| 1. NHẬN ĐỊNH.
a. Tóm tắt cộng sản
quốc tế.
Ông Mikhail
Gorbachev, cựu Tổng Bí Thư đảng cộng sản Liên Xô phát biểu
như lời tâm sự: “Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu
tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau
buồn mà nói rằng “cộng sản chỉ biết tuyên truyền và
nói láo”. Đó là lời tố cáo có thể xem là thành thật
của một đảng viên cao cấp trong đảng cộng sản Liên Xô
mà các nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam tôn vinh là thành
trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội toàn thế giới (cộng
sản). Còn dưới đây là những con số nói lên một cách
tổng quát về mức độ tàn bạo của các đảng cộng sản
cai trị đồng bào của họ đã được phơi bày sau khi cộng
sản Nga và khối cộng sản Đông Âu sụp đổ: (trích bài
viết “Con số 100 triệu nạn nhân” của Lữ Giang ngày 25/6/2007)
Trong quyển
“Death by Government” (Chết do chánh phủ), tác giả Rudolph
J. Rummel, giáo sư khoa chính trị học đại học Yale, thì các
quốc gia đã giết chết đồng bào của họ, như sau: (1)
Liên Sô 61.911.000 người. (2) Trung Hoa cộng sản 35.236.000 người.
(3) Quân phiệt Nhật 5.964.000 người. (4) Khmer đỏ 2.035.000
người. (5) Thổ Nhĩ Kỳ 1.883.000 người. (6) Cộng sản Việt
Nam 1.670.000 người. (7) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người. (8)
Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.
Trong quyển
“Le Livre Noir du Communisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng
sản) tác giả Stéphane Courtoise, Giám Đốc Nghiên Cứu thuộc
Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học của Pháp, nhận xét
rằng: “Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế
độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc
tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị. Sau một vài
năm tại các quốc gia cộng sản vùng Đông Âu hay vài chục
năm ở Liên Sô và Trung Hoa cộng sản, cường độ của sự
khủng bố có bớt đi , chế độ tự ổn định bằng cách
quản lý sự đàn áp thường ngày, sự kiểm duyệt mọi trao
đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất
người ly khai. Nhưng ký ức về khủng bố tiếp tục đặt
người dân trong tình trạng sợ hãi, và điều này rất hiệu
nghiệm. Không một quốc gia cộng sản nào thoát khỏi qui luật
đó, như Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam chẳng hạn”.
Ngày 12/6/2007,
tại Washington DC, Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush, chủ tọa
lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (Victims
of Communism Memorial). Đây là biểu tượng thảm họa kinh hoàng
trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị
cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của khoảng
100 triệu nạn nhân cộng sản -có cả nạn nhân Việt Nam thân
yêu của chúng ta- được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và
những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt
chế độ này đến tận cùng gốc rễ, vì chế độ cộng
sản đã lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu đàn ông
đàn bà và trẻ con vô tội. Nhóm chữ nghiêng là lời lên
án mạnh mẽ trong bài phát biểu của Tổng Thống Bush. Công
trình Đài Tưởng Niệm bắt đầu với Điều 905 của đạo
luật The Public Law 103-199 được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua
ngày 17/12/1993. Vì Quốc Hội không cấp tiền nên tiến sĩ
Lee Edwards vận động từ các quốc gia từng bị cộng sản
cai trị chung góp tài chánh, trong đó phần đóng góp của Cộng
Đồng Việt Tị Nạn cộng sản tại Hoa Kỳ là 66.000 mỹ kim.
Công trình xây dựng khởi công ngày 28/9/2006.
b. Tóm tắt cộng sản
Việt Nam.
