| Thưa quí bạn, giáo sư Bruce Bueno
de Mesquito, Khoa Trưởng Khoa Chính Trị Học tại đại học
New York, thành viên của nhóm nghiên cứu Hoover. Và giáo sư
George W. Downs, giáo sư chính trị học, kiêm Khoa Trưởng Khoa
Khoa Học Nhân Văn cũng tại đại học New York, trong bài viết
chung "Development and Democracy" đăng trong tạp chí Foreign Affairs,
số phát hành tháng 9 và tháng 10 năm 2005. Bài viết do ông
Trần Bình Nam lược dịch. Tôi xin tóm lược và góp ý ở
phần cuối.
"Hai mươi lăm năm trước, khi ông
Ðặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo Trung Hoa bắt đầu cởi mở
kinh tế tại đất nước cộng sản rộng lớn này, các nhà
chính trị Tây Phương tiên đoán trước sau gì Trung Hoa cũng
phải cởi mở chính trị. Bởi người ta tin rằng, khi cởi
mở kinh tế sẽ dẫn đến cởi mở chính trị, và từ đó,
xã hội Trung Hoa sẽ được dân chủ hóa. Ðiều này sẽ đúng
ở bất cứ nơi nào trên thế giới chớ không riêng gì Trung
Hoa cộng sản. Lập luận này dựa trên căn bản là sự phát
triển kinh tế sẽ tạo nên một tầng lớp trung lưu có đầu
óc kinh doanh, và có kiến thức chính trị. Và tầng lớp này
trước hay sau sớm hay muộn, cũng sẽ đòi hỏi những quyền
tự do căn bản mà thế giới đã thừa nhận, lúc ấy nhà
cầm quyền cho dẫu là độc tài cũng phải nhượng bộ.
"Người ta dựa vào sự kiện là
trên thế giới ngày nay, những quốc gia giàu có đều là những
quốc gia dân chủ để biện minh cho lập luận này. Tuy nhiên,
lịch sử đang diễn ra cho thấy vấn đề không đơn giản
với lập luận như vậy. Hình như cái gạch nối giữa phát
triển kinh tế với xã hội dân chủ không phải là điều
tất yếu. Bởi vì một số chế độ độc tài trên thế giới
đã chứng tỏ rằng, họ có thể thúc đẩy kinh tế phát triển
đồng thời với kềm chặt sinh hoạt dân chủ. Trung Hoa cộng
sản và Liên Bang Nga hậu cộng sản, là hai trường hợp điển
hình. Liên Bang Nga trong thời gian gần đây, kinh tế có khởi
sắc, nhưng nhà lãnh đạo tại điện Kremlin thắt chặt hơn
về những sinh hoạt chính trị
"Như vậy, tại các nước độc
tài, sự phát triển kinh tế, chẳng những không giúp ích gì
trong việc thúc đẩy xã hội tiến đến dân chủ, mà đôi
khi còn làm cho nhà cầm quyền vững mạnh thêm là khác. Trong
những năm 80, ông Triệu Tử Dương, Thủ Tướng Trung Hoa cộng
sản có nói rằng: "Dân chủ là điều mà một chế độ xã
hội không thể tránh được". Nhưng trong nửa thế kỷ qua,
có quá nhiều trường hợp điển hình trên thế giới, cho
thấy là những nhà lãnh đạo độc tài có nhiều cách ngăn
chận hoặc làm chậm bước tiến của xã hội sang dân chủ,
mà mục đích chính của họ chỉ để bám giữ quyền lực.
"Vậy, động lực nào làm cho dân
chủ không song hành với phát triển? Ðó là do ứng xử
khôn khéo của
những nhà độc tài.
"Những người chủ trương thuyết
"phát triển ắt đưa đến dân chủ" tin rằng, kinh tế phát
triển làm lợi tức đầu người tăng, và khi đầy đủ vật
chật thì người dân có khuynh hướng đòi hỏi quyền chính
trị. Nhưng những người đó quên rằng, những nhà độc tài
có khả năng và phương tiện trong tay để trì hoãn hay ngăn
chận sự đòi hỏi này, và càng ngày họ càng tỏ ra xuất
sắc về biệt tài bóp chết dân chủ.
