NÓI VỀ TÁC GIẢ
Ông
Lewis Sorley đã phục vụ tại Việt Nam chỉ huy một Tiểu Đoàn
Thiết Giáp trên Tây Nguyên. Ông thuộc thế hệ thứ ba trong
gia đình tốt nghiệp Đại Học Quân Sự Hoa Kỳ. Ông cũng
đậu bằng Tiến Sỹ của Đại Học John Hopkins. Trong hai thập
niên binh nghiệp ông chỉ huy thiết giáp và nhiều đơn vị
thiết kị tại Mỹ, Đức cũng như Việt Nam. Ông cũng đã
phục vụ tại Bộ Lục Quân, văn phòng Tham Mưu Trưởng Bộ
Binh và là giảng viên tại West Point và Đại Học Chiến Tranh
Bộ Binh.
Ông là tác giả của
hai cuốn sách, Thunderbolt, General Creighton Abrams and the Army of
His Times và General Harold K. Johnson and the Ethics of Command. Ông
đã viết quân sử nhan đề, A Better War; the Unexamined Victory
and Final Tragedy of America’s Last Year in Vietnam. Ông cũng ghi chép
và nhuận chính Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes 1968-1972”.
Vài lời của người
dịch.
Tôi được một bạn
trẻ Không Quân giới thiệu và Tiến Sỹ Lewis Sorley liên lạc
gửi cho tôi bài diễn văn ông đã đọc tại Đại Học Kỹ
Thuật Texas TTU về đề tài Reassessing ARVN. Ông có ý muốn
nhờ tôi phiên dịch bài này ra để phổ biến rộng rãi trong
cộng đồng Mỹ gốc Việt. Tôi đã đọc kỹ bài thuyết trình
dài 32 trang, nhận thấy rất bổ ích về phương diện sử
liệu và nhân bản và đã chấp thuận đề nghị.
Trong bài thuyết trình
Tiến Sỹ Sorley đã dùng nhãn quan của một quân nhân và một
trí thức khoa bảng để thẳng thắn bênh vực quân đội Việt
Nam trong một thời kỳ chiến đấu cam go gian khổ nhất của
nước nhà. Ông đã dầy công nghiên cứu các tài liệu đã
bạch hóa hầu đưa ra những nhận xét rất xác đáng về khả
năng, lòng quả cảm và sự chịu đựng tột cùng của các
chiến sỹ chiến đấu cho một nước Việt Nam tự do trước
những búa rìu bất công của các lực lượng phản chiến
và thiên tả Mỹ Quốc. Những tên tuổi lớn ông đưa ra như
Đại Sứ Ellsworth Bunker, Đại Tướng Creighton Abrams, Thiếu
Tướng James L. Collins, Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân
Harolk K. Johnson, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, trùm
CIA William Colby, Sir Thompson, Tướng John Paul Vann, Tướng Tiếp
Vận Việt Nam Đồng Văn Khuyên, Đại Tướng Tổng Tham Mưu
Trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng
Cộng Sản Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn vv là những nhân
vật và dẫn chứng lịch sử trong giai đoạn nhiễu nhương
và đau đớn ê chề cho đất nước và tất cả chúng ta.
Nói về chiến dịch
Hạ Lào Lam Sơn 719 ông đã đưa ra những con số cho thấy địch
quân đã bị thiệt hại nặng nề và quân ta tuy không thắng
trận nhưng đã không thất bại như bọn chủ bại bên Mỹ
đã rêu rao. Tôi được biết viên Trung Tướng cộng sản chỉ
huy chiến dịch là Trung Tướng Phạm Hồng Sơn, tên thật là
Phạm Thành Chính là một sinh viên luật cùng thời với tôi
và cùng ở Đại Học Xá Bạch Mai. Anh ta là anh em đồng hao
với Võ Nguyên Giáp, cùng là con rể nhà học giả Đặng Thái
Mai, lấy con út ông Mai là nhà văn và nhà giáo Đặng Anh Đào.
Hiện tại Tướng Phạm Hồng Sơn đã 84 tuổi, đã lãng trí
và cũng đã ra rìa như Giáp tuy được cấp một biệt thự
lớn ở đường Lý Nam Đế Hà Nội.
Có cả năm trang dành
cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước hết tôi phải nói
rằng tôi cũng như nhiều đồng hương đã không mấy có thiện
cảm với ông Thiệu. Riêng tôi lại có một điều hận trong
lòng khi ông ta cho tôi là đàn em của Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1948
khi tôi vào Sài Gòn với mấy bạn Đại Việt Nguyễn Tất
Ứng, Nguyễn Đình Tú tôi đã được đưa đến thăm ông Nguyễn
Văn Kiểu là anh lớn của ông Thiệu ở đường Kitchener. Ông
Kiểu là một đảng viên Đại Việt miền Nam, người rất
hiền hậu và trung thực làm chủ một cửa hàng bán nước
mắm ở đó và chúng tôi đã trở thành khá thân thiết. Hồi
tôi nhận chức Thứ Ủy Tổng Cuộc Trưởng Tiếp Tế trong
chính phủ Nguyễn Cao Kỳ mà không có nhân viên phòng sở thì
tôi đã được tạm dùng bàn giấy của ông Kiểu ở Trụ
Sở Liên Minh Á Châu Chống Cộng số 122 trên đường Hồng
Thập Tự. Sau khi tôi rời TCTT, lúc ông Thiệu lên làm Tổng
Thống thì ông Kiểu đã đưa ý kiến cho chú em là “Tám,
tại sao không dùng anh Cung” thì được một câu trả lời
lạnh lùng, “Cung là tay chân đao búa của Nguyễn Cao Kỳ”.
Nghe vậy tôi cho là một sỉ nhục. Vì coi tôi như là một
lũ điếu đóm xun xoe mạt chược, nhậu nhẹt, ăn tục nói
phét xung quanh ông Kỳ thì hơi quá!
Trong phần dành cho
ông Thiệu tôi thấy thương ông ta khổ tâm nhiều trong thời
kỳ mười năm nắm vận mệnh quốc gia, đương đầu với
Mỹ, với đe dọa đảo chính và với tình hình đa đoan của
nước nhà. Được đọc bài phỏng vấn cựu Phụ Tá thân
cận Nguyễn Văn Ngân của Trần Phong Vũ tôi càng nhìn rõ sự
cô đơn của một lãnh tụ thông minh, mưu trí nhưng sinh bất
phùng thời. Và tôi càng thông cảm nỗi bất hạnh của ông
để đặt câu hỏi “một người khác nắm quyền có khá
hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một bất hạnh
lớn hơn không”?
Trần Đỗ Cung
Prunedale, tháng 10,
2006
* * *
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Trong một cuộc chiến
dai dẳng và khó khăn không một ai có thể nhìn rõ khả năng
của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hôm nay tôi trình bày vấn
đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính và hai
phụ khoản.
Chính Phủ Việt Nam cấp
các huy chương tham chiến cho quân nhân Mỹ. Đặc biệt thấy
gắn trên băng biểu chương một thẻ kim khí khắc “1960…”
Người ta đã không ghi niên điểm cuối cùng bởi lý do dễ
hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm vì đó là
mốc đánh dấu sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày
quân đội Mỹ lên cực điểm. Trong giai đoạn này chúng ta
có môt cái nhìn tổng thể về thành tích của quân đội Việt
Nam từ 1960 cho đến 1975.
Vài năm trước đây
tôi đã viết một bài nhan đề “Dũng cảm và xương máu”
để phân tích thành quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn
công tháng Tư 1972. Bài đã được đăng trong báo Parameters
của trường Đại Học Quân Sự. Hồi còn sinh thời ông Douglas
Pike đã bình luận trong một ấn bản Indochina Chronology như
sau: “Đã có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh
và cứu vãn danh dự của ngưới quân nhân Việt Nam từng bị
nhục mạ bởi bọn phóng viên truyền hình thương mại ngu
dốt và cánh trí thức thiên tả. Bài của ông Sorley đã xét
lại lịch sử và ông ta lập luận vững vàng trong lãnh vực
này”.
Tôi vẫn tri ân lời
khuyến khích ấy và ước gì Giáo Sư Pike còn hiện diện để
thấy các tài liệu lịch sử hiện hữu chứng minh sự dũng
cảm đưa đến trưởng thành và thành tựu của quân lực
Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ vì nước chúng ta không thực thi cam
kết cho Nam Việt trong khi phe cộng sản vẫn tiếp tục và
đều đặn gia tăng yểm trợ Bắc Việt nên đồng minh bất
hạnh của chúng ta mới bị tràn ngập và thua trận.
Cho đến nay chưa bao
giờ có một cố gắng định mức toàn diện sự tiến triển
và thành tích của quân đội Việt Nam trong những năm bành
trướng. Trong thời giờ hạn hẹp ở đây tôi chỉ mong điều
chỉnh phần nào sự khiếm khuyết, bất công và nhiều lúc
sai lạc mỗi khi bàn đến QLVNCH tuy đó là một thái độ khôn
ngoan cho đến nay.
Chúng ta rất thiếu hiểu
biết về cuộc chiến Việt Nam mặc dầu nó đã kết thúc
ba mươi năm qua. Là vì những người phản chiến hoặc ít
nhất chống sự tham dự của chính mình đã mô tả mọi khía
cạnh qua một lăng kính xấu và nhiều khi đã nói sai sự thật.
Ông James Webb vạch mặt giới truyền thông, trí thức và Hollywood
là những nhóm đã “có lợi khi làm cho cuộc chiến bị xem
là không cần thiết hay không thắng được”. Và vì họ điều
khiển dư luận nên họ đưa ra những lập luận sai lầm ngay
cả khi chiến tranh kết thúc đã ba mươi năm. Những lập luận
thật sai lạc, đi từ thóa mạ người lính Việt trong một
quá trình chiến đấu cam khổ cho đến Jane Fonda hạ nhục
những tù binh Mỹ là bọn láo khoét hoặc đạo đức giả
khi nói rằng họ đã bị tra tấn hay hành hạ trong lúc bị
giam cầm. Đã đến lúc ta phải bỏ thái độ tiêu cực, lắm
khi mạt sát và cố tình dùng chính trị để đổ lỗi cho
quân đội Việt Nam trong hầu hết các tranh luận.
PHẦN 1 - QUÂN ĐỘI
VIỆT NAM LÚC ĐẦU
Đây là giai đoạn mà
chúng ta chủ động trong khi Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề
với nhiệm vụ bình định (mà đây chính cũng là một khía
cạnh của chiến tranh và bộ chỉ huy Mỹ đã quên lãng). Bởi
vậy họ không được cấp những vũ khí mới cũng như được
trợ chiến cần thiết.
