừng phạt, người đời trừng phạt, lịch sử ngàn đời trừng phạt họ. Tôi không nói lương tâm trừng phạt họ, vì họ làm gì có lương tâm của người tử tế mà tự trừng phạt. 

Nhớ lại vào năm 2006, sau khi đảng cộng sản đưa Nguyễn Minh Triết vào chức Chủ Tịch nước và Nguyến Tấn Dũng vào chức Thủ Tướng đảng cộng sản (không do dân bầu), có dư luận cho rằng hai đảng viên cộng sản này thuộc nhóm cấp tiến có thể chuyển đổi chế độ. Dưới nét nhìn của tôi, các nhóm lãnh đạo CSVN từ sau chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa kết thúc ngày 30/4/1975 đến nay, chỉ có một thành phần cộng sản cực đoan chớ không có cấp tiến gì cả, chẳng qua là quan điểm cực đoan của họ khác nhau về bảo vệ chế độ độc tài và phân chia quyền lực trong mục đích cuối cùng là quyền lợi riêng tư mà thôi. Bằng chứng:

Ngày 5/9/2006, Thủ Tướng đảng CSVN tuyên bố hủy bỏ Nghị Định 31 về quản chế hành chánh (bắt giam tùy tiện) làm cho nhiều người trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại lẫn đồng bào trong nước tưởng như họ có bước tiến về dân chủ pháp trị, nhưng theo luật sư Lê Thị Công Nhân, hành động đó chẳng qua CSVN đem chôn một cái xác (NĐ 31) đã chết từ lâu. Vì từ ngày 1/10/2002 CSVN đã ban hành Pháp Lệnh “xử lý vi phạm hành chánh” chặt chẻ hơn Nghị Định 31 mà họ hủy bỏ. Trên nguyên tắc, Pháp Lệnh chỉ dưới Hiến Pháp và Luật, tức cao hơn Nghị Định, mà trong Pháp Lệnh này có đầy đủ những qui định trong NĐ 31. Chưa hết, tiếp theo Pháp Lệnh năm 2002 xử lý vi phạm hành chánh là Nghị Định 38/CP ngày 18/3/2005 về cấm tập họp đông người, và Nghị Định 56/CP ngày 6/6/2006 về kiểm soát văn hóa & thông tin, vừa chặt chẻ vừa tinh vi trong chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng toàn dân toàn đảng của họ”. (trích bài viết của luật sư Lê Thị Công Nhân ngày 11/11/2006 tại Hà Nội). Độc tài chuyên chính như vậy mà gọi là cấp tiến sao? 

Ngày 27/8/2007 tại Tổng Cục Chính Trị CSVN Hà Nội, Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch nước CHXHCN Việt Nam tuyên bố rằng: “... Tôi khằng định trước sau như một là chúng ta vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải xây dựng đảng của chúng ta. Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 Hiến Pháp thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố tự sát, cho nên phải củng cố công tác tư tưởng, củng cố vai trò của đảng”. (trích bản tổng hợp 220 sự kiện về nhân quyền và chính trị tại Việt Nam năm 2007). Độc tài chuyên chính như vậy mà gọi là cấp tiến sao? 

Và chỉ riêng lời phát biểu ngắn ngủi trên đây của ông Triết, tôi nhận ra 4 điều: (1) NMT thừa nhận chế độ độc tài CSVN không được người dân ủng hộ, nên phải ra lệnh củng cố quyền lực của đảng để tiếp tục đàn áp dân trong khi vẫn khẳng định điều gọi là tiến lên chủ nghĩa xã hội. (2) Bỏ điều 4 trong Hiến Pháp là chế độ độc tài tan rã đến mức đảng viên trong Bộ Chính Trị phải tự sát, vì nếu không thì NMT và các đảng viên lãnh đạo khác không thể yên thân bởi khối dân oan hằng triệu hằng triệu người mà chế độ độc tài đã đẩy họ vào thảm cảnh đó. (3) Chứng tỏ các đảng viên trung ương đảng CSVN gồm cả Bộ Chính Trị sợ mất quyền lực quyền lợi chớ không hề nói đến trách nhiệm của cấp lãnh đạo với dân với nước. (4) NMT hoàn toàn là một đảng viên cộng sản cực đoan ở hàng lãnh đạo độc tài chuyên chính. 

Vì vậy:

Với tư cách nạn nhân cộng sản Việt Nam nói riêng, cho dẫu chúng ta có muốn quên cũng không thể nào quên tội ác của những tên bán đất bán biển cho Trung Hoa cộng sản: (1) Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, gởi Công Hàm chấp nhận Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Trung Hoa cộng sản. (2) Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, ký hai Hiệp Ước bán 789 cây số vuông biên giới để trừ nợ mua vũ khí đạn dược xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, và bán 11.362 cây số vuộng trên vịnh Bắc Việt cho Trung Hoa cộng sản với giá 2.000.000.000 mỹ kim. (3) Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, thỏa hiệp Hoàng Sa Trường Sa thuộc quận Tam Sa của Trung Hoa cộng sản, đồng thời ngăn chận đàn áp bắt giữ những ai bày tỏ thái độ chính trị qua các cuộc mít tinh biểu tình chống đối THCS lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, mà đúng ra họ phải nhân danh lãnh đạo hành động mạnh mẽ đế chống THCS. 

Với nạn nhân cộng sản thế giới nói chung, Tượng Đài Nạn Nhân Cộng Sản Thế Giới khánh thành ngày 12/6/2007 tại Washington DC do Tổng Thống Hoa Kỳ chủ tọa, là biểu tượng thảm họa kinh hoàng trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản -có cả nạn nhân của cộng sản độc tài Việt Nam- được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt chế độ này đến tận cùng gốc rễ, vì “chế độ cộng sản độc tài là tàn bạo và phi nhân”. Dòng chữ ngắn ngủi này là lời lên án mạnh mẽ trong bài phát biểu của Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush.

Từ đó, tôi tin chắc rằng, chế độ cộng sản độc tài Việt Nam nhất thiết sẽ phải sụp đổ, và sụp đổ do bạo loạn mà nòng cốt là đồng bào bị áp bức và những cá nhân cùng những tổ chức đấu tranh dân chủ trong nước, với hỗ trợ mạnh mẽ của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, và một số quốc gia luôn cổ võ dân chủ hóa các dân tộc bị áp bức bởi chủ nghĩa cộng sản. Chỉ khi nào chế độ cộng sản bị triệt tiêu, con người và các ngành sinh hoạt quốc gia mới có môi trường phát triển toàn diện trong một xã hội dân chủ pháp trị, mọi người được sống và làm việc theo nguyện vọng của mình.

Và từ đó, tôi tin tưởng mãnh liệt vào nhóm lãnh đạo Việt Nam phục vụ nguyện vọng đồng bào trong giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, sẽ xây dựng thành công một xã hội văn minh nhân bản, một quốc gia phát triển toàn diện theo hình tượng chiếc phản lực cơ thương mại cất cánh từ đường băng vươn mình lên bầu trời xanh rộng mở./. 

Houston, ngày 19 tháng 10 năm 2008
Phạm Bá Hoa
 

Đầu trang