"Những nhà độc tài nhìn phát triển
kinh tế như con dao hai lưỡi. Một mặt nó giúp củng cố chế
độ, vì nó giúp chánh phủ thu thuế nhiều hơn và cung ứng
cho nhà độc tài nhiều phương tiện để đương đầu với
một số vấn đề xã hội. Trong ngắn hạn, sự phát triển
kinh tế làm cho người dân thấy nhà cầm quyền làm được
việc, và từ đó có thể họ thấy không cần đòi hỏi phải
thay đổi chế độ.
"Mặt khác, sự phát triển kinh tế
giúp cho lực lượng đối lập có phương tiện ra đời, và
tối hậu là tranh chấp quyền lực chính trị với nhà cầm
quyền, vì sự phát triển kinh tế tạo cho người dân có thì
giờ tham gia các sinh hoạt chính trị, để thúc đẩy nhà cầm
quyền phải thực hiện tiến trình dân chủ hóa đất nước.
"Cho đến lúc này, các nhà hoạch
định chính sách của Tây Phương và các chuyên viên về phát
triển vẫn tin vào lý thuyết của ông Seymour Martin Lipset rằng:
"Dân chủ sẽ theo gót của sự phát triển kinh tế, mà các
nhà lãnh đạo độc tài không cách gì ngăn chận nỗi sự
song hành này". Nhưng ít ai để ý đến lời ghi chú của ông
Lipset rằng: "Tiến trình này không phải là một tiến trình
tất yếu". Nó đã đúng ở Tây Âu vì nó thích ứng với hoàn
cảnh xã hội và văn hóa ở đó.
"Những người độc tài không theo
qui luật ấy, mà trái lại, họ biết đặt ra những qui luật
những định chế có lợi cho họ. Ðiển hình như cộng sản
Việt Nam ghi điều 4 trong Hiến Pháp, giành quyền lãnh đạo
đất nước trong tay họ chẳng hạn. Một điều nữa là họ
đã chứng tỏ cái khả năng đương đầu với ngọn gió dân
chủ trong nước cũng như ngoài nước, trong khi họ vẫn thúc
đẩy kinh tế phát triển.
"Ðể giải thích bằng cách nào
mà những nhà độc tài dìm các trào lưu dân chủ, chúng ta
cần hiểu thế nào là "phối hợp chiến lược" (strategic coordination).
Phối hợp chiến lược, là một danh từ trong khoa Khoa Học
Chính Trị (political science) là một số hoạt động đối lập
phải làm để tranh giành nắm lấy quyền lực chính trị.
Thí dụ như phổ biến những thông tin tuyển mộ nhân sự,
tổ chức, đến vấn đề chọn người lãnh đạo, và hoạch
định đường lối thực hiện.
"Trong một quốc gia đang phát triển,
thành thị được mở mang, kỹ thuật và hạ tầng kiến trúc
vững chắc, giáo dục được cải tiến, sẽ giúp cho sự thông
tin, tuyển mộ nhân sự và vấn đề tổ chức của đối lập
được dễ dàng hơn. Nắm được điều đó, những nhà độc
tài sẽ bóp chẹt sự phối hợp chiến lược của lực lượng
đối lập, nhưng họ không để hành động của họ ảnh hưởng
nhiều đến sự phát triển kinh tế.
"Hãy xét một vài trường hợp trong
ba năm qua. Trung Hoa cộng sản thỉnh thoảng cho chận các bản
tin bằng Anh ngữ của Google, và mới đây, đã áp lực công
ty Microsoft chận các danh từ như "Freedom, Democracy" trong các
software dùng bởi những người chơi blog để trao đổi quan
điểm với nhau. Trước đây, Trung Hoa cộng sản đã sử dụng
trăm phương ngàn kế để hạn chế việc sử dụng internet,
đến mức thành lập hẳn một đội Công An có khả năng chuyên
môn lo việc ngăn chận các cổng vào internet từ ngoại quốc.