Phần đông chúng ta và
ngay cả một số người Mỹ phục vụ tại chỗ đều chỉ
trích quân đội Việt Nam trong thời kỳ ấy. Họ đã không
lưu ý đến một số yếu tố ảnh hưởng nặng nề lên tình
trạng đó. Quân cụ Mỹ cung cấp đều là những thứ lỗi
thời từ Thế Chiến II, nhất là các súng trường M-1 vừa
nặng vừa cồng kềnh với tầm vóc người Việt. Trong khi
đó thì kẻ thù đã được Nga-Tầu trang bị đầy đủ súng
AK-47.
Thiếu Tướng James L.
Collins đã trình bầy về tình hình quân đội Việt Nam như
sau, “Năm 1964 địch quân đã bắt đầu xử dụng AK-47, một
loại súng tân tiến, tự động và rất bén nhậy. Trái lại
lực lượng bạn vẫn dùng loại khí cụ phế thải của Thế
Chiến II…” Rồi từ năm 1965 khi quân Mỹ lần hồi gia tăng
nhập cuộc thì nhu cầu chiến tranh về phía bạn lại càng
bị đẩy lui vào hậu trường”.
Do đó các đơn vị Việt
luôn luôn bị địch quân áp đảo trong thế đánh không cân
xứng. Đại Tướng Fred Weyand khi thuyết trình mãn nhiệm chỉ
huy Đệ Nhị Lộ Quân đã nói rõ, “Sự chậm trễ cung cấp
khí giới và quân cụ mới cho Việt Nam, ít nhất ngang với
sự yểm trợ của Nga Tầu cho quân địch làm cho quân bạn
yếu kém”.
Chỉ từ khi Đại Tướng
Creighton Abrams nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Lực Mỹ vào hồi
tháng Năm 1967 người ta mới bắt đầu chú ý đến quân Nam
Việt. Tướng Abrams điện ngay cho Đại Tướng Tham Mưu Trưởng
Harold K. Johnson như sau. “Tôi thấy ngay là quân lực Mỹ tại
đây cũng như bên chính quốc chỉ nghĩ trước tiên đến hành
quân Mỹ và yểm trợ các đơn vị Mỹ. Do đó chương trình
cung cấp chiến cụ cho Việt Nam đã ít ỏi mà lại còn không
được thi hành một cách tích cực và cấp tốc như đối
với quân Mỹ. Rõ ràng chúng ta có trách nhiệm lớn với quân
bạn. Công việc phải làm ngay và tôi đang bắt tay cấp kỳ
vào việc”!
Ngay khi nhậm chức, Tướng
Abrams liền gia tăng lực lượng Việt Nam, nhất là cung cấp
các súng M-16. Trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968 ông đã
đưa được M-16 vào tay Nhẩy Dù và các đơn vị tiền tiến
khác. Tuy nhiên phần đông vẫn bị lép vế đối với công
sản. Trung Tướng Chỉ Huy Tiếp Vận Đồng Văn Khuyên nhắc
lại rằng, “Trong Vụ Tềt Mậu Thân người ta nghe rõ tiếng
sắc bén liên hồi của AK-47 trong Sài Gòn cũng như các thị
trấn khác, như là một diễu cợt khôi hài cho các phát súng
lẻ tẻ Garant và Carbine trong tay hoảng hốt của quân ta”!
Tuy vậy quân Việt vẫn
đẩy lui địch quân một cách bất ngờ và dũng cảm. Báo
Time đã viết: “Nhiều người Mỹ đã ngạc nhiên và Công
Sản đã đau đớn sửng sốt thấy quân đội Việt Nam đã
tức tốc đương đầu và chiến đấu ngang tàng can đảm khác
hẳn dự đoán”. Nhưng không thấy ai đề cập đến sự chênh
lệch khí giới của đôi bên.
Tháng Hai 1968 Tướng
hồi hưu Bruce C. Clarke đi thăm Việt Nam và viết một tờ nhận
định được Đại Tướng Early Wheeler chuyển đến tay Tổng
Thống Johnson. Tướng Clarke nói “các đơn vị Việt còn bị
chi phối bởi một chương trình quân viện nghèo nàn, kể cả
khí giới cá nhân. Điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần
và thành quả của binh sĩ. Quân sỹ cảm nhận rõ khi họ không
được trang bị đầy đủ”!
Tổng Thống Johnson liền
mời Tướng Clarke đến văn phòng đàm luận thêm. Và sau đó
ít ngày “viên phụ tá Tổng Thống điện thoại báo cho tôi
là Tổng Thống Johnson đã ra lệnh gửi ngay 100,000 súng M-16
cho quân VNCH”. Tổng Thống đã nhấn mạnh trong bài diễn
văn lịch sử ngày 31 tháng Ba 1968, “Chúng ta sẽ nhanh chóng
tăng viện cho quân đội Việt Nam để đáp ứng sự gia tăng
hỏa lực của địch quân”. Thật là kịp thời.
Tướng Clarke trở lại
Việt Nam vào tháng Tám 1969 để thấy “lực lượng VNCH đã
có 713,000 khẩu M-16 cùng với các khí giới khác và họ đã
tiến bộ nhiều kể từ Tết Mậu Thân”. Hiện nay họ và
các lực lượng diện địa đều đã có súng cá nhân tối
tân luôn cả phóng lựu M-79, súng máy M-60 và các đài vô tuyến
AN/PRC-25 như quân đội Hoa Kỳ.
Các sư đoàn Mỹ được
trang bị tối tân và nhiều hơn phía Việt Nam nên khả năng
tác chiến cũng gấp bội. Tùy viên của Tướng Abrams đã nhấn
mạnh là Đại Tướng đã nghiên cứu so sánh khả năng tác
chiến giữa sư đoàn Mỹ và Việt Nam để thấy chênh lệch
hỏa lực 16 lần. Tướng Abrams dùng dữ kiện này để tìm
cách tăng viện cho các sư đoàn VNCH. Phía VN còn bị kém hơn
nữa vì lúc đầu các yểm trợ chiến trường đều ưu tiên
cho quân Mỹ, như oanh tạc B-52, xử dụng trực thăng, chiến
đấu cơ cận chiến và chuyển quân giữa chiến địa.
Tướng Abrams nói thêm
là trong lần tấn công thứ ba vào tháng Tám và Chín 1968 quân
VN đã hạ được nhiều địch quân hơn cả tổng số của
Đồng Minh. Họ cũng chịu nhiều tổn thất nhân mạng hơn
theo số kiểm chứng cũng như theo ước tính với phân số
ta và địch tử vong. Ông nói với Tướng Wheeler rằng đó
là vì thật sự quân đội VN không được yểm trợ như quân
đội Mỹ cả về phẩm lẫn lượng (trọng pháo, không tập
chiến thuật, không pháo và trực thăng vận). Bởi vậy việc
chỉ trích quân đội VN trong thời kỳ đầu thiếu khách quan.
Thiếu khí giới cần thiết trước một địch quân hùng hậu
hơn lại còn bị đẩy xuống vai trò thứ yếu trong nhiều
năm đã không cho họ cơ hội tăng tiến kinh nghiệm chiến
đấu.
Về sau ông Robert McNamara
từng là Bộ Trưởng Quốc Phòng và chủ động chiến tranh
đã viết một cách hời hợt về phía Việt Nam. Ông đã bị
William Colby sửa lưng như sau, “Ông không có quyền nói xấu
những người Việt đã đem xương máu chống cộng sản trong
khi đại cường Mỹ đã phủi tay chỉ vì lỗi lầm của McNamara.
Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa Kỳ đã thua với McNamara
và phần lớn là vì hắn”!
PHẦN 2 - TẾT 1968
Chiến trận xẩy ra khắp
nơi hồi Tết 1968 là một thử thách lớn cho Quân Đội VNCH.
Nhiều người đã sửng sốt chứng kiến một thành tích vượt
bực. Khi đi nhận giải Thayer tại trường Westpoint Đại Sứ
Ellsworth Bunker lên diễn đàn ca ngợi chiến tích ấy. “Mặc
dầu Quân Đội VN ít hơn nhưng họ đã chiến đấu vượt
bực. Đại Tướng Abrams đã nói họ chiến đấu ngoài sức
tưởng tượng của họ. Đã không có nổi dậy, không có đào
ngũ và chính quyền vẫn nguyên vẹn. Trái lại họ phản ứng
cấp kỳ, mạnh mẽ và đích đáng; họ chiến đấu với tối
đa sức mạnh”.
Thành tích vượt bực
của quân đội VNCH trong trận Tết Mậu Thân 1968 rất cần
thiết cho tương lai Việt Nam. Đại Sứ Bunker nói tiếp :”Kết
quả là cả một chuỗi diễn tiến làm cho chính phủ Việt
Nam vững mạnh, dân chúng tin tưởng hơn khả năng đương đầu
với địch và chính quyền thấy sẵn sàng gánh vác vai trò
chiến đấu hơn”.
Ông John Paul Vann cũng
đồng ý nói trong năm 1972 rằng “Tết Mậu Thân đã làm cho
chính phủ Nam Việt gia tăng kiểm soát lãnh thổ, tổng động
viên nhân lực để có đủ quân số trám vào khi quân Mỹ
rút lui và gia tăng lực lượng địa phương bảo dảm sự
hiện diện chính quyền trung ương tại các vùng thôn quê”.
Lúc Đại Tướng Abrams
nhận chức chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam thì xẩy
ra vụ tấn công thứ ba của cộng sản vào mùa Thu 1968. Ông
điện cho Đại Tướng Earle Wheeler và Đô Đốc John McCain,
“Tôi phải kết luận rằng việc quân Việt Nam đã giết
nhiều địch trong vòng sáu tuần lễ hơn cả quân Đồng Minh
chứng tỏ tiến bộ lãnh đạo và tinh thần xung kích của
họ. Họ phải trả một giá rất cao về tử vong và tôi cho
phần lớn là vì không được yểm trợ đúng mức. Do đó
cần phải nhanh chóng tăng viện khí giới cho họ”.