Với chủ
nghĩa cộng sản độc tài tàn bạo trên thế giới nói chung
và cộng sản Việt Nam nói riêng, đã cung ứng cho nhân loại
nói chung, cho các quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng,
và cộng sản Việt Nam (CSVN) là riêng nữa, một kinh nghiệm
thật bi thảm đầy máu với nước mắt do chính sách
bịt mắt bịt tai bịt miệng một cách triệt để, đến mức
86 triệu đồng bào trên quê hương Việt Nam không thể nào
thay đổi chế độ này bằng lá phiếu tự do. Bởi đường
lối chính sách của CSVN không phục vụ người dân, mà họ
sử dụng người dân để phục vụ bản thân họ dưới tên
gọi đảng CSVN. Từ kinh nghiệm đó dẫn đến khẳng định
trong hệ thống lãnh đạo của CSVN không có người cộng sản
tử tế, vì những chính sách giáo dục chỉ đào tạo
những thế hệ thần dân để tuân phục họ, trong khi những
chính sách xã hội trang bị cho guồng máy cai trị một thứ
quyền lực đặt người dân luôn sống trong sợ hãi, bên cạnh
cái q uyền của người dân trên căn bản “xin và cho” trong
chính sách cai trị, cho nên giữa thế giới văn minh mà Việt
Nam không có những thế hệ công dân tử tế để xây
dựng một xã hội tử tế. Ngày nào mà chế độ CSVN độc
tài tàn bạo còn tồn tại thì ngày đó người dân vẫn bị
tước đoạt quyền làm người, vẫn bị áp bức bóc lột
từ vật chất đến tinh thần, và vẫn bị cướp đoạt qua
những thủ đoạn lọc lừa gian trá.
Năm 1958, CSVN
công nhận vùng lãnh hải của CSTH bao gồm vùng Biển Đông
của Việt Nam. Năm 1999, CSVN đã bán 789 cây số vuông đất
dọc biên giới phía bắc cho cộng sản Trung Hoa (CSTH) để
trừ nợ mua vũ khí đạn dược trong chiến tranh xâm lăng Việt
Nam Cộng Hòa 1954-1975. Năm 2000, CSVN lại bán 11.362 cây số
vuông trong vịnh Bắc Việt cho CSTH với giá 2 tỷ mỹ kim. Năm
2007, ngầm thỏa thuận cho CSTH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa
và quần đảo Trường Sa vào quận Tam Sa thuộc tỉnh Hải
Nam của CSTH. Vì đã ngầm thỏa thuận với CSTH nên thẳng
tay đàn áp các thành phần trong xã hội -nhất là học sinh
sinh viên- mít tinh biểu tình phản đối hành động của CSTH
lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải Việt Nam. Năm 2008, thỏa hiệp
cho CSTH đưa hằng chục ngàn công nhân với thành phần an ninh
của chúng sang Việt Nam khai thác quặng Bauxite sản xuất nhôm,
đây là loại quặng mà khi khai thác sẽ gây ô nhiểm môi trường
một cách trầm trọng trong một vùng rộng lớn trên Cao Nguyên
miền Trung. Trong cùng thời gian, những dự án lớn về điện
năng, hóa chất, và xi măng, lại vào tay các nhà thầu quốc
doanh CSTH, và họ lại đưa hằng chục ngàn công nhân khác
cùng với các loại máy móc dụng cụ sang Việt Nam mà không
mua bất cứ thứ gì Việt Nam có. Nhiều thành phần trong xã
hội đã phản đối và yêu cầu đảng với nhà nước CSVN
đình chỉ các dự án này, nhưng Thủ Tướng đảng CSVN tuyên
bố như một thách thức với toàn dân: “Khai thác quặng Bauxite
là chủ trương lớn của đảng”. Chỉ với những hành động
trên đây, đã đủ chứng minh CSVN lệ thuộc CSTH vượt quá
xa lằn ranh trong bang giao quốc tế. Liệu mức độ lệ thuộc
này trong bao lâu nữa sẽ đưa Việt Nam trở thành “một Tây
Tạng khác” của thế kỷ 21 mà CSTH không tốn một viên đạn,
không mất một mạng người, cũng chẳng nhỏ một giọt mồ
hôi, họ chỉ nhép miệng là đủ để CSVN cúi đầu, và nhón
vài ngón tay ký vào văn kiện hợp pháp hóa là xong!