Tại Liên Bang Nga, Tổng Thống Putin ra lệnh kiểm soát chặt
chẽ các đài truyền hình. Năm 2003, ông cho bắt nhốt nhà
kinh doanh Mikkhail Khodorkosky, một người từng công khai chỉ
trích ông Putin.
"Tháng 12 năm 2004, Tổng Thống Hugo
Chavez của Venezuela vận động Quốc Hội thông qua đạo luật
cấm báo chí và truyền hình phổ biến các hành động chống
chánh phủ có tính cách bạo hành, và các biện pháp đàn áp
của chánh phủ. Luật này cũng cho phép chánh phủ đóng cửa
các cơ sở truyền thông vi phạm các luật lệ rất mơ hồ.
Trong khi đó, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam kiểm soát
chặt chẽ các tổ chức tôn giáo không chịu đặt dưới sự
kiểm soát của chánh phủ, và gắn cho quí vị lãnh đạo các
tôn giáo này có ý đồ gây xáo trộn xã hội. Ðó là những
lãnh vực trấn áp mà những nhà độc tài biết cách làm cho
đối lập khó tổ chức, cũng như khó phối hợp hành động
với nhau, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển.
Cùng lúc, nhà cầm quyền độc tài đầu tư rộng rãi vào
những lãnh vực phát triển kinh tế mà đối lập không khai
thác được gì trong những lãnh vực đó, như chuyên chở công
cộng, dịch vụ y tế, giáo dục trung cấp, và quốc phòng.
"Nhìn lại thời gian qua, chúng ta
thấy có một thời kỳ mà các nhà lãnh đạo độc tài đã
kềm hãm mọi hoạt động cho lực lượng đối lập bó tay,
và nhận ra nền kinh tế quốc gia suy sụp. Ðó là trường
hợp mà hầu hết các quốc gia Á Châu, và hiện nay vẫn duy
trì tại Miến Ðiện và Zimbabwe. Gần đây, Liên Bang Nga, Trung
Hoa cộng sản, và Việt Nam, đã thay đổi chính sách đối
lập, chỉ chèn ép ở lãnh vực nào đó không ảnh hưởng
nhiều đến phát triển kinh tế.
"Trên nguyên tắc, có bốn lãnh vực
cần thiết cho hoạt động của lực lượng đối lập, là
quyền chính trị, nhân quyền hiểu theo nghĩa rộng, tự do
báo chí, và giáo dục cao cấp, mà những nhà độc tài chèn
ép gắt gao hơn hết, nhất là lãnh vực tự do báo chí.
"Quyền chính trị bao gồm;
quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, và quyền
biểu tình ôn hòa. Nhân quyền hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm; quyền không bị bắt trái phép, quyền ra tòa nếu bị
bắt giữ, quyền không bị kỳ thị tôn giáo, chủng tộc,
giới tính, quyền không bị xâm phạm thể xác, và quyền tự
do đi lại. Những quyền này giúp đối lập bảo vệ nhân
sự và tổ chức khi bị đàn áp. Quyền tự do báo chí giúp
đối lập trao đổi thông tin, tổ chức, và xây dựng phong
trào. Sau cùng là quyền được hấp thụ giáo dục cao cấp,
giúp đối lập đào tạo nhân tài.
"Cuộc nghiên cứu trong thời gian
từ năm 1970 đến năm 1999, đã chứng tỏ là những nhà độc
tài nắm được sự vận dụng của đối lập nên họ đã
thẳng tay tước bỏ quyền chính trị, quyền con người, và
bịt miệng truyền thông báo chí, cùng lúc đầu tư vào giáo
dục và y tế công cộng. Vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên
khi thấy hai chánh quyền độc tài nhất trên thế giới, là
Cuba có một hệ thống y tế công cộng gần như hoàn hảo,
và tại Bắc Hàn có đến 95% dân số biết đọc biết viết.