Trong cuộc họp thượng
đỉnh ở Midway vào tháng Sáu 1969 chương trình nghị sự chú
tâm đến bành trướng và tăng quân viện cho quân lực Việt
Nam. Quân số tăng lên 820,000 rồi lại đưa lên đến 1.1 triệu
người đã được ký kết. Ngoài ra, theo ghi nhận của Chuẩn
Tướng Trần Đình Thọ, còn thỏa thuận trang bị thêm M-16,
đại liên M-60 và hỏa tiễn LAW. Vậy thấy rằng ngay lúc ấy
mà còn bàn đến M-16 thì quân Việt đã phải chiến đấu
từ lâu ở thế kém với một địch quân hùng hậu.
PHỤ ĐÍNH - VÀI SO
SÁNH
*Đã có 50 người đào
ngũ mỗi ngày dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng Tư
Lệnh. Đó là trường hợp Đại Tướng George Washington ở
Valley Forge trong mùa Đông 1777-1778.
*Đã phải đưa đại
pháo ra đường dẹp phiến loạn chống động viên. Đó là
lúc Tổng Thống Abraham Lincoln đã phải quyết định ở Nữu
Ước hồi tháng Tư năm 1865 trong cuôc nội chiến Nam Bắc.
*Trong trận chiến cuối
cùng đã chỉ có nửa quân số tham dự vì tệ nạn đào ngũ.
Đó là trường hợp Đại Quân Potomac của Tướng George Meade
ở Gettysburg. “Ông ta hy vọng có 160,000 binh sĩ nhưng chỉ
vỏn vẹn được 85,000 vì 75,000 lính đã đào ngũ. Trong cuộc
Nội Chiến Mỹ, tỷ lệ đào binh của Liên Quân là 33% trong
khi bên kia còn hơn nữa ở mức 40 phần trăm”.
*Trong cuộc tổng xung
kích một nửa số binh sĩ trong các sư đoàn đã kháng lệnh.
Đó là trường hợp Quân Đội Pháp năm 1917 làm cho tòa án
binh đã phải kết tử hình 554 quân nhân trong số ấy 49 người
đã bị hành quyết.
*Đặc biệt có trường
hợp một số đơn vị đã tháo chạy; đó là trong Thế Chiến
II khi Đại Đội K thuộc Sư Doàn 25 Mỹ đã bỏ chạy toán
loạn. Sử gia Geoffrey Perret ghi, “Hiếm thấy một Sư Đoàn
Mỹ nào không có tình trạng Đại Đội bỏ ngũ như vậy”.
*Nói đến một đơn
vị mà Tư Lệnh Sư Đoàn bị cách chức, bốn phụ tá chính
bị loại, hai Tiểu Đoàn Trưởng bị bắt sống và chín Tiểu
Đoàn Trưởng khác bị thay thế. Đó là Sư Đoàn Mỹ 36 tại
Salermo trong Thế Chiến II.
*Luôn luôn pháo kích,
ám sát, bắt cóc và áp đảo thường dân vô tội là việc
làm của công sản trong suốt cuộc chiến.
*Giết hại thường dân
vô tội như trong trường hợp Thủy Bồ và Mỹ Lai là thành
tích xấu xa của quân Mỹ trong những năm 1967-1968.
Ta có thể kể ra nhiều
trường hợp tương tự. Điểm nên nhớ là nếu đem so sánh
với các lực lượng đương thời hoặc theo lịch sử ghi nhận
thì QLVNCH đã chiến đấu ngang tàng và xứng đáng trong suốt
cuộc chiến. Đó là một điểm son không bao giờ được nhắc
tới.
Có rất nhiều tài liệu
ghi sự dũng cảm và thiện chiến của QLVNCH, tuy nhiên các
nhà viết sử không chú ý đến và các phóng viên báo chí
thì lờ đi. Trong Văn Khố Quôc Gia có hàng ngàn huy chưong Hoa
Kỳ cấp cho quân sỹ Việt Nam vì thành tích phục vụ quả
cảm.
Quá trình đẹp đẽ
ấy lại càng đáng nể hơn nếu ta nghĩ rằng người lính
Việt đã tham chiến từng nhiều thập niên và phần đông
đã hy sinh cả quãng đời thanh niên của họ. Một người
Mỹ đã nói rất chí tình, “Quân nhân Việt không có DEROS
(ngày được trở về) như lính Mỹ chỉ phục vụ một năm
ở Việt Nam. Họ chiến đấu không ngừng nghỉ năm này qua
năm khác với một sức chịu đựng và lòng nhiệt thành không
tưởng tượng được. Ngay sau khi cộng sản thắng trận phần
đông lại còn chịu giam cầm hàng chục năm trong các trại
lao cải nghiệt ngã”.
PHẦN BA - ĐỊA PHƯƠNG
QUÂN
Sau vụ Tết Mậu Thân
1968, Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Đại Tướng Creighton Abrams
lên thay Đại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm về cuộc
chiến và phương pháp hành xử. Tướng Abrams nhấn mạnh “chiến
tranh toàn diện” gồm cả hành quân, bình định và gia tăng
khả năng QLVNCH theo một quy trình cấp bách ngang với chiến
trận.
Chiến thuật cũng thay
đổi từ quan niệm “truy và diệt” qua “bình định và
giữ đất”. Có nghĩa là khi địch bị đẩy ra khỏi vùng
có dân thì quân đội phải đóng lại chớ không rút đi cho
địch trở lại. Do đó Địa Phương Quân được phát triển
tối đa để phụ trách an ninh và bình định lãnh thổ.
Thiếu Tướng Nguyễn
Duy Hinh cho sự phát triển và nâng cao các lực lượng địa
phương là việc làm quan trọng nhất của Mỹ. Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng nhận định rằng kết quả bình định xã
ấp, gia tăng số dân sống dưới chính quyền và an toàn giao
thông là công của lực lượng địa phưong quân và nghĩa quân.
Tháng Năm 1967 khi Đại
Tướng Abrams đến Việt Nam thì quân lực VN gồm có Lục Quân,
Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra còn
có những lực lượng diện địa bao gồm Địa Phương Quân
và Nghĩa Quân phụ trách an ninh lãnh thổ. Tỉnh Trưởng chỉ
huy Địa Phương Quân còn Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận
Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phương của
họ và thực hiện mục tiêu “càn quét và giữ đất”. Vào
năm 1970 đã có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.
Một trùng hợp, đêm
hôm trước Bing West và một nhân vật nữa đã lên kênh PBS
“Giờ tin tức với Jim Lehrer” để thảo luận về tình hình
Iraq. Một người đã nói đến quan niệm “càn quét và giữ
vững” của Condoleza Rice. Nếu ta tìm nguồn gốc quan niệm
này thì hẳn phải kể Lực Lượng Diện Địa Nam Việt, Đại
Tướng Abrams, Đại Tướng Harold K. Johnson và bản nghiên cứu
PROVN (chương trình bình định và phát triển Nam Viêt) của
Đại Tá Jasper Wilson.
Ngay từ tháng Mười
1968, ông William Colby làm phụ tá Bính Định cho Tướng Abrams
đã giải thích tầm quan trọng của các lực lượng ấy. “Để
bảo vệ an ninh lãnh thổ chúng ta chú trọng đến tăng tiến
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, lên ngót một nửa toàn thể
quân số. Chúng ta đã bắt đầu ngay từ tháng Mười vừa
qua. Trong một buổi thuyết trình Đại Tướng Abrams đã nhấn
mạnh ba mươi điều phải làm trong đó có việc cử các toán
nhỏ cố vấn quân sự đến các Đại Đội Địa Phương Quân
và các Trung Đội Nghĩa Quân. Ta đã có 250 toán năm người
rải rác khắp mọi nơi”.
Ba tháng sau ông Colby
đã thấy sự tăng tiến nhanh chóng huấn luyện và vũ khí
cho các đơn vị ĐPQ cũng như NQ. “Đã có 91,000 binh sỹ nhiều
hơn năm ngoái. Khoảng 100,000 người đã được trang bị súng
M-16 và 350 toán cố vấn đã sống và làm việc với các đơn
vị ĐPQ và NQ”. Ngay khi lãnh chức Tư Lệnh, Đại Tướng
Abrams đã thẳng thừng chuyển các súng mới cho họ. Ông nói
trong bài thuyết trình tháng Tám 1968, “Trong một năm ĐPQ và
NQ được ưu tiên hàng đầu và nhận súng M-16 trước cả
Lục Quân. Cũng như mọi việc, tôi đã bỏ vào quỹ-tiết-kiệm-lính
với lãi xuất 10 phân. Trời Đất ơi, chúng ta đã đầu tư
vào đây và đó là việc phải làm, ưu tiên tối đa trên tất
cả mọi thứ”!
ĐPQ và NQ gia tăng khả
năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu.
Trong buổi thuyết trình WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần)
cho quan khách Tướng Abrams nói, “Điều tôi quan tâm nhất
là vai trò của ĐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lãng.
Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đã lâu nay
ĐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đã giáng cho quân
địch nhiều đòn chí tử. Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói
đến an ninh cho dân thì đây mới là phần việc lớn”!
Cùng một lúc, ông nói
rõ ràng về thành tích của các đơn vị này. “Tôi không
biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không.
Nếu có thêm nhân số thì tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực
lượng diện địa này có lợi hơn”.
Cuối năm 1969, khi nhìn
biểu đồ tình hình trong ba tháng vừa qua ghi rõ ai đã đem
lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng
Abrams đã nói: “Thật rõ ràng và đúng. Số địch bị giết,
khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, vv, thì QĐVNCH
vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Đồng
Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa
phương và đã xẩy ra từ tháng Tám vừa qua”.
Một người trong cừ
tọa nói lớn, “Đó là tính chất của cuộc chiến”!.
Tướng Abrams trả lời
ngay, “Đúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được
từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đã
bắt đầu thấy kết quả”!
Ông Bill Colby cũng nhận
xét rằng trong tháng Bảy 1970 lực lượng địa phương cũng
bảo vệ được súng của mình. Tỷ lệ khí giới mất đối
chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn tình
trạng năm năm trước đây.
Tướng Abrams nói thêm:
“Các Lực Lượng Địa Phương, các con sóc ấy tiến tới
rất vững vàng. Một tình trạng đã được duy trì lâu nay
là ĐPQ và NQ đã gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh”.
Các sỹ quan cao cấp
Việt Nam cũng nhìn nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng,
“Các ĐPQ và NQ đã lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một
phụ lực quân để trở thành các binh sỹ chính quy và là
một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh”! ĐPQ tăng tiến
về phẩm cũng như lượng đã được các nhân vật bình luận
khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng, “Họ là mũi nhọn
trên chiến trường”!