Vì vậy, đường
lối duy nhất là chế độ tàn bạo này phải bị triệt tiêu
để người Việt Nam trong nước với hải ngoại cùng nắm
tay nhau vá lại giang sơn đã bị lãnh đạo CSVN xé rách lởm
chởm trên đầu (biên giới phía Bắc), nham nhở một bên vai
(vịnh Bắc Việt), loang lỗ một phần bên hông phải (Biển
Đông), khôi phục nét tinh hoa văn hoá dân tộc, xây dựng lại
một xã hội tử tế từ con người đến phát triển các lãnh
vực sinh hoạt quốc gia trong bối cảnh một thế giới dân
chủ tự do và phát triển bền vững.
c. Giả thuyết.
Chế độ độc
tài Việt Nam phải bị triệt tiêu: (1) Hoặc triệt tiêu
do chuyển đổi từng bước theo “diễn biến hòa bình”.
Trường hợp này tuy chậm nhưng không đổ máu hoặc ít đổ
máu, xã hội cũng không đảo lộn nhiều. Giả thuyết này
ít khả năng xảy ra, vì cho đến tháng 4/2009 nhóm lãnh đạo
CSVN chưa tỏ dấu hiệu nào họ sẽ từ bỏ chế độ độc
tài toàn trị để chuyển hóa sang chế độ dân chủ tự do,
ngược lại họ càng cứng rắn hơn nữa về chính sách đàn
áp bất cứ ai bày tỏ ý thức chính trị khác với chế độ
độc tài của họ. (2) Hoặc triệt tiêu do “bạo
loạn”, máu sẽ đổ và sinh hoạt xã hội rất nhiều bất
trắc trong một thời gian nhất định, lúc ấy chánh phủ lâm
thời sẽ rất khó kiểm soát. Giả thuyết này nhiều khả
năng xảy ra và một chánh phủ lâm thời hình thành trong thời
kỳ chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ dân
chủ tự do, đa số là những nhân vật trong nước đã và
đang dấn thân đấu tranh trực diện với CSVN, với hỗ trợ
tích cực của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại,
và sự hỗ trợ từ các quốc gia phát triển.
2. MỤC ĐÍCH.
Thành lập
một cơ quan gồm các thành viên hải ngoại & trong nước
với các thành phần cùng mục đích đấu tranh dân chủ hóa
chế độ chính trị Việt Nam. Nghiên cứu soạn thảo kế hoạch,
cùng lúc lãnh đạo cuộc vận động các thành phần xã hội
trong nước vùng dậy xây dựng chế độ dân chủ tự do và
nhân quyền thật sự, với hỗ trợ mạnh mẽ của Cộng Đồng
Việt Nam tại hải ngoại. Cơ quan lãnh đạo này cần được
sự tín nhiệm của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại qua cuộc
trưng cầu ý kiến bằng những cách thích hợp để chính danh
trong tư cách lãnh đạo cuộc đấu tranh này. Đồng thời vận
động các chánh phủ, các tổ chức phi chánh phủ, và các
nhà chính trị hỗ trợ cuộc đấu tranh ôn hòa của chúng
ta. Vào giai đoạn cần thiết, thành lập chánh phủ lâm thời
để sẳn sàng quản trị quốc gia ngay khi chế độ độc tài
tan rã đến lúc có một chánh phủ dân cử.
3. QUAN NIỆM THỰC
HIỆN.
a. Quan niệm vị trí.
Riêng cho thành
viên Cộng Đồng hải ngoại. Với ý thức công dân bản xứ
(Mỹ, Pháp, Úc, Canada, ...) gốc Việt Nam trong công tác tham
mưu, chuyên viên chuyên gia, hay lãnh đạo, sẽ giúp chúng ta
soạn thảo kế hoạch cũng như khi vận động chính trị, dung
hòa được giữa bổn phận công dân quê hương bản xứ với
bổn phận công dân quê hương cội nguồn, nếu không như vậy
e rằng sẽ khó được sự hỗ trợ của chánh quyền bản
xứ khi tìm kiếm sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo vì
họ cảm thấy chúng ta quên bổn phận với quốc gia mà chúng
ta đang là công dân.
b. Quan niệm mục tiêu
chiến lược.
Đây là cuộc
chiến bao gồm tất cả lãnh vực sinh hoạt quốc gia tập trung
vào hai mục tiêu chiến lược “Chinh phục lòng dân”,
đồng thời với “phân hóa hàng ngũ lãnh đạo CSVN”.