"Cái thực tế "phát triển chưa
chắc dẫn tới dân chủ" giúp những nhà hoạch định chính
sách tại Hoa Kỳ và các quốc gia có nền dân chủ pháp trị
tân tiến, rút ra ba hệ luận sau đây:
"Thứ nhất, thức đẩy phát
triển kinh tế tại các nước đang mở mang không phải là
cách tốt nhất để thực hiện dân chủ. Những nhà độc
tài hiểu rằng, phát triển kinh tế có thể đe dọa chế độ
độc tài của họ, nhưng họ cũng biết nhiều cách để trì
hoãn sự đe dọa đó một cách có kết quả. Họ không cung
ứng cho lực lượng đối lập những phương tiện để hoạt
động như tước bỏ quyền chính trị, quyền con người, quyền
tự do báo chí trong mục đích làm mất tinh thần đối lập.
Ðồng thời ban bố nhiều quyền lợi cho giới doanh thương
và các tướng lãnh để hai giới này ủng hộ và bảo vệ
chế độ tồn tại.
"Thứ hai, các nhà hoạch định
chính sách Phương Tây cần hiểu rằng, muốn thúc đẩy dân
chủ thông qua viện trợ phải đòi hỏi điều gỉ ở quốc
gia nhận viện trợ. Thí dụ như Ngân Hàng Thế Giới, mỗi
khi cho vay một món tiền với điều kiện quốc gia vay tiền
phải đầu tư vào các kế hoạch xây dựng hạ tầng cơ sở,
y tế, giáo dục trung cấp, với tin tưởng rằng, tiền cho
vay đó giúp phát triển kinh tế, vì nghĩ rằng từ đó sẽ
dẫn đến dân chủ là sai lầm. Nói chung, chính sách ngoại
viện như đang được áp dụng chỉ làm cho những nhà độc
tài thêm vững mạnh. Cho nên các khoản tiền cho vay dù cho
dự án nào cũng cần kèm theo những điều kiện phải bảo
đảm cho mọi người dân được hưởng quyền chính trị,
quyền con người, quyền tự do báo chí, quyền được hưởng
giáo dục cao cấp.
"Và thứ ba, phần này liên
quan đến Trung Ðông. Người ta thường cho rằng, cuộc bầu
cử đầu năm 2005 tại Iraq, cuộc rút quân của Syria ra khỏi
quốc gia Liban, các cuộc bầu cử sắp tới tại Liban, Saudi
Arabia, và Ai Cập, là những dấu hiệu dân chủ đang ló dạng
tại những quốc gia đó. Tuy nhiên, những nhà hoạch định
chính sách Phương Tây cần thực tế một chút. Các chế độ
độc tài ngự trị tại Liban, Saudi Arabia, Ai Cập, trải dài
50 năm qua, và vẫn còn nguyên đó. Muốn đo lường dân chủ
tại các quốc gia đó, thiết tưởng cần đặt câu hỏi: "Truyền
thông được kiểm soát như thế nào?" Người dân có quyền
biểu tình bày tỏ ý kiến phản đối chánh phủ không? Nếu
câu trả lời là có, thì điều đó mới thật là con đường
dẫn đến dân chủ, chớ nếu theo cái kiểu "đảng đề cử
dân bầu cử", nhất thiết đó không phải là dân chủ.
Hai giáo sư tác giả kết luận:
"Chừng nào người dân chưa được
hưởng những quyền về chính trị, về nhân quyền, về tự
do báo chí, chừng đó, Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, các quốc
gia giàu có khác, và các cơ sở tài chánh thế giới, cần
tiếp tục gây sức ép với những nhà lãnh đạo độc tài
để họ thực hiện dân chủ hóa đất nước".
Thưa quí vị, dựa vào quan điểm
của hai giáo sư tác giả bài nghiên cứu "Phát Triển và Dân
Chủ", dịch giả Trần Bình Nam giải thích sự kiện Việt
Nam như sau: "Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào
cuối những năm 80 trên đà kiệt quệ, buộc phải thay đổi
chính sách để có cơ tồn tại. Nhưng sau gần 20 năm "mở
cửa đổi mới", Việt Nam có phát triển kinh tế đáng kể,
nhưng về quyền chính trị của người dân vẫn trong tình
trạng giậm chân tại chỗ. Nếu nhìn sang nước Trung Hoa cộng
sản, lãnh đạo của họ thay đổi chính sách kinh tế đã
25 năm, người dân nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vẫn bị
kềm chặt về dân chủ".