PHẦN 4 - NHỮNG VẤN
ĐỀ NHỨC NHỐI
Có ba vấn đề luôn
luôn khó khăn cho QLVNCH trong suốt chiến tranh là, thiếu cán
bộ lãnh đạo giỏi, tình trạng tham nhũng lan rộng và đào
ngũ.
Có lãnh đạo với đầy
đủ khả năng chỉ huy là một vấn nạn cho QLVNCH trong suốt
cuôc chiến. Với sự gia tăng quân số đến 1.1 triệu người
tình trạng lại càng trầm trọng hơn. Sự thất thoát cấp
chỉ huy của các đon vị nhỏ lại càng làm cho vấn đề tệ
hại khi quân số gia tăng.
Công việc huấn luyện
và các kế sách tuyển mộ các chỉ huy mới rồi đôn họ
lên theo chiến tích thật là nhọc nhằn và khó khăn. Sau chiến
dịch Lam Son 719, Đại Tướng Abrams tham dự một cuộc duyệt
binh tại Huế đã nói, “Thật là một việc đáng ghi. Họ
đôn quân, HSQ được thăng lên, HSQ lên thành Chuẩn Úy, Chuẩn
Úy lên Thiếu Úy. Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng đó là
việc nhỏ với 5,000 thăng cấp, mà thăng cấp mặt trận”.
Tướng Abrams rất thích:
“Đó là chuyện đã xẩy ra ở Lào. Không có cách gì tốt
hơn trong quân đội là đi vào hàng ngũ lựa chọn những phần
tử chiến tích thích đáng mà đôn lên”. (Cũng như vậy đối
với các viên chức tại Trung Tâm Huấn Luyện Vũng Tàu hầu
giúp họ tăng tiến khả năng quản trị và lãnh đạo trong
công việc).
Vài vị chỉ huy Việt
Nam đã không ngớt chỉ trích khả năng lãnh đạo của mình.
Đại Tướng Cao Văn Viên đã viết trong cuốn sách của ông
như sau, “Trong thời gian tôi phục vụ ở cương vị Tổng
Tham Mưu Trưởng tôi đã chứng kiến sự thành công cũng như
thất bại của khả năng lãnh đạo của chúng ta. Mặc dầu
chúng ta đã cố gắng tối đa nhưng vẫn không đủ trong hoàn
cảnh khó khăn của đất nước”.
Sự đào ngũ trong các
sư đoàn là một căn bệnh trầm trọng của QLVNCH. Tuy nhiên
không phải đào ngũ theo phe đich nhưng phần lớn là để tránh
ra trận hay để về nhà. Đó là một việc khác hẳn phía
địch khi phần đông những đào binh quay về hàng ngũ quân
ta. Trái lại đào binh ta thường trở lại ngũ tại địa phương.
Theo Anthony Joes đó là sự hoán chuyển từ quân đội chính
quy về địa phưong quân mà tỷ lệ đào ngũ gần như không
có mặc dầu số tử vong cao hơn quân chính quy.
Tham nhũng là một nhược
điểm nữa không bao giờ gột tẩy được mặc dầu ảnh hưởng
lên chiến cuộc không mấy quan trọng như người ta thường
kêu la. Tuy nhiên Đại Tướng Cao Văn Viên đã kết luận như
sau. “tham nhũng không phải yếu tố đưa đến sự sụp đổ
của chế độ nhưng chắc chắn nó gây ảnh hưởng tệ hại
đến trình độ binh nghiệp và như vậy làm suy nhược khả
năng chiến đấu”.
Ông Tom Polgar của CIA
nhận định xác đáng rằng tham nhũng không thể lật đổ
một quốc gia cũng như trường hợp Phi Luật Tân, Nam Hàn hay
Thái Lan. “Nước nào mà không trả công tương xứng cho viên
chức đều có tham nhũng, đó là một quy luật. Tuy nhiên tham
nhũng bòn rút hết tiêm lực quốc gia khi có ngoại xâm”.
Đại Tá William LeGro
đã ở lại đến những ngày cuối cùng với DAO (Cơ Quan Tùy
Viên Quốc Phòng) đồng ý. Ông nói: “Tham nhũng không làm
cho sụp đổ. Sự giảm thiểu viện trợ Hoa Kỳ đến con số
không là đáp số”. Ông ta nói thêm: “Chúng ta đã đối
xử một cách xấu xa bỉ ổi với bạn Việt Nam của chúng
ta”.
PHỤ ĐÍNH - NGUYỄN
VĂN THIỆU.
Phần này bàn về cố
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH.
Tổng Thống Thiệu lãnh
đạo quốc gia trong một thời kỳ ngặt nghèo nhất. Trong khi
chiến đấu chống ngoại xâm và nội loạn được Nga Tầu
yểm trợ tối đa, ông đã đặt các cơ cấu dân cử từ trung
ương cho đến hạ tầng xã ấp. Ông đã gia tăng quân đội
và với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, ông đã tăng tiến phẩm
chất quân lực để thay thế quân Mỹ. Ông trực tiếp lãnh
đạo chương trình bình định nông thôn và phá vỡ hệ thống
khủng bố đe dọa dân quê. Ông thực thi một chính sách cải
cách ruộng đất đáng khen, phân phát cho 400,000 nông dân 2
triệu rưỡi mẫu ruộng, và tổ chức bốn triệu dân thành
một lực lượng dân vệ với 600,000 khẩu súng.
Trong sáu năm phục vụ
Đại Sứ Ellsworth Bunker thường xuyên tiếp xúc với Tổng
Thống Thiệu và đã nhận xét xác đáng về con người cùng
khả năng của ông ấy. Đại Sứ Bunker nói: “Ông ta đối
phó với tình hình một cách khôn ngoan và khéo léo. Ông ta
là một con người trí thức đầy khả năng. Thoạt đầu ông
đã cai trị theo hiến pháp chớ không theo một lũ Tướng Tá
chỉ muốn ông hành động theo ý họ. Càng ngày ông càng hành
xử như một chính trị gia (đây là một lời khen của Bunker),
đi về vùng quê, thanh tra bình định, chuyện trò với dân
xem họ muốn gì”. Ông Bunker khen ngợi ông Thiệu và có khi
coi ông ta như một đối thủ chính trị có bản lãnh. Bunker
nói: ‘Tôi nghĩ Thiệu là một người khôn ngoan và chín chắn”.
Ông Thiệu cũng hết
sức thực tế khi phàn nàn với Bunker rằng, “Thật là khổ
cho chúng tôi đã không có mấy vị Tướng đủ khả năng chỉ
huy hơn một sư đoàn”! Khi nói vậy ông ám chỉ cả chính
ông một cách khiêm nhượng và rất đúng.
Vì quân đội cung cấp
phần lớn khả năng hành chính cũng như chính trị nên ông
Thiệu bị giới hạn một cách đau thương trong việc thay thế
các phần tử thiếu khả năng hay bất xứng. Lại nữa ông
ta cũng cần phải lưu giữ những người đáng tin cậy mặc
dầu yếu kém. Trong thời đầu nhiệm kỳ ông đã cắt nghĩa
cho một nhân viên Mỹ cao cấp như sau: “Hoàn toàn thanh lọc
cấp chỉ huy trong quân đội là một việc bất khả thi. Mỗi
sự thay thế một vị tư lệnh đều phải sắp đặt và thi
hành hết sức cẩn trọng. Không thể kéo quân đội ra khỏi
chính trị trong một sớm một chiều. Tổ chức quân đội
vẫn là thế đứng duy nhất của tôi và hơn nữa là một
cơ chế vững vàng nhất để bảo đảm thống nhất quốc
gia”.
Đại Sứ Bunker cũng
như Đại Tướng Abrams hiểu rõ vấn đề nên tỏ ra rất kiên
tâm và thông cảm. Nhưng họ cũng đưa ra những đề nghị
chính xác liên quan đến các cấp chỉ huy cao thiếu khả năng.
Thường thì được nghe theo tuy phải mất thời giờ trong khi
sắp xếp chính trị. Trong một thời gian đã có những thay
đổi lớn trong cấp lãnh đạo quân cũng như chính, có khi
do áp lực khủng hoảng chiến trường. Tuy nhiên chưa bao giờ
có việc thanh trừng rộng rãi là vì không những để tránh
xáo trộn mà lại còn không có đủ người xứng đáng thay
thế. Đào tạo nhiều cấp chỉ huy tốn quá nhiều thì giờ.
Giới cao cấp Hoa Kỳ
nhận thấy sự quan trọng của Thiệu trong việc bình định.
Tướng Abrams bảo rằng ông Thiệu hiểu nhiều hơn bất cứ
ai về công tác bình định và William Colby gọi ông là “con
người bình định số một”. Lịch sử Bộ Tổng Tham Mưu
Quân Đội Mỹ đã nhận định “Thiệu là một yếu tố quan
trọng. Ông ta nhận định rõ ràng sự quan trọng của chương
trình bình định và thiết lập các cơ cấu hành chính cấp
địa phương”.
Nhiều dịp Tổng Thống
Thiệu mời Đại Sứ Bunker cùng đi kinh lý thôn xã. Ông Bunker
đã nghe ông Thiệu nhấn mạnh sự thiết lập cơ chế hành
chính địa phương, tổ chức bầu cử xã ấp, huấn luyện
các viên chức địa phương và cải cách ruộng đất. Tại
Trung Tâm huấn luyện Vũng Tầu 1,400 xã trưởng nghĩa là ba
phần tư làng xã Nam Việt đã theo học trong chín tháng đầu
năm 1969. Tổng Thống Thiệu đi thăm mọi lớp và cho các học
viên khi trở về làng có thể hãnh diện nói với dân là “Tổng
Thống đã khuyên nhủ tôi thế này thế nọ”. Cuối năm 1969
tình hình đã tiến bộ rõ rệt khiến cho ông John Paul Vann,
một nhân vật hàng đầu trong chương trình bình định đã
nói trước cử tọa tại Princeton rằng, “Hoa Kỳ đã thắng
trên trận địa và nay đang thắng chính trị với Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu”.
Hồi tháng Tư 1968, trái
với ý kiến của hầu hết các cố vấn, Tổng Thống Thiệu
đã thiết lập các lực lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông Thiệu
lập luận rằng, “chính quyền căn bản trên dân. Bởi vậy
chính quyền không có nền móng nếu không dám đưa khí giới
cho dân”. Do đó khoảng bốn triệu người, trong số những
người quá trẻ hoặc quá già để nhập ngũ, đều xung vào
Dân Vệ và được trang bị 600,000 súng cá nhân. Lập luận
xác đáng là chính phủ Thiệu được dân ủng hộ, Dân Vệ
đã dùng súng chống lại sự đô hộ cộng sản chớ không
phải chống chính phủ.