Phương thức sử dụng nhắm dẫn đến sự phân hóa sâu rộng
giữa dân với đảng, phân hóa trong nội bộ đảng, giữa
đảng với quân đội, phân hóa trong nội bộ quân đội, và
giữa quân đội với công an, cuối cùng tiến đến kết hợp
các thành phần dân chủ trong nước với hải ngoại đồng
loạt vùng dậy lật đổ cộng sản độc tài, bằng cách sử
dụng “vũ khí đạn dược chiến lược” dự liệu
bên dưới.
c. Quan niệm vũ khí
chiến lược.
Phương tiện
sử dụng được quan niệm là “vũ khí chiến lược”,
bằng cách: (1) Vận dụng mọi phương tiện truyền thông
nhất là mạng thông tin toàn cầu để “bắn” (chuyên
chở) mọi tin tức đến nhiều thành phần trong xã hội Việt
Nam giúp hiểu rõ thực trạng lãnh đạo tàn bạo của CSVN
dẫn đến sinh hoạt xã hội băng hoại đạo lý, và đẩy
Việt Nam vào thế lệ thuộc cộng sản Trung Hoa. (2) Vận
dụng mọi thành viên trong Cộng Đồng trở thành một thành
phần trong lực lượng đấu tranh để “truyền đạt tin
tức” khi về Việt Nam thăm thân nhân, các chuyên viên
chuyên gia được các công ty cử về công tác tại Việt Nam,
các chuyên gia chuyên viên trong các tổ chức quốc tế hoạt
động tại Việt Nam. (3) Vận động chính trị để được
các quốc gia hỗ trợ tạo áp lực trên những
hồ sơ nhân quyền Việt Nam gắn liền với những hồ sơ khác,
cùng lúc tạo thế vững mạnh cho công cuộc dân chủ hóa chế
độ tại Việt Nam.
d. Quan niệm đạn
dược chiến lược.
Trong giai đoạn
2 ở trang kế tiếp.
e. Quan niệm thực
hiện.
Thực hiện
nhiệm vụ ghi trong Đoạn 2 được quan niệm qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn
1. Thành lập “Ban Vận Động”.
(1) Tổ
chức. Do nhu cầu liên tục, các thành viên trong Ban Vận
Động có khả năng góp mặt trong bộ tham mưu tổ chức lãnh
đạo, cũng có thể trở thành chuyên gia chuyên viên trong chánh
phủ lâm thời sau đó, vì vậy rất cần sự góp mặt của
các thành phần trong nước và hải ngoại, có nhiệt tâm phụng
sự tổ quốc phục vụ nguyện vọng người dân với lý tưởng
dân chủ tự do, có tinh thần trách nhiệm, có kinh nghiệm đấu
tranh chính trị, có kinh nghiệm soạn thảo những chính sách
cấp quốc gia những kế hoạch cấp quân đội: (a) Thận
trọng chọn lọc mời gọi những chuyên gia điện toán, chuyên
gia chính trị, kinh tế tài chánh, giáo dục, xã hội, tư pháp,
trong thành phần tốt nghiệp các quốc gia tự do trước hay
sau năm 1975. (b) Với thành phần tốt nghiệp đại học
trong nước, chú trọng khả năng thực tế hơn là bắng cấp
vì hiện nay rất nhiều bằng cấp giả. (c) Những vị
có kinh nghiệm trong tham mưu quân sự, tham mưu hành chánh, đã
phục vụ ở cấp trung ương VNCH do tốt nghiệp đại học
trong nước hay hải ngoại bất luận thời gian, tốt nghiệp
trường Đại Học Quân Sự & Trường Chỉ Huy Tham Mưu cao
Cấp, Trường cao Đẳng Quốc Phòng, hay Học Viện Quốc Gia
Hành Chánh. (d) Sự tham gia của các tổ chức đấu tranh
trong nước là một nhu cầu thiết yếu, do kinh nghiệm sống
và chiến đấu của thành phần này trong hoàn cảnh khắc nghiệt
và tàn bạo trên quê hương.