Hết phần tóm lược.
Về phần tôi, qua bài nghiên cứu
của giáo sư Bruce Bueno de Mesquita và giáo sư George W. Downs,
cho thấy một thực tế là các nhà chính trị Phương Tây,
cùng với các cơ quan tài chánh quốc tế -nhất là Hoa Kỳ
với Liên Hiệp Âu Châu- và những doanh gia đã đầu tư vào
Trung Hoa cộng sản trong 25 năm qua, và gần 20 năm đối với
Việt Nam cộng sản, chẳng những đã không giúp ích gì cho
công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị, mà trái lại,
đã giúp cho chế độ độc tài tại hai quốc gia cộng sản
này có phần được củng cố so với giai đoạn kiệt quệ
trong những năm 70 đối với Trung Hoa, và những năm 80 đối
với Việt Nam. Vậy, phải chăng, các nhà hoạch định chính
sách cũng như các doanh gia đã sử dụng thuyết "kinh tế phát
triển sẽ dẫn đến dân chủ" của ông Seymour Martin Lipset
một cách cứng nhắc, nên ít nhất là cho đến nay, đã không
thành công nếu không nói là thất bại chừng mực? Cho dù
có phải hay không phải, điều hiển nhiên trong thực tế là
hai nhóm lãnh đạo độc tài Trung Hoa cộng sản và Việt Nam
cộng sản vẫn tồn tại, và họ đã thành công có mức độ
với chính sách ngăn chận sức phát triển của lực lượng
đối lập, trong nước lẫn ngoài nước.
Kèm theo thuyết "kinh tế phát triển
sẽ dẫn đến dân chủ", ông Lipset có nhận định rằng: "Những
nhà độc tài sẽ không ngồi yên, mà trái lại, họ biết
đặt ra những qui luật những định chế có lợi cho họ".
Thưa quí bạn, thực tế đã chứng
minh nhận định đó của ông Lipset. Ðiển hình là điều 4
trong Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,
giành quyền lãnh đạo tuyệt đối cho nhóm lãnh đạo của
họ, và họ coi đó như một loại "phán quyết" từ trong lịch
sử do chính họ tạo nên, và buộc người dân phải chấp
nhận thi hành. Tương tự như vậy, quan điểm của họ về
nhân quyền cũng theo cách riêng của họ, dĩ nhiên là cách
riêng đó hoàn toàn trong mục đích bảo vệ quyền lực của
nhóm lãnh đạo, trong khi thế giới ngày nay có khuynh hướng
chấp nhận quan điểm chung về những vấn đề chính trị
cũng như xã hội, mà tổ chức Liên Hiệp Quốc được giao
trách nhiệm điều hợp, ít nhất là với các quốc gia thành
viên. Việt Nam là một thành viên trong đó, nhưng họ không
tôn trọng. Hay nói cho đúng là lãnh đạo cộng sản Việt
Nam, chỉ tôn trọng những nguyên tắc nào của Liên Hiệp Quốc
có lợi cho quyền lực của họ mà thôi, còn thì họ ngoan
cố với những viện dẫn khác nhau nhưng tựu trung dẫn đến
kết luận là không phù hợp với xã hội xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Dịch giả Trần Bình Nam cho rằng,
với nét nhìn của giáo sư Bruce và giáo sư Downs, trong một
mức độ nào đó, có khả năng giải thích tại sao sau gần
20 năm "mở cửa đổi mới" mà đối lập Việt Nam vẫn chưa
hình thành được một lực lượng trên lãnh thổ Việt Nam.