Về sau qua bao nhiêu tài
liệu người ta thấy rõ rằng cộng sản đã nhiều lần kêu
gọi tổng nổi dậy nhưng không bao giờ dân đã nổi dậy
theo chúng. Theo con mắt khách quan của nhiều quan sát viên thì
không lạ gì mà sau bao nhiêu năm ám sát, bắt cóc, khủng bố,
ức chế và pháo kích bừa bãi các khu dân cư trong toàn Nam
Việt mà cộng sản đã không chinh phục được lòng dân.
Tháng Mười năm 1971
trong tình hình chiến tranh dữ dội Tổng Thống Thiệu đã
thắng cử không có đối thủ. Nhiều người đã chỉ trích
ông cho rằng sự thắng cử của ông không xứng đáng vì không
có đối lập.. Tuy nhiên mặc dầu địch đe dọa và kêu gọi
tẩy chay đầu phiếu đã có 87.7 phần trăm cử tri hợp lệ
đến phòng phiếu và 91.5 phần trăm đà bỏ phiếu cho ông
Thiệu. Đó là một tỷ lệ cao nhất của Việt Nam. Nếu không
hay ho vì không có đối thủ hay dân không bằng lòng sự lãnh
đạo của ông thì tại sao họ lại đi bỏ phiếu đông như
vậy mặc dầu có thể nguy hiểm đến tính mạng? Người ta
thấy rằng, mặc dầu có nhiều chỉ trích, phần đông dân
chúng muốn ông tiếp tục lãnh đạo xứ sở.
Ông John Paul Vann tuyên
bố hồi tháng Giêng 1972 rằng “yếu tố căn bản không chối
cãi được là khoảng 95 phần trăm dân chúng muốn có chính
phủ Việt Nam hiện hữu hơn là chính phủ cộng sản hay một
chính phủ do phía bên kia đưa ra”.
Thật là buồn khi nhiều
người Việt đã chỉ trích ông Thiệu. Tôi đã nói chuyện
với nhiều bạn Việt hiện sinh sống ở đây. Mới đây một
người bạn học thức và thông minh đã nói với tôi một
cách phũ phàng rằng Tổng Thống Thiệu đã nói dối. Tôi hỏi
lại như thế nào thì được trả lời ngay: “Thiệu biết
rõ là người Mỹ sẽ bỏ rơi mà không nói cho chúng tôi biết”.
Tôi cho đó là một lời
buộc tội quá nặng và cần bàn lại. Đại Sứ Bunker nhớ
đã tự tay đưa cho Tổng Thống Thiệu ba bức thư cam kết
của Tổng Thống Nixon giúp Việt Nam nếu cộng sản vi phạm
trắng trợn hiệp định. Nhưng ông Bunker nói, “Quốc Hội
bó tay chúng ta và kết quả là nước Mỹ đã bội phản”.
Ông Bunker giải thích rõ ràng, “tôi không thể hình dung được
làm sao Tổng Thống Thiệu có thể biết trước cung cách và
hành động điếm nhục ấy của Hoa Kỳ”!
Ông Thiệu đã từ chức
vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ hầu mong có dàn xếp
ổn thỏa. Trong bài giã từ ông đã làm đúng khi giận dữ
chua chắt về một cuộc tranh đấu cam go trong nhiều năm. Nó
đã cho thấy rằng ông cũng đã sửng sốt như bất cứ ai
khi người đồng minh một thời đã quay lưng lại một người
bạn trong lúc hoạn nạn (và phản bội cả những người Mỹ
đã hy sinh tại Việt Nam).
Theo tôi thì Nguyễn Văn
Thiệu đã thi hành nhiệm vụ một cách can dảm trong nhiều
năm chiến tranh để xứng đáng được kính nể và biết ơn
của những ai vẫn muốn thấy miền Nam Việt Nam tốt đẹp
(còn có nể trọng hay không là tùy trường hợp).
PHẦN 5 - LAM SƠN 719
Rõ ràng người ta đã
cho rằng chiến dịch Lam Son 719 vào Hạ Lào là một thảm bại
cho Nam Việt. Tuy nhiên sự thật khác hẳn, vì hiện nay với
băng ghi Abrams và các nguồn tin khác đã cho biết là quân Bắc
Việt thiệt hại nặng khiến cho chúng mất trớn tổng tấn
công miền Nam để ta có thì giờ kiện toàn Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh.
Trong tài liệu WIEU (cập
nhật hằng tuần tình báo) ngày 30 tháng Giêng ta thấy địch
quân biết đôi chút về hành quân vượt biên giới của ta.
Tám ngày trước khi cuộc hành quân khởi diễn, COMINT (tình
báo vô tuyến) nhận thấy địch quan tâm đến các hoạt động
phía ta tại vùng 1 và những khu vực lân cận Hạ Lào. Đã
phát hiện các truyền tin của địch từ ngày 24 tháng Giêng
để ý đến “quân ta có thể đánh qua biên giới phá trục
tiếp vận của chúng”. Cũng có tin tức là địch hết sức
lo cuộc đổ bộ vào Bắc Việt và sư xâm nhập Lào từ những
chiến hạm ngoài khơi, vv.
Ngày 8 tháng Hai các đơn
vị QLVNCH vượt biên vào Lào trên trục lộ 9 với thiết giáp,
nhẩy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và lục quân.
Tổng số 10,000 quân đã nhập đất Lào vào cuối tuần. Cùng
lúc, 10,600 quân tiến vào Cao Mên.
Khi Đô Đốc McCain Tư
Lệnh Thái Bình Dương (CINPAC) dự thuyết trình ngày 19 tháng
Hai thì được biết các đụng độ khá cao ở cấp Đại Đội
và nhiều trận lẻ tẻ đã diễn ra trên khắp chiến trường.
MACV theo rõi sáu tiểu đoàn địch đương đầu QĐVN tại Lào.
Quân Đội Mỹ không được phép tham dự nhưng sư yểm trợ
của không lực Mỹ đã mất 21 trực thăng trong 7,000 phi xuất
(tổng số thất thoát trong chiến dịch là 108 nghĩa là 21 cho
100,000 phi xuất).
Trung Tướng William E.
Potts của MCV J-2 đã tóm lược cho Đô Đốc McCain như sau:
“Điểm đáng ghi nhận là trong chiến dịch Lam Son, địch
quân đã đưa ra tất cả những gì chúng hiện có hoặc đang
gửi đến ngoại trừ Sư Đoàn 325 và Tiểu Đoàn 9 thuộc Sư
Đoàn 304. Vậy nếu chúng bị thiệt hại thì chúng sẽ tụt
hậu trong một thời gian khá lâu”. Tướng Abrams nói thêm,
“Lẽ cố nhiên chúng ta mong đón tất cả bọn chúng với
toàn thể sức mạnh của chúng ta”. .
Dầu vậy, đến ngày
20 tháng Hai, nghĩa là gần hai tuần sau chỉ có sáu Trung Đoàn
địch hiện diện trong chiến dịch Lam Sơn. Thuyết trình viên
nói trong buổi họp chỉ huy WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần)
ngày hôm ấy là, “thật vậy sự phản công mạnh mẽ của
địch đã xẩy ra đêm 18 tháng Hai. Phía ta có một lực lượng
tương đương với 18 tiểu đoàn vẩn tiếp tục tìm địch
thanh toán”.
Đại Tướng Abrams nhấn
mạnh với ban Tham Mưu và các cấp chỉ huy của ông là phải
cho quân Việt Nam mọi phương tiện cần thiết để họ chiến
thắng trong trận hệ trọng này. “Đây là một dịp dể giáng
cho địch một vố ta chưa bao giờ làm được”. Ông nhấn
mạnh hết sức ý nghĩa khi Hoa Thịnh Đốn đưa ra một vài
chỉ trích: “Ai cũng biết cái rủi ro từ lúc đầu nhưng
ta thấy là đã đến lúc phải chấp nhận rủi ro”. Khi qua
Hoa Thịnh Đốn Đại Sứ Bunker đã trình bầy tất cả các
khía cạnh tương quan.
Cho đến ngày 24 tháng
Hai, MACV vẫn theo dõi sáu Trung đoàn địch (tăng lên thành
bẩy ba ngày sau) trong chiến dịch Hạ Lào. Trong tường trình
cho Tướng Abrams, thuyết trình viên đã nói rằng bốn tiểu
đoàn trong số 18 cung cấp cho Trung Đoàn địch hình như đã
bị tê liệt. Cũng trong ngày ấy số tử thương của địch
quân được ước lượng là 2,191 người trong khi quân bạn
mất 276 mạng.
Đến đây thì một khó
khăn lớn xẩy ra là thiếu hụt trực thăng. Mà Quốc Lộ 9,
con đường chính Đông Tây có nhiều đoạn bị đào sâu lên
đến cả sáu thước khiến cho việc xử dụng con lộ này
hầu như bị gián đoạn. Nhất là loại bồn chở xăng không
thể đi qua được. Bởi vậy phải tiếp tế bằng phi cơ,
ảnh hưởng nặng nề lên đội ngũ trực thăng. Sự tính toán
điều hành và sửa chữa cấp bách đã xoay lại tình thế.
Cho nên khi Tướng Julian Ewell, một nhân vật không mấy thiện
cảm với chiến dịch, đi thanh tra ông đã nói, “tỷ lệ
sẵn sàng hành quân (operational readiness) ngày Chủ Nhật khi
tôi đến thăm là 79%, một con số vượt bực”.
Cùng lúc địch tung ra
một trận tấn công lớn với thiếp giáp và tràn ngập cứ
điểm 31 là nơi trú quân của Tiểu Đoàn Bộ Đệ Nhất Sư
Đoàn VNCH. Người ta đã ghi nhận địch có 350 quân bị giết
và 15 thiết giáp bị phá hủy đối lại 13 quân bạn chết,
39 bị thương và ba thiết vận xa bị hư hại.