(2) Nhiệm
vụ: (a) Thiết lập e-mail groups để liên lạc nội bộ
nhanh chóng. (b) Thiết lập trang Web để truyền đạt
thông tin rộng rãi trong nước và hải ngoại. (c) Thiết
lập Diễn Đàn để lưu giữ & chuyển tải những sự kiện
xảy ra trong nước và những sự kiện ngoại quốc ảnh hưởng
đến CSVN. (d) Nghiên cứu & phổ biến cách “vượt
tường lửa” của CSVN để giữ liên lạc liên tục. (e)
Nghiên cứu phác thảo một kế hoạch thực hiện mục tiêu
vận động thành lập “Cơ Quan Lãnh Đạo” thống nhất
trong nước & hải ngoại để lãnh đạo cuộc đấu tranh
dân chủ hóa Việt Nam. (f) Căn cứ vào nhiệm vụ để
hoàn chỉnh sơ đồ tổ chức. Trong khi tổ chức, bộ phận
nào hoạt động được là hoạt động ngay với loại “vũ
khí thích hợp” bên dưới.
Giai đoạn
2. Thành lập ”Cơ quan lãnh đạo”.
(1) Tổ
chức. Cơ quan này có các bộ phận chính là: Chiến Lược,
Nghiên Cứu Kế Hoạch, Thực Hiện, Giám Sát, và Cố Vấn.
Các thành viên do chọn lọc mời gọi từ Ban Vận Động giải
tán để giữ sự liên tục, và từ các cá nhân cũng như các
tổ chức đấu tranh trong nước với hải ngoại để mở rộng
tổ chức. Rất cần sự tham gia của tuổi trẻ ngay trong giai
đoạn hình thành tổ chức.
(2) Nhiệm
vụ: (a) Hoàn chỉnh sách lược và phổ biến. (b)
Soạn thảo & ban hành Huấn Lệnh Điều Hành Căn Bản (trong
tham mưu quân sự thường gọi tắt là Huấn Điều Căn), áp
dụng trong nội bộ tổ chức và giữa tổ chức với các cá
nhân hay tổ chức bên ngoài, kể cả quốc tế. Văn kiện này
minh thị tổ chức và trách nhiệm của từng bộ phận, giúp
các thành viên am hiểu trách nhiệm và tránh được những
trùng lặp hoặc những thiếu sót trong điều hành. (c) Vận
động thành lập tổ chức quốc tế yểm trợ sách lược
dân chủ hóa Việt Nam. (d) Đẩy mạnh công cuộc đấu
tranh, cùng lúc vận động các chánh phủ hỗ trợ các mặt
cho công cuộc đấu tranh. (e) Phác thảo sách lược tái
thiết & phát triển đất nước sau khi cộng sản độc
tài sụp đổ, cùng lúc thành lập chánh phủ lâm thời. (f)
Song song với công tác hoàn chỉnh tổ chức và thật sự lãnh
đạo cuộc đấu tranh.
(3) Sử
dụng những loại “đạn xuyên phá” bằng mọi cách
khác nhau “bắn” (chuyển tin) về trong nước cho các
thành phần xã hội, từ cá nhân đến tổ chức, từ thành
thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến cao nguyên, từ
đảng viên đến viên chức, từ học sinh sinh viên đến lực
lượng đấu tranh dân chủ, từ báo chí đến những trang blog,
từ công an đến quân đội, từ lãnh đạo trung ương xuống
đến hạ tầng cơ sở, từ du học sinh đến các cơ quan ngoại
giao của CSVN tại ngoại quốc. Hiện nay, Cộng Đồng chúng
ta tị nạn cộng sản tại hải ngoại có trong tay “các loại
đạn xuyên phá” có khả năng xuyên qua bức tường lửa,
phá thủng những bức màn bịt tai bịt mắt giúp người dân
nghe và thấy được bản chất độc tài tàn bạo với những
gian trá lọc lừa của CSVN, để người dân cùng nói lên những
phẫn uất dồn nén hằng mấy chục năm qua trong cái xã hội
“xin và cho”. Dưới đây là các loại “đạn chiến lược”
sử dụng trong cuộc chiến này: (theo thời gian, có thể có
“các loại đạn khác” nữa)
- Vi phạm
nhân quyền. Những
chính sách và những hành động: (a) Ngăn cấm phổ biến
tin tức. (b) Tước đoạt quyền chính trị của người
dân. (c) Bầu cử không dân chủ. (d) Xuất cảng
công nhận lao động cũng như thiếu nữ lấy chồng ngoại
nhưng các cơ quan ngoại giao không hề theo dõi trợ giúp cần
thiết. (e) Không ngăn chận tình trạng bán trẻ thơ ra
ngoại quốc hành nghề mãi dâm. (f) Chia cắt tôn giáo
bằng cách thành lập tôn giáo quốc doanh đồng thời đàn
áp tổ chức tôn giáo không thuộc nhà nước. (g) Đàn
áp các thành phần đấu tranh dân chủ ôn hòa.