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, ngoài việc bít tất cả
các lối dẫn vào dân chủ như quyền tự do báo chí, quyền
tự do lập hội, quyền tự do thông tin trên NET, họ còn có
trong tay mọi phương tiện để mua chuộc bất cứ cá nhân
hay tổ chức nào mà họ thấy cần mua chuộc, như về quyền
nắm giữ nhà đất chẳng hạn. Nhà cầm quyền nắm toàn bộ
đất đai nhà cửa trong tay, họ có thể cung cấp một ngôi
nhà thật đẹp để bịt miệng một cán bộ có công với
đảng mà nay trở thành đối lập, như trường hợp tướng
Trần Văn Trà trong nhóm câu lạc bộ kháng chiến trong những
năm 90. Nắm quyền cho ở hay đi, nghĩa là nhà cầm quyền có
thể cấp hay không cấp chiếu khán cho những nhân vật chống
đảng độc tài xuất ngoại như trường hợp nhà văn Bùi
Ngọc Tấn.
Trong trường hợp khác, ông Hoàng
Minh Chính, một đảng viên lão thành đã trở thành nhân vật
chống đối nhóm lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, vừa được
họ cho xuất ngoại sang Hoa Kỳ chữa bệnh ung thư, đã là
dấu hỏi đối với những nhà đấu tranh cho dân chủ trên
quê hương cũng như tại hải ngoại. Và trường hợp khác
nữa, lãnh đạo cộng sản Việt Nam phối hợp với Hoa Kỳ,
quốc gia có cùng quyền lợi trong hiện nay, cho phép một số
nhà đối lập công khai xuất hiện tại tòa lãnh sự Hoa Kỳ
ở Sài Gòn, nhân buổi tiếp tân mừng Quốc Khánh Hoa Kỳ đầu
tháng 7 năm 2005, là một dấu hỏi khác.
Chắc chắn là hành động của nhóm
lãnh đạo cộng sản Việt Nam không xuất phát từ lòng nhân
đạo, mà là từ những thủ đoạn chính trị khác nhau. Với
những thủ đoạn đó, họ mở nơi này đóng nơi khác, hoặc
cùng lúc với mở cũng là lúc đóng lại. Trong ngôn ngữ dân
gian, gọi đó là cách "xì hơi" để tránh nổ tung nếu bị
căng đầy.
Mặt khác, họ cũng nắm bắt qui
luật khi những nhân vật chống đối họ cùng gặp nhau trong
một quyền lợi, thể nào cũng nảy sinh những va chạm, từ
đó dẫn đến tranh chấp, tạm gọi là tranh chấp trong nội
bộ đối lập. Thực tế cũng chứng minh điều này, là khi
xuất hiện công khai tại tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn đầu
tháng 7 năm 2005, đã phát sinh trao đổi quan điểm giữa nhà
văn Hoàng Tiến với nhà địa chất Nguyễn Thanh Giang sau đó.
Ðiều này còn là một biểu hiện cho thấy, từ nay, lực lượng
đối lập, chẳng những phải đối đầu với nhà cầm quyền
cộng sản Việt Nam, mà còn phải đối đầu với những đòi
hỏi từ phía Hoa Kỳ nữa. Có thể nói rằng, Hoa Kỳ vừa
là cái dù vừa là cái thắng của những nhà đối lập chính
trị đối với lãnh đạo cộng sản Việt Nam.
Thưa quí bạn, đây là quan điểm
của tôi về tình hình phát triển trên quê hương. Từ khi
lãnh đạo cộng sản Việt Nam chấp nhận "mở cửa đổi mới"
vào cuối những năm 80, là họ chỉ mở cánh cửa kinh tế,
xã hội, và hoàn toàn khép chặt cánh cửa chính trị, bất
chấp những cảnh báo, thậm chí là những hình thức lên án
nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, từ các nhà lãnh đạo
Phương Tây cũng như từ các tổ chức nhân quyền trên thế
giới. Phải thừa nhận rằng, người Phương Tây, cũng có
thể nói chung là những nhà chính trị có quan điểm dân chủ
Phương Tây, nhìn nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam như những
con người chân thành, hay nếu có ngoan cố
cũng là ngoan cố
vừa phải, cho nên dễ chấp nhận những lời hứa của họ.