Người ta nhận thấy
ngày mồng 1 tháng Ba một Trung Đoàn địch nữa đã tham chiến
nâng tổng số lên tám đơn vị (trong 24 tiểu đoàn có sáu
đã bị tê liệt). Đại Tướng Abrams nói, “thật là một
trận khủng khiếp”. Trong buổi thuyết trình cập nhật ngày
4 tháng Ba thuyết trình viên đã nhắc lại rằng ngày 11 tháng
Hai đã thấy dấu hiệu địch chuyển sang thế tấn công. Tuy
nhiên sự việc chỉ xẩy ra ngày 18. Ta có thể nói là địch
đã mất quân số vào khoảng bẩy tiểu đoàn chủ động,
còn số thiết giáp của họ vào khoảng 100 chiếc lúc đầu
thì nay chỉ còn từ 65 đến 70 chiếc mà thôi. Ở thời điểm
này ta ước lượng địch quân có tại hiện trường 15,000
chiến binh cộng với từ 8,000 đến 10,000 quân hậu cần trong
khi bên ta huy động mười sáu tiểu đoàn chủ động.
Khi một tù binh thuộc
Trung Đoàn 24-B khai rõ sự tộn thất nặng nề trên đường
92 về phía Bắc Bản Đông thì phòng J-2 MACV giảm hiệu lực
của địch đi hai Tiểu Đoàn, nghĩa là trong số 30 Tiểu Đoàn
địch thuộc 10 Trung Đoàn tung ra trên chiến trường đương
đầu với quân VN thì chúng đã mất hẳn 10 Tiểu Đoàn. Tướng
Abrams nói, “Tôi càng tin chắc rằng đây có thể là trận
quyết định chiến cuộc”. Tướng Potts nói thêm, “Họ mất
một nửa chiến xa, một nửa đại bác phòng không và 10 trên
30 Tiểo Đoàn”.
Trong một buổi cập
nhật tình báo hàng tuần (WIEU) ngày 20 tháng Ba, Đại Sứ Bunker
nói Chiến Dịch Lam Sơn đang chấm dứt là một cuộc hành
quân rất thích ứng. Tướng Abrams bèn trả lời: “Thật là
một trận đánh cam go. Tuy nhiên ảnh hưởng lên phần cuối
năm nay hết sức to lớn. Chúng đã tung nhiều lực vào Lam
Son và đã bị thua đậm”
Ngày 23 tháng Ba khi địch
quân tung vào thêm Trung Đoàn thứ mười ba, thuyết trình viên
trình bầy rằng chín trong số mười một Trung Đoàn đã bị
thiệt hại nặng nghĩa là họ chỉ còn khoảng 17 Tiểu Đoàn
chủ động trong số 33 đem ra. Ngoài ra họ lại còn mất khoảng
3,500 đơn vị hậu cần. Khi các yếu tố được trình bầy
trong kỳ WIEU thì Tướng Potts nói thêm, “Không phải các Tiểu
Đoàn ấy bị sút kém nhưng chúng đã bị hoàn toàn tiêu diệt”.
Quân đội VNCH cũng chịu
nhiều tổn thất, 1,416 bị giết và 714 mất tích. Nhiều khí
cụ đã bị phá hủy hay bỏ lại khi vội vã rút lui. Khi xét
lại kết quả, Đại Tướng Sutherland nhận định như sau:
“Khuyết điểm từ lâu là Bộ Tham Mưu VN không có đủ khả
năng thiết kế và phối hợp Không Lực cũng như phối hợp
yểm trợ không địa. Tuy nhiên họ dã học hỏi nhiều trong
chiến dịch này”.
Quần chúng hết sức
ủng hộ trận Lam Sơn. Khi Ông Thompson tới viếng thăm hồi
cuối tháng Ba người ta đã trình bầy với ông kết quả cuộc
thăm dò dư luận trong 36 tỉnh. Kết quả cho thấy 92% đồng
ý với các chiến dịch như Lam Sơn 719, 3% chống đối và phần
còn lại không có ý kiến. Kết quả cho thấy một phân xuất
rất cao so với bất cứ lần thăm dò về bất cứ một vấn
đề gì trước đây.
QLVNCH đã chiến đấu
trong 42 ngày liền tại Lào. MACV trình bầy khiêm tốn cho Bộ
Trưởng Lục Quân Stanley Resor là Chiến Dịch Hạ Lào đã “thử
thách QLVNCH trước một địch quân quyết tâm trong trận địa
xuyên biên giới. Chắc chắn là đã phá được đường tiếp
vận của họ”. Ở Hoa Kỳ người ta kêu đó là một thảm
bại của quân Việt. Lẽ cố nhiên bộ máy tuyên truyền Hà
Nội vội vã túm lấy cơ hội.
Tuy nhiên Tướng Abrams
nhận định là chiến dịch nhất định có lợi cho QLVNCH.
“Từ trước ta cứ tưởng rằng Bắc Việt có thể chiến
thắng họ. Chiến tranh chưa chấm dứt nhưng Bắc Việt bắt
đầu thấy là họ phải đương đầu với một công việc
khó hơn nhiều”.
PHẦN 6 - MỘT CUỘC
CHIẾN THẮNG LỢI
Phương pháp áp dụng
trong giai đoạn Abrams đã có kết quả tốt mặc dầu nhiều
người không tin như vậy. Quân Mỹ đã lần hồi rút nên quân
Việt đạt nhiều thành quả hơn. Vì chiếm được nhiều đất
hơn nên đã thấy nhiều lính địch quy thuận hơn. Trong năm
1969 có 47,000 hàng binh cọng thêm 37,000 hồi chánh năm 1970.
Mỗi Sư Đoàn Bắc Quân có 8,689 quân số. Như vậy thì số
đào ngũ của họ trong hai năm bằng chín Sư Đoàn. Đã đến
chiến thắng mặc dầu vẫn phải đánh nhau là vì Nam Việt
đã đủ khả năng giữ vững chủ quyền và tự lực hành
động với lời hứa yểm trợ của Hoa Kỳ như họ vẫn làm
cho đồng minh tại Tây Đức và Nam Hàn.
Ngay từ cuối năm 1969
John Paul Vann, một nhân vật chính của chương trình bình định
đã viết cho cựu Đại Sứ Henri Cabot Lodge như sau: “Tôi không
cần thăm Hoa Thịnh Đốn hay Ba Lê như trước để tìm cách
thay đổi chính sách Việt Nam. Tôi hài lòng với chính sách
hiện hữu. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã đạt mục tiêu bỏ
được số Mỹ tử vong sau 1972 và chiến phí (cuộc chiến
sẽ còn kéo dài mãi) sẽ giảm hẳn vì được người Việt
lo liệu với sự trợ giúp tiếp vận và tài chính của chúng
ta”.
Ngoài trách nhiệm chiến
đấu thay vào quân Mỹ rút đi, Nam Việt còn phải đương đầu
với nhiều thay đổi chính sách. Đại Tướng Abrams nói rõ
là họ phải vượt qua các trở ngại mỗi ngày một khó hơn.
Ông nhắc lại, “Chúng ta đã bắt đầu từ năm 1968,. Mục
tiêu của chúng ta là đến 1974 họ phải quất nặng bọn VC
để sau nữa sẽ đập cả bọn Việt Cộng lẫn quân Bắc
Cộng tại miền Nam. Rồi họ phải nén chặt chúng lại, nén
ba bốn lần. Như vậy chúng ta bắt đầu; trong một thời gian
dài – ông ra dấu bằng tay – và phải kết thúc trong thời
gian ngắn hơn nhiều”.
“Và nếu cần truy cản
Việt Cộng, Bắc Cộng hay giúp Cao Mên chẳng hạn thì chúng
ta cũng giúp tay vào. Tuy nhiên chúng ta cần hết sức cẩn thận
không có sẽ bị trật đường rầy. Ta tránh làm như vậy
vì nó sẽ làm cho ta điên lên”. Sự thay đổi đường lối
quan trọng nhất là loại bỏ dự tính giữ lại một lực
lượng Mỹ lâu dài tại chỗ như thể ở Tây Âu hay Nam Hàn.
Ông Thomas J. Barnes trở
lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương
trình bình định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred
Weyand là “tôi đã ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự
phồn thịnh của nông thôn, Địa Phương và Nghĩa Quân giữ
vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế
làng xã. Ta đã giúp làng xã lấy lại tính cách độc lập
và tự lực theo tập tục Việt Nam. Đó là việc tham gia quan
trọng nhất của chúng ta trong công việc bình định”.
Ngay từ giữa tháng Ba
1971 quân đội Việt Nam đã gánh vác chiến đấu. Thuyết trình
viên đã nói với Đại Tướng Ewell rằng sự chú trọng của
Tướng Abrams vào công tác bình định nay đã hầu như thành
tựu 100% với các kế hoạch tương quan. Quân Mỹ đã gần
như rời khỏi việc hành quân”.
Những tin tức từ phía
địch đã xác nhận thành quả. Trong một cuốn sách in bởi
nhà Xuất Bản Thế Giới Hà Nôi, hai tác giả Lưu Văn Lợi
và Nguyễn Anh Võ đã viết, “cuối năm 1968 trong Nam Bộ các
Ấp Chiến Đấu và những vùng xôi đậu đã bị quân đội
Sài Gòn chiếm lại. Cuối 1968 chúng ta đã bị tổn thất nặng.
Địch dồn lực lượng vào công tác bình định thôn quê gây
cho chúng ta nhiều khó khăn trong hai năm 1969-1970. Từ khi quân
Mỹ vào Việt Nam chúng ta chưa bao giờ gập nhiều vấn nạn
như trong hai năm ấy. Các căn cứ của ta ở thôn quê bị suy
nhược và vị trí co thắt lại. Quân ta bị tiêu diệt, không
còn đất bám và phải qua đồn trú tại Cao Mên. Chúng ta trải
qua một thời kỳ hết sức khó khăn trong những năm 1969-1970-1971.
Kể từ giữa năm 1968 địch đã tập trung đánh phá các vùng
giải phóng để tiêu diệt và đẩy chúng ta ra khỏi cứ địa”.
Tháng Giêng 1972 Vann nói
rằng “chưa bao giờ chúng ta phải tham chiến ít như bây giờ.
Ngày nay thấy rõ các vùng quê phồn thịnh, đường xá khai
thông, cầu kỳ mở lại và bạn có nhiều rủi ro hơn với
cả đống Honda và Lambretta ngược xuôi. Chương trình Việt
Nam Hóa Chiến Tranh đã có kết quả ngoài tưởng tượng”.
Đó là công đầu của Việt Nam Cộng Hòa.
PHẦN 7 - TỔNG TẤN
CÔNG PHỤC SINH 1972
Thành quả Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh
và việc bình định nông thôn khiến cho đối phương phải
tìm một phương án khác. Đó là cuộc tấn công Phục Sinh.