- Tội ác
về lãnh thổ: (a) Năm 1958, ký văn kiện công nhận
vùng lãnh hải của cộng sản Trung Hoa bao gồm vùng Biển Đông
của Việt Nam. (b) Năm 1999, bán cho CSTH 789 m2 đất dọc
biên giới để trừ nợ mua vũ khí đạn dược trong chiến
tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa 1954-1975, và năm 2000 bán cho
THCS 11.326 m2 trong vịnh Bắc Việt với giá 2 tỷ mỹ kim. (c)
Tháng 12/2007 đồng lỏa trong hành động của CSTH sáp nhập
hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa vào huyện Tam Sa thuộc
tỉnh Hải Nam. (d) Năm 2008, thẳng tay đàn áp học sinh
sinh viên và các thành phần xã hội biểu tình trước cơ quan
ngoại giao CSTH Hà Nội và Sài Gòn phản đối CSTH cưỡng đoạt
Hoàng Sa & Trường Sa, và họ trưng dẫn văn kiện của Thủ
Tướng CSVN công nhận vùng lãnh hải của họ. (e) Cho
phép CSTH đưa hằng mấy ngàn công nhân của họ sang khai thác
các quặng Bauxite tại Lâm Đồng và Dak Nông, đây là loại
quặng khi khai thác sẽ gây ô nhiểm trầm trọng quanh khu vực
hằng trăm cây số. (f) Cho phép nhiều công ty CSTH đưa
hằng ngàn công nhân sang xây dựng cơ sở sản xuất về điện
năng, hóa chất, và xi măng, chứng tỏ CSVN phục tùng CSTH đến
mức nhìn lên bản đồ Việt Nam loang lỗ những vị trí của
công nhân và lực lượng an ninh CSTH trong thế cài người của
CSTH trong lãnh thổ Việt Nam chúng ta.
- Tội ác
về giáo dục: (a) Giáo dục từ hơn nửa thế kỷ qua chỉ
nhắm đào tạo những thế hệ thần dân chỉ biết tuân phục
CSVN. (b) Giáo dục học đường toàn dối trá vì mục
tiêu chỉ nhắm vào thành tích dù là thành tích ảo dẫn đến
tình trạng bằng cấp giả dưới nhiều hình thức khác nhau,
và các bằng cấp loại nâng đỡ cho các đảng viên cao cấp,
đến mức các nhà giáo dục ngoại quốc -kể cả Hoa Kỳ-
nhận xét sự dốt nát của hàng lãnh đạo CSVN ở mức ảnh
hưởng nguy hại đến phát triển kinh tế xã hội. (c)
Giáo dục xã hội bịt mắt bịt miệng bịt tai toàn xã hội,
dù rằng toàn quốc có hơn 600 báo chí các loại với toàn
bộ hệ thống phát thanh phát hình nhưng chỉ có một tiếng
nói theo lệnh của cấp lãnh đạo thẩm quyền. (d) Những
chính sách giáo dục học đường cộng với giáo dục xã hội
là nguyên nhân đẩy mọi người trong xã hội xã hội chủ
nghĩa sống với nhau bằng lọc lừa dối trá, dẫn đến tình
trạng một xã hội băng hoại đạo lý, văn hoá suy đồi.