Chẳng hạn họ hứa sẽ đổi mới chính trị, sẽ tôn trọng
nhân quyền, ..v..v.. nhưng họ chưa bao giờ thực hiện như
lời đã hứa, có quá lắm là họ chỉ thực hiện một cách
nhỏ giọt đủ để tránh chỉ trích thêm nữa. Vậy mà họ
vẫn qua mặt các nhà chính trị Phương Tây hết lần này đến
lần khác.
Nhớ lại khi Tổng Thống Bill Clinton
ký thỏa ước thương mại song phương với Việt Nam, ông nói
đại ý rằng: "Thỏa ước này sẽ dẫn Việt Nam đến dân
chủ". Nhưng hai năm sau đó, một bài báo trên tờ Washington
Post cho thấy tình hình thực hiện thỏa ước này không như
Tổng Thống Bill Clinton cũng như các cố vấn của ông nghĩ,
vì thỏa ước chỉ mang lại uy tín và sự giàu sang tột đỉnh
cho nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, cùng những công ty
có nguồn gốc cộng sản, trong khi đại đa số người dân
vẫn sống trong nghèo khổ mà cơ quan thống kê Liên Hiệp Quốc
ghi nhận. Về phía Hoa Kỳ cũng chẳng đạt được lợi ích
gì dù chỉ là lợi ích chính trị. Tương tự như vậy về
phía Trung Hoa, khi thảo luận về việc nước cộng sản rộng
lớn này gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới -gọi tắt
theo Anh ngữ là WTO- họ hứa tất cả những gì mà Hoa Kỳ
đòi hỏi một tiến trình dân chủ cho 1 tỷ 300 triệu dân
của họ. Thế nhưng, sau khi chánh thức trở thành thành viên
của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới, Trung Hoa cộng sản không
một hành động nào để thực hiện lời đã hứa, mà trái
lại, ngày càng bóp nghẹt những gì thuộc về quyền lợi
chính trị của người dân Trung Hoa. Cũng vì vậy mà chánh
phủ của Tổng Thống Bush trở nên thận trọng hơn, khi thảo
luận những điều kiện về vấn đề Việt Nam cộng sản
trên đường gia nhập WTO, do kinh nghiệm từ nhóm lãnh đạo
Trung Hoa cộng sản trước đó.
Thưa quí bạn, vấn đề đặt ra,
cứ cho rằng đến nay thì Phương Tây nhận rõ được "bản
chất dối trá" của lãnh đạo cộng sản cho dù là cộng sản
Trung Hoa hay cộng sản Việt Nam cũng vậy, nhưng liệu Phương
Tây có chính sách mới để gây áp lực hai quốc gia cộng
sản này, đặc biệt là lãnh đạo nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam, thực hiện một tiến trình dân chủ thật
sự cho người dân hay không? Nhưng cho đến bây giờ, vẫn
chưa có dấu hiệu nào cho phép suy đoán là các nhà lãnh đạo
Phương Tây đã thừa nhận "chính sách giúp Việt Nam phát triển
kinh tế chưa phải là chính sách hữu hiệu đưa Việt Nam vào
tiến trình dân chủ, mà phần nào đó có tác dụng ngược".
Nếu nhận ra thực tế này, chẳng lẽ những nhà chính trị
Phương Tây không gây một áp nào để buộc nhóm lãnh đạo
cộng sản Việt Nam thực thi những điều đã hứa hay sao?
Vấn đề là ở chính sách của những quốc gia đó. Nếu chúng
ta chấp nhận bài nghiên cứu của giáo sư Bruce với giáo sư
George, tức là thừa nhận "các nhà lãnh đạo Phương Tây giúp
chế độ độc tài phát triển kinh tế nhưng không nhất thiết
tự nó dẫn đến một xã hội dân chủ", và Việt Nam là trường
hợp điển hình, thì thử đặt vào trường hợp ngược lại.
Nếu như những nhà chính trị Phương Tây cũng như những tổ
chức tài chánh quốc tế, vẫn tin vào thuyết "phát triển
kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ", và tiếp tục chính sách
giúp Việt Nam phát triển kinh tế xã hội, thì liệu mục tiêu
chiến lược của công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị
trên quê hương Việt Nam sẽ như thế nào?