Douglass Pike viết: “Không còn là một cuôc chiến cách mạng
nữa, và theo quan niệm của Võ Nguyên Giáp thì phải qua giai
đoạn chiến tranh quy ước nhỏ giống như ở Triều Tiên”.
Trong vài ngày về Mỹ
John Paul Vann đã trình bầy hiện tình Việt Nam trước một
cử tọa giáo sư chọn lọc. “Họ dựa vào các giới chức
dân cử xã ấp khi kinh tế tăng trưởng, an ninh tiến bộ và
chiến tranh đã chuyển sang Cao Mên và Lào. Sự thực là 95%
dân chúng muốn lưu giữ chính quyền hiện tại hơn là một
chính phủ cộng sản hay một cơ cấu do bên kia đưa ra”.
Theo lịch sử ghi chép
của Quân Đội Nhân Dân thì kế hoạch tấn công 1972 được
chấp thuận bởi Ban Quân Ủy Trung Ương từ tháng Sáu 1971.
Mục tiêu là chiến thắng vào năm 1972 làm cho quân Mỹ xâm
lược phải thương thảo trong thế yếu. Ông Pike diễn giải,
“đó là một cuộc tấn công toàn diện với nhân lực, khí
giới và tiếp vận quy mô. Vào giữa mùa Hè tất cả 14 Sư
Đoàn Bắc Quân rời khỏi Bắc Việt. Chúng xử dụng nhiều
thiếp giáp và đại pháo nặng hơn QLVNCH và đạn dược cũng
không giới hạn”.
Cuối tháng Ba 1972 địch
tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Doàn và
một trận chiến tàn bạo sắt máu đã xẩy ra. Ông Douglas
Pike viết, “Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đã
bị bẻ gẫy vì không yểm làm cho chúng không tập hợp được
và vì sư chống trả dũng cảm và kiên trì của quân Nam Việt.
Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đã bị triệt
hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân
đã hiên ngang chống trả như chưa từng thấy”.
Bắc Quân tổn hại 100,000
người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đã bị giết.
Họ đã mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba
năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Võ
Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân
mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500
mất tích. Tướng Giáp đã tính sai và phải trả một giá
đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: “Giáp đã ước
sai lòng quyết tâm và sự chống trả mãnh liệt của Quân
Nam Việt. Hắn sai lầm về sức đề kháng của QLVNCH”.
Về sau nhiều người
chỉ trích nói rằng Nam Quân đã đẩy lui được Bắc Quân
nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đã phản ứng mạnh
mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, “Tôi không
tin là không có không trợ mọi việc đã giữ vững được.
Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đúng thẳng chiến
đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy thì đến mười
lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản”.
Bọn chỉ trích cũng
triệt hạ QLVNCH cho rằng họ sống sót được là nhờ Quân
Mỹ. Không một ai nhớ rằng 300,000 Quân Mỹ phải đóng ở
Tây Đức là vì người Đức không thể chống lại Nga Xô
Viết hay nhóm Liên Minh Warsaw nếu không có Quân Mỹ. Họ cũng
quên là 50,000 Quân Mỹ phải lưu lại Nam Hàn để giúp trong
trường hợp bọn Bắc tấn công. Và không ai đã nghĩ rằng
vì Quân Mỹ hiện diện nên phải chê bai và chế riễu Quân
Đội Tây Đức cũng như Nam Hàn. Chỉ có Nam Việt bị tách
rời ra để bôi nhọ một cách bất công và ác độc mặc
dầu chỉ được không trợ chớ không được Quân Lực Mỹ
hỗ trợ như Đức hay Cao Ly.
Quân Nam Việt đã thực
sự đánh bại cuộc tấn công Phục Sinh 1972 với xương máu
và lòng quả cảm. Đại Tướng Abrams nói với Tổng Thống
Thiệu rằng “nhờ khả năng bén nhậy của các cấp chỉ
huy nên đã gặt hái thành quả và họ đã chứng tỏ đủ
bản lĩnh đương đầu với cuộc thử thách. Những anh hùng
bảo quốc Nam Việt đã giáng cho quân xâm lăng một đòn chí
tử khiến cho chúng cần ba năm nữa mới có thể mở lại
một cuộc tấn công quy mô”. Tuy nhiên trong khi ấy bao nhiêu
thay đổi hệ trọng đã xẩy ra trên một bình diện rộng
lớn hơn.
QLVNCH đã trở thành
một lá chắn thiện nghệ, nhanh nhẹn và quyết tâm cho xứ
sở của họ. Tuy nhiên họ đã bị bôi nhọ bởi những luận
điệu tiêu cực gồm cả vu khống của bọn phản đối Hoa
Kỳ tham gia cuộc chiến hay ít nhất chính sự tham gia của
cá nhân họ hay bọn thân cộng. Trái lại đã có bao nhiêu
thành tích rõ ràng trên trân địa hồi cuối Xuân và trong
mùa Hè 1972.
PHẦN 8 - BỎ RƠI
Phần này bàn về tình
hình sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào tháng Giêng
1973. Để dụ Việt Nam thỏa thuận điều mà họ cho là quá
sai lầm khi cho Bắc Việt được để lại miền Nam một lực
lượng lớn, Tổng Thống Nixon đã hứa với Tổng Thống Thiệu
rằng nếu Bắc Việt bội ước và lại tấn công Nam Việt
thì Hoa Kỳ sẽ can thiệp mạnh mẽ để trừng phạt chúng.
Và Nixon nói thêm, nếu chiến tranh trở lại, nước Mỹ cam
kết thay thế các chiến cụ trên căn bản một đổi một
theo như điều khoàn của Hiệp định Paris (chiến xa, trọng
pháo vv). Sau nữa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế
tài chánh cho Việt Nam. Thật ra, Hoa Kỳ đã bội ước tất
cả các khoản kể ra.
Trong khi ấy thì Bắc
Việt đã nhận viện trợ không tiền khoáng hậu của các
quan thầy. Theo một cuốn sử xuất bản tại Hà Nội năm 1994
thì trong vòng chín tháng sau khi ký kết Hiệp Định Paris, từ
tháng Giêng đến tháng Chín 1973, Bắc Việt đã gửi tiếp
tế vào Nam bằng bốn lần năm vừa qua. Dầu vậy con số còn
nhỏ nhoi so với lượng chúng đưa vào Nam từ đầu 1974 cho
đến ngày chấm dứt cuộc chiến năm 1975. Trong vòng mười
sáu tháng, theo tài liệu cộng sản, thì bằng 1.6 lần quân
viện trong cả mười ba năm.
Nếu chính phủ Nam Việt
không ký Hiệp Định thì không những Hoa Kỳ sẽ đơn phương
tính với bên kia mà Quốc Hội Mỹ cũng nhanh chóng cắt hết
viện trợ. Mặt khác nếu Việt Nam chấp thuận Hiệp Định
với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ Mỹ thì họ bắt
buộc phải chấp nhận tình trạng Bắc Quân sẽ trú đóng
một cách nguy hiểm trên lãnh thổ. Nam Việt đã quyết định
phương án thứ nhì, một tiên liệu quyết tử để thấy một
cách đau đớn là phải chấp nhận cả hai việc tồi nhất,
quân Bắc Việt trong lãnh thổ và viện trợ Mỹ chấm dứt.
Nguyên Tổng Trưởng
Quốc Phòng Melvin Laird giải thích hệ quả như sau. “Trong
hai năm sau Hiệp Định, Nam Việt đã can đảm chống lại một
cách đáng nể một địch quân được yểm trợ tối đa. Hoà
đàm Bắc Nam vẫn tiếp tục cho đến ngày mà Quốc Hội cắt
hẳn viện trợ vào năm 1975. Và Nam Việt nhanh chóng bị tràn
ngập. Chúng ta đã tiết kiệm được khoảng 257 triệu mỗi
năm và làm cho Nam Việt xụp đổ sau khi đã chiến đấu dũng
mãnh từ năm 1973 không có sư giúp đỡ của quân Mỹ.
Nhiều người Mỹ không
thích nghe rằng bọn độc tài Nga Xô và Trung Hoa đã tỏ ra
đáng tin cậy hơn là nước Mỹ Dân Chủ. Nhưng đó là sự
thật phũ phàng. Phóng viên William Tuohy đã nhiều năm phúc
trình cuộc chiến cho Washington Post viết, “một chuyện không
tin được và không tha thứ được là một đại cường quốc
đã bỏ rơi đồng minh yếu kém vào tay bọn Bắc Cộng. Nhưng
chúng ta đã làm như vậy”.
Binh sỹ Nam Việt can
đảm chiến đấu cho đến khi viện trợ bị cắt dần dần
rồi ngưng hẳn. Trong vòng hai năm sau khi ký Hiệp Định Paris
Nam Việt đã mất 59,000 quân tức là nhiều hơn số quân Mỹ
tử trận trong mười năm. Nếu nghĩ rằng dân số Nam Việt
chỉ bằng một phần mười Mỹ Quốc thì ta thấy rằng sư
thiệt hại hết sức thảm khốc và cường độ trận chiến
đã cao như thế nào.
Bà Merle Pribbenow nhấn
mạnh rắng sự ghi nhận của Bắc Việt cho thấy trong 55 ngày
cuối cùng họ đã phải đương đầu với một chiến cuộc
hết sức gay go. Đó là một chiến tích đáng ghi cho Nam Việt
khi họ biết là kết cục sẽ chắc chắn như thế nào. Đại
Tướng Bắc Quân Lê Trọng Tấn đã ghi, “Trong giai đoạn
cuối cùng Quân Y của chúng ta đã phải di tản và chữa chạy
cho quá nhiều thương binh, 15 lần nhiều hơn trong trận chiến
biên giới, 1.5 lần hơn trận Diện Biên Phủ và 2.5 lần nhiều
hơn trong trận Hạ Lào”. Bà Pribbenow chiết tính là “Quân
Đội Nhân Dân đã chịu tối thiểu từ 40,000 đến 50,000 thương
binh và có thể còn nhiều hơn nữa, nghĩa là còn cao hơn tổng
số tổn thất lúc QLVNCH xụp đổ theo nhận xét của các sử
gia”.
Đại Tá William LeGro
đã ở lại DAO đến phút chót đã có một cái nhìn chính
xác về sự việc. Ông nói: “Sự giảm quân viện Mỹ cho
đến gần số không là lý do đưa đến sự xụp đổ cuối
cùng”. Ông nói thêm, “Chúng ta đã làm một việc hết sức
quái gở với người bạn Việt Nam”.