- Tội ác
về tham nhũng và cướp đoạt tài sản: (a) Văn kiện
qui định toàn bộ đất đai là tài sản của nhà nước
độc tài đã tạo điều kiện cho hàng hàng lớp lớp đảng
viên viên chức dưới lớp võ “đầy tớ của dân” đã
công khai cướp đoạt đất đai vườn ruộng của người dân
trong thời kỳ gọi là đổi mới mà từng đoàn dân oan hằng
trăm hằng ngàn người kéo đến các cơ quan đảng với nhà
nước cấp tỉnh, thành phố, và trung ương khếu nại nhưng
không bao giờ được giải quyết đúng mức. (b) Lãnh
đạo cấp trung ương đã chia chác nhau 16 tấn vàng quốc gia
sau khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa mà Trường Chinh nói
là bán lấy tiền mua gạo cho dân. Sự kiện này do Bùi Tín
trả lời phỏng vấn của đài BBC năm 1990. (c) Càng nhiều
dự án bao nhiêu thì các cấp lãnh đạo càng gia tăng khối
tài sản riêng tư bấy nhiêu do cắt xén chia chác rồi bao che
cho nhau nếu chẳng may bị phanh phui. (d) Bất cứ đến
cơ quan nào dù lớn dù nhỏ ngay cả người ngoại quốc gốc
Việt Nam đến phi trường phải “hối lộ” mới dễ dàng
ra khỏi phi trường. (e) Vụ tham nhũng PMU 18, lúc đầu
bắt những tên phạm pháp, thưởng nhà báo và những người
có công, chờ khi dư luận lắng dịu thì pháp chế xã hội
chủ nghĩa quay ngược lại 180 độ, kẻ có tội được tưởng
thưởng xứng đáng còn người có công bị trừng phạt nặng
nề. (f) Vụ dự án xa lộ động tây Sài Gòn là loại
“đầu voi đuôi chuột”, khi thấy dư luận Nhật Bản công
phẫn lên cao vì tiền thuế của dân Nhật đem giúp CSVN lại
hối lộ cho CSVN, kẻ nhận hối lộ gần triệu mỹ kim là
Huỳnh Ngọc Sỹ bị Công An bắt nhưng là bắt về một tội
khác không liên quan gì đến triệu mỹ kim đó. Mánh khóe của
CSVN là vậy mà, vì tất cả họ đều tham nhũng nên phải
bao che cho nhau. (g) Và hằng triệu hằng triệu vụ tham
nhũng lớn nhỏ xảy ra hằng ngày trong tất cả sinh hoạt xã
hội đến mức trở thành nếp sinh hoạt bình thường, đến
mức người dân chẳng những không cảm thấy khó chịu mà
hòa vào nếp sống đó một cách tự nhiên.
- Vận động
chính trị quốc tế. Nhờ sự vận động chính trị của
các tổ chức trong Cộng Đồng khắp nơi trên thế giới dẫn
đến kết quả: (a) Những văn kiện của Quốc Hội Hoa
Kỳ, Châu Âu, Canada, Australia, lên án CSVN vi phạm nhân quyền.
(b) Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành văn kiện chọn ngày 11 tháng
5 hằng năm là “Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam”, và Quốc
Hội tiểu bang Massachussetts cũng ban hành văn kiện tương tự
đối với Cộng Đồng Việt Nam tại đây. (c) Duy trì
và gia tăng vận động chính trị tại các quốc gia phát triển
trong khối G8 -trừ Nga nhưng cộng Australia- tìm hậu thuẫn
cơ quan lãnh đạo thống nhất trong nước với hải ngoại
trong cuộc đấu tranh quyết liệt này đến khi đạt đến
dân chủ hóa Việt Nam.
- Vận động
trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại. Dù “Cơ Quan
Lãnh Đạo” được đa số bà con trong Cộng Đồng trên thế
giới ủng hộ, nhưng cần liên tục vận động để giữ vững
và gia tăng mức độ ủng hộ của Cộng Đồng, vì đây là
hậu thuẫn mạnh mẽ nhất về nhân lực, về tinh thần, về
tài chánh, và sự đóng góp công tác chuyển tin một cách đơn
giản qua sự truyền đạt bằng miệng trong những lúc thuận
tiện mỗi khi về Việt Nam thăm thân nhân, hoặc về Việt
Nam do công tác của công ty hãng xưởng cử sang Việt Nam.