Thử nêu giả thuyết: "Hoa Kỳ và
các nhà lãnh đạo Phương Tây lẫn Nhật Bản, Ðại Hàn, Thái
Lan, ..v..v.. vẫn tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam phát triển
kinh tế, trong khi chế độ độc tài này vẫn một mực không
trả lại cho người dân bất cứ một quyền chính trị nào,
thì
lực lượng dân chủ trong nước cũng như tại hải ngoại
có cần phải hoạch định lại chiến lược chiến thuật
cho thích hợp chăng?"
Tôi nghĩ không cần hoạch định
một chiến lược chiến thuật khác, nhất là với lực lượng
dân chủ trong Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
vì trong thỏa ước song phương, Hoa Kỳ có ràng buộc cộng
sản Việt Nam từng bước thực hiện dân chủ. Vì vậy mà
chúng ta tiếp tục vận động và mạnh mẽ hơn -nhất là tại
Hoa Kỳ- trong chiến dịch vận động các vị dân cử cấp
thành phố cấp tiểu bang, tiếp tục chánh thức công nhận
quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta. Vận
động các vị dân cử cấp Liên bang, đưa ảnh hưởng của
Cộng Ðồng liên quan đến mục tiêu dân chủ hóa vào các
đạo luật liên quan đến nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam. Ðồng thời chúng ta cũng phải chứng tỏ sức mạnh
của mình qua lá phiếu. Nghĩa là, tất cả những thành viên
đương nhiên trong Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản
tại hải ngoại đã có quốc tịch, hãy nhiệt tình tham gia
các cuộc bầu cử dù là bầu cử địa phương hay bầu cử
liên bang.
Ðây không phải là công cuộc vận
động riêng cho Cộng Ðồng chúng ta, mà đây cũng là cuộc
vận động hỗ trợ cho chính sách của Hoa Kỳ về hỗ trợ
những xã hội dân chủ, mà Tổng Thống Bush đã tuyên bố
trong ngày nhận chức nhiệm kỳ 2. Nghĩa là mục tiêu chiến
lược của chúng ta không trái với chính sách của chánh phủ
Hoa Kỳ.
Nêu ý kiến này, tôi vẫn nhớ là
có những vị dân cử tại Hoa Kỳ, có khuynh hướng ủng hộ
nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Trong xã hội dân chủ,
sự kiện này cũng là bình thường, nhưng không phải là không
khó khăn cho công cuộc vận động của chúng ta
Với những vị trong nhóm đấu tranh
dân chủ trong nước, cần thống nhất hành động, hay ít nhất
cũng cần phối hợp hành động, trong mục đích đào sâu những
hành động của nhà cầm quyền Hà Nội, vẫn bóp nghẹt quyền
chính trị của người dân cùng với quyền về tự do tôn
giáo, và đưa những tin tức đó lên NET đồng thời chuyển
ra hải ngoại bằng những cách thích hợp. Cùng lúc, bằng
cách nào đó, cung cấp cho thành phần trí thức, sinh viên,
đảng viên, tướng lãnh sĩ quan trong quân đội, ..v..v.., nói
chung là nhắm vào những cá nhân hay những thành phần không
nhiều bổng lộc, để gây sự chú ý và suy nghĩ trong họ.
Trước mắt, chưa dám mong những thành phần này tham gia vào
công cuộc đấu tranh đòi thực hiện dân chủ, mà chỉ mong
họ ngầm ủng hộ và đừng có hành động nào làm tổn hại
nhóm đấu tranh dân chủ là được. Theo thời gian và sự kiện,
hi vọng là sự ủng hộ của họ sẽ dẫn họ đến với lực
lượng đấu tranh dân chủ mà tôi tin là sẽ phát triển, nếu
chánh phủ Hoa Kỳ không quên lời tuyên bố của Tổng Thống
Bush về hỗ trợ dân chủ trên thế giới./.
Houston, 27 tháng 9 năm 2005.
Phạm Bá Hoa
|