Gần đến ngày cuối,
ông Tom Polgar đứng đầu CIA Sài Gòn gửi một điện văn ngắn
ngủi: “Kết quả quá rõ ràng vì Nam Việt không thể sống
sót nếu không có quân viện Mỹ trong khi khả năng chiến tranh
của Bắc Việt vẫn giữ nguyên với sự trợ lực của Nga
Xô Viết và Trung Cộng”.
Sau chiến tranh tình hình
trở nên quá đen tối như người ta sợ. Phóng viên Seith Adams
của New York Times viết về hoàn cảnh Đông Nam Á một cách
xác đáng và cảm động như sau. “Hơn một triệu người
Nam Việt bỏ xứ. Khoảng 400,000 người bị đầy vào các trại
cải tạo, một ít trong thời gian ngắn nhưng nhiều người
đã bị giam giữ đến mười bẩy năm. Một triệu rưởi dân
bị cưỡng bách đi các vùng ‘kinh tế mới là những nơi
hoang dã trong hoàn cảnh đói kém và bệnh tật”.
Cựu Đại Tá Việt Cộng
Phạm Xuân Ẩn mô tả sự vỡ mộng của y với kết quả chiến
thắng của cộng sản đã áp đặt như thế nào lên xứ sở.
Ông ta phàn nàn, “tất cả các lý luận về ‘giải phóng’
trong hai mươi, ba mươi hay bốn mươi năm qua đã gây ra một
xứ sở nghèo nàn và rách nát lãnh đạo bởi một lũ ác độc,
một bọn lý thuyết gia ít học và chuyên chế”.
Đại Tá Bắc Quân Bùi
Tín cũng thẳng thắn nói về hậu quả cho cả những người
chiến thắng: “Thật là quá chậm cho thế hệ tôi, một thế
hệ của chiến tranh, của chiến thắng và bội phản. Chúng
tôi đã thắng nhưng chúng tôi cũng đã thua”.
Sư cố gắng của những
người miền Nam trong một cuộc tranh đấu dai dẳng cuối cùng
là một thảm trạng. Quân đội đã mất 275,000 người chết
trong khi chiến đấu. 450,000 dân bi hy sinh, phần đông do khủng
bố cộng sản hoặc bị chết trong những cuộc pháo kích bừa
bãi vào các đô thị và thêm 935,000 người nữa bị thương.
Trong số cả triệu người
trở thành thuyền nhân một số có thể rất cao đã bỏ mạng
trên biển cả. Có lẽ 65,000 người đã bị hành quyết bởi
bọn tự xưng là giải phóng. Khoảng 250,000 hay hơn nữa đã
chết trong các trại tù “cải tạo” man rợ. Hai triệu người
bị đẩy ra khỏi quê cha đất tổ để trở thành một diaspora
Việt Nam.
Ta không thể hoàn toàn
xác định giá trị của QLVNCH mà không nói đến các cựu
chiến binh bị đầy khỏi xứ với các gia đình của họ hầu
lập nghiệp lại trên đất Mỹ. Đó chính là một câu chuyện
khác về sự can đảm, quyết tâm và thành quả. Đã biết
quá rõ tính chất của bọn mạo danh là “giải phóng”, một
băng đảng luôn luôn giết hại, gây thương tích, bắt cóc
và ức chế hàng ngàn dân vô tội, nên họ bỏ chạy hàng
loạt khi sự chống đỡ tan rã.
May thay nhiều người
đã thoát được đến bờ bến tự do làm lại đời mới.
Mỹ Quốc may mắn đón nhận một triệu di dân Việt Nam là
một tăng tiến cho văn hóa và một đóng góp đáng kể vào
phúc lợi của chúng ta. Với một quyết tâm và cần cù không
tưởng tượng được, những người Mỹ mới này đã dậy
dỗ con cái, nuôi sống gia đình và lợi dụng các cơ hội
mà xứ sở này đã dành cho bất cứ ai tham gia vào xã hội.
Đó chính là những người đã bao năm đem xương máu ra chiến
đấu cho quê hương cũ trong hàng ngũ QLVNCH. Chúng ta đã bỏ
rơi họ và những hy sinh của họ đã thành vô nghĩa. Tuy nhiên
cưu mang họ trên đất này đã cho chúng ta đền tội đôi
phần.
KẾT LUẬN
Để kết luận, tôi
chỉ xin nói rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến
giá trị, bởi người Nam Việt và các đồng minh của họ
bảo vệ một mục đích cao đẹp. Tất cả các chiến binh
đều đã tham chiến với một tấm long vô biên và họ đã
gần như đạt được mục đích bảo đảm cho Nam Việt có
tự do như một quốc gia độc lập. Có lần một phóng viên
đã nhận xét rằng Đại Tướng Creighton Abrams phải được
chỉ huy một cuộc chiến hay hơn. Tôi đã nói câu ấy cho trưởng
nam của Tướng Abrahms và được phản hồi ngay; “Cha tôi
không nhìn như vậy. Ông nghĩ rằng người Nam Việt rất xứng
đáng”. Và tôi đồng ý.
Tóm lại, đối chiếu
biểu của QLVNCH bao gồm cà địa phương và nghĩa quân trong
năm 1970 rất tích cực. Rốt cục chúng ta đã không thắng
trận, tuy nhiên tinh thần, sự tận tâm, can đảm và lòng quyết
chí của tất cả các chiến binh đã nẩy nở thăng hoa trên
đất nước này. Chúng ta đều cùng tiến tới.
Tài liệu tham chiếu:
1. “Bibliography Periodicals”
của Douglas Pike.
2. “History Proves Vietnam
Victors Wrong” của James Webb.
3. “The Development of
the South Vietnamese Army” của Thiếu Tướng James Lawton Collins
Jr.
4. “Senior Officer Debriefing
Report, CG II Field Force, Vietnam, 29-3-1966 của Đại Tướng Fred
C. Weyand.
5. “Message Abrams to
Johnson, MAC 5307, 04950Z 6-1967.
6. “Lt-General Dong Van
Khuyen, RVNAF Logistics”.
7. “Time, 19 April 1968”
8. “Letter, General Bruce
C. Clarke to General Hal C. Pattison”
9. “The History of the
Joint Chief of Staff: The Joint Chief of Staff and the War in Vietnam,
1960-1968”
10. “Brigadier Geberal
Zeb B. Bradford Jr. Interview, 12 October 1989”
11. “Message, Abrams to
Wheeler and McCain, October 1968”
12. “William Colby, ‘Vietnam
after McNamara’, The Wahington Post 27-4-1995”.
13. “Ambassador Ellsworth
Bunker, Thayer Award Address”.
14. “John Paul Vann, Remarks,
Lexington, Kentucky, 1972”.
15. “Brigadier General
Tran Dinh Tho, The Cambodian Incursion”.
16. “Geoffrey Perret,
There’s a War to be Won”.
17. “Message, Cliff Snyder,
National Archives to Sorley”.
18. “An example of LCol
Cau Lê 47 Regiment Commander, 12 years in combat and 13 years prisoner
of the communist, awarded Silver Star and Bronze Star for valorous combat
leadership. Le and his family established a new life in America after his
wife Kieu Van had worked as a nurse to support their five children until
her husband was released from captivity. See Robert F. Dorr and Fred L.
Borch, ‘US Medals’”.
19. “General Cao Van Vien
et al, the US Advisor”.
20. ”Lt General Ngo Quang
Truong, Territorial Forces”.
21. ”General Creighton
Abrams at WIEU, 18 April 1973”
22. “Thomas Polgar as
quoted in J. Edward Lee and Toby Haynsworth”
23. “Colonel LeGro as
quoted in L. Edward Lê and Toby Haynsworth”
24. “Ambassador Ellsworth
Bunker, Oral History Interview”
25. “Quoted in Jeffrey
J. Clarke, Advice and Support”
26. “As reported by Major
General George J. Forsythe, following a 20 January 1968 meeting with President
Thieu”
27. “Joint Chiefs of Staff,
the History of the Joint Chiefs of Staff”
28. “Notes by Vicent Davis
on telecom during which Vann described his 15 December 1969 Presentation
at Princeton”
29. “Lester A, Sobel,
ed,. South Vietnam. US Communist Confrontation in Southeast Asia.
30. “Remarks, Lexington,
Kentucky 1972, Vann papers”
31. “Ellsworth Bunker
Interview, Duke University, Living History Project”
32. “WIEU, 30 January
1973, in Sorley, Vietnam Chronicles”
33. “COMUS Update, 16
February 1971”
34. “Briefing with Admiral
McCain, 19 February 1971”
35. “Commanders Weekly
Intelligence Update, 20 February 1971”
36. “Message, LtGeneral
James W. Sutherland to Abrams, March 1971, Special Abrams Papers Collection”
37. “COMUS with Sir Robert
Thompson, 25 March 1971”
38. “Secretary of the
Army Brief, 26 April 1971”
39. “Major General Nguyen
Duy Hinh, Lam Son 719”
40. “Military Institute
of Vietnam, Victory in Vietnam (University Press of Kansas)”
41. “John Paul Vann, Letter
to Henry Cabot Lodge, 9 December 1969, Vann Papers”
42. “Message, Barnes to
Weyand, March 1972, MHI files”
43. “Lưu Van Loi and
Nguyen Anh Vu (Le Duc Tho and Kissinger Negociation in Paris”
44. “Remarks, Lexington,
Kentucky 8 January 1972, Vann Papers”
45. “Douglas Pike, ‘A
Look Back at the Vietnam War: the View from Hanoi’”
46. “Douglas Pike, PAVN,
People’s Army of Vietnam”
47. “Message, Abrams to
Laird, May 1972”
48. “Melvin R. Laird,
“Iraq: Learning the Lesson of Vietnam”
49. “The Washington Post
(28 December 1968)”
50. “James L. Buckley,
‘Vietnam and its Aftermath’ in Anthony T. Bouscaren, ed.”
51. “Merle L. Pribbenow,
Message to Sorley, 1 May 2002”
52. “Seth Mydams, ‘A
War Story Missing Pages’, The New York Times 24 April 2000”
53. “Vietnam Magazine
Auguat 1990”
54. “The Boston Globe,
20 April 2000”
55. “Colonel Stuart Herrington,
Fall of Saigon, Discovery Channel, 1 May 1995”
56. “Australian Minister
for Immigration Michael McKeller was quoted as saying that ‘about half
the boat people perished at sea’. Thus he said in 1979, ‘We are looking
at a death rate of between 100,000 and 200,000 in the last four years’.
The Age Newspaper, The Boat People: an Age Investigation.”
|