Giai đoạn
3. Cộng sản Việt Nam sụp đổ. Bàn giao toàn bộ cho chánh
phủ lâm thời, cùng lúc giải tán cơ quan lãnh đạo. Tất
cả tài liệu cùng những vật chất khác, đưa vào viện bảo
tàng cuộc chiến trong giai đoạn 1975 đến khi chế độ độc
tài CSVN tan rã.
f. Quan niệm chung.
(1) Yếu
tố tạo nên tổ chức, cần có: (a) Một tư tưởng.
(b) Một thành phần lãnh đạo cộng với chuyên gia chuyên
viên. (c) Một chiến lược dài lâu được thực hiện
bởi những chiến thuật thích hợp theo từng giai đoạn. (d)
Một phương thức quản trị & điều hành hữu hiệu giúp
tiết kiệm nhân lực, thời gian, phương tiện, và tài chánh.
Một “Huấn Thị Điều Hành Căn Bản” của cơ quan lãnh
đạo có khả năng này. (e) Trong các yếu tố nói trên,
nhân lực là yếu tố quan trọng bậc nhất. Nhìn vào
các thành viên nhất là những thành viên trách nhiệm các
bộ phận chánh, trong một mức độ nhất định, Cộng Đồng
có thể đánh giá được uy tín của cơ quan lãnh đạo. (f)
Cần sử dụng kinh nghiệm từ các tổ chức trong Cộng Đồng
trong 20 năm qua để tránh lỗi lầm có thể tránh được .
(2) Bên
cạnh yếu tố nhân lực với tính cách khả năng, yếu tố
đạo lý là một quan trọng khác trong cuộc chiến của chúng
ta. Tại sao? Tại vì con tim & khối óc luôn luôn hỗ trợ
lẫn nhau giúp dung hợp giữa tài năng với đạo lý. Với CSVN,
họ không từ bỏ bất cứ hình thức nào để lợi dụng “lòng
nhân không được khối óc hỗ trợ” vào mục tiêu chính
trị của họ.
(3) Thành
viên trong tổ chức cần có mặt của thế hệ 1, thế hệ
1.5, và thế hệ 2. Đây là cách thu hút tuổi trẻ nhập cuộc,
đồng thời chuẩn bị chuyển dần trách nhiệm sang thế hệ
sau cuộc chiến 1954-1975.
(4) Tất
cả tài liệu dù viết tay hay đánh máy, dù e-mail (vi thư) hay
fax (điện thư), dù băng cassette băng video dĩa CD hay DVD, phim
hình và hình, những máy móc cũ hay vật dụng cũ, ..v..v..,
đều lưu giữ để sau này đưa vào viện bảo tàng giúp những
thế hệ sau khả dĩ hiểu được cuộc chiến diễn tiến như
thế nào để giành lại quyền làm người cho dân tộc từ
tay của cộng sản Việt Nam độc tài tàn bạo.
4. KẾT LUẬN.
Trong phần
nhận định về cộng sản quốc tế với cộng sản Việt
Nam chỉ là tóm tắt như một khái niệm, vì tôi nghĩ rằng,
tội ác của CSVN nếu cần viết lại trên trang giấy phải
đến hằng chục ngàn hằng trăm ngàn, thậm chí là hằng triệu
trang giấy với hằng triệu hằng triệu người cùng viết,
mới có thể gọi là tạm đủ.
Tôi cũng nghĩ
rằng, “những loại đạn chiến lược” mà tôi quan niệm
ở trên chỉ trở thành “đạn của vũ khí thời đại”
khi có một cơ quan lãnh đạo thống nhất trong ngoài được
Cộng Đồng ủng hộ, có khả năng “sử dụng vũ khí chiến
lược” bắn đúng “mục tiêu chiến lược”, từ đó huy
động được các thành phần trong xã hội cùng đứng dậy
như thể “đập nước bị bễ”, lúc ấy mục tiêu dân chủ
hóa chế độ trên quê hương Việt Nam sẽ đạt được thành
công hoàn toàn. Một chánh phủ lâm thời được hình thành
để phục vụ nguyện vọng người dân.
Mong lắm thay.
Houston, ngày
28 tháng 04 năm 2009.
|