4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Vườn Hoa Văn Nghệ
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết

Tổng Hội Cựu SVSQTB/TÐ/HN
Ủy Ban Thường Trực
Số 06/UBTT/KH

Kế Hoạch
Chống Nghị Quyết 36 của CSVN

* * *

  • Căn cứ Quyết Nghị của Hội Ðồng Ðại Biểu kỳ 5 ngày 1 và 2/7/2006.
  • Căn cứ kế hoạch công tác nhiệm kỳ 2006-2008.


1. NHẬN ÐỊNH CHUNG.

a. Cộng sản Việt Nam với Nghị Quyết 36.

Ngày 26 tháng 3 năm 2004, lãnh đạo cộng sản Việt Nam (CSVN) ban hành Nghị Quyết 36 (NQ36), hoạch định những mục tiêu đánh phá để khống chế Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, mà chúng gọi là "hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài". Mục tiêu của CSVN khi nắm được quyền khống chế Cộng Ðồng chúng ta gần 3.000.000 người trên khắp thế giới, họ sẽ sử dụng khối trí thức ước lượng khoảng 350.000 người, và khối tài chánh thu nhập hằng năm ước lượng khoảng 25.000.000.000 (25 tỷ) mỹ kim chỉ riêng tại Hoa Kỳ (thống kê năm 2000 của Census Bureau Hoa Kỳ).

(1) Ba điểm căn bản trong NQ 36.

Nguyên văn:

- Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước.

- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước,các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn dân ta coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ngoài nước, và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.

Nhận định:

Trong 10 năm đầu kể từ năm 1975, CSVN "thừa thắng xông lên" khi gọi chúng ta là bọn "ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc, bọn ôm chân đế quốc, bọn đỉ điếm rác rưởi cặn bả của xã hội", họ bắn giết hoặc bắt bỏ tù khi chúng ta vượt lên sự chết đi tìm sự sống. Trong 10 năm kế tiếp, khi chúng ta ổn định cuộc sống và gởi tiền về quê giúp thân nhân, họ đứng yên vị trí để gọi chúng ta là "Việt kiều yêu nước" mà theo chữ nghĩa của họ thì yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1996, họ lui lại một bước để gọi chúng ta là "khúc ruột ly hương ngàn dặm". Bây giờ với NQ 36, họ lui thêm bước nữa khi gọi chúng ta là một bộ phận không tách rời dân tộc, mà dân tộc -tức 83 triệu người- đang bị họ cai trị với chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng. Phải hiểu là họ muốn nắm quyền cai trị chúng ta tại hải ngoại, để sử dụng khối nhân lực quí giá cùng với khối tài chánh kếch sù mà họ rất cần, và khai thác cả uy tín của chúng ta để vận động các quốc gia sở tại trợ giúp họ. Quan trọng hơn hết, nếu Cộng Ðồng chúng ta cúi đầu khuất phục, có nghĩa là họ xóa bỏ được tội ác của họ đối với lịch sử, bởi Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại là bằng chứng hùng hồn nhất về chuỗi tội ác của họ từ năm 1945.

(2) Khả năng tài chánh.

- Giữa tháng 4/2003, CSVN chánh thức thành lập một ngân khoản với số tiền đầu tiên là 7.000 tỷ đồng VN (tương đương 450 ngàn mỹ kim) từ ngân sách nhà nước, để dọn đường tài trợ cuộc tổng tấn công Cộng Ðồng chúng ta qua 8 mục tiêu bao gồm tất cả các lãnh vực sinh hoạt, mà chúng gọi là "Quỹ Hỗ Trợ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài". Những mục tiêu đó cũng là những mục tiêu trong NQ 36.

- Thêm nữa, quỹ này liên tục được bổ sung từ lệ phí chiếu khán nhập cảnh Việt Nam nhiều bằng hai lần ngân khoản nói trên.

(3) Những mục tiêu của NQ 36.

Nguyên văn: (những mục tiêutấn công chúng tamà họ gọi là những nhiệm vụ chủ yếu)

- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương đất nước.

- Hoàn chỉnh và xây dựng một hệ thống chính sách trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn quản lý và điều hành, chuyển giao công nghệ kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hoá nghệ thuật nước nhà.

- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư về kinh doanh trong nước, coi trọng các hình thức đầu tư kinh doanh qui mô vừa và nhỏ, do người Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc thông qua người thân trong nước thực hiện .Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa về chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Việt Nam. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước,nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng.Ðồng thời xử lý các vi phạm đúng theo pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài về đầu tư làm ăn được yên tâm tin tưởng.

- Ðổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về tổ quốc của bà con, nhất là của các thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán quốc gia sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên.Chủ động mở rộng tiếp xúc với người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn định kiến mặc cảm với nhà nước và chế độ ta (tức cộng sản độc tài).

- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh chính sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh, và trên mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức các đoàn nghệ thuật nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hoá, văn học, nghệ thuật, triển lãm hội thảo, và du lịch về nguồn.

- Ðổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của đảng với nhà nước. Ðầu tư cho các chương triønh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài trên làn sóng phát thanh, phát hình, và internet. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, và kỹ thuật. Hỗ trợ việc ra báo viết, và xây dựng thự viện trên mạng internet để phục vụ người Việt Nam sống xa tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hoá phẩm ra ngoài phục vụ người Việt Nam.

- Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở trong nước có thành tích vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tiønh đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam, hoặc gây chia rẻ trong cộng đồng người Việt ở nước sở tại.

- Các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng nhiệm vụ của mình, tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẻ giữa Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài (Thứ Trưởng Ngoại Giao làm Chủ Tịch) với các cơ quan hữu quan,với mặt trận tổ quốc Việt Nam, và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội Liên Lạc Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, Các Hội Thân Nhân Kiều Bào, và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú. Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài, tích cực chủ động tăng cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền và phổ biến chủ trương chính sách của đảng với nhà nước tới bà con.

Nhận định.

- Chỉ riêng phần trích dẫn trên đây cho thấy CSVN đặt trọng tâm vào khả năng và tiềm năng chúng ta, nhưng họ chỉ xem chúng ta là những cá nhân di dân kinh tế để tránh né tội ác trước lịch sử và dân tộc.

- CSVN đã nâng quốc sách Kiều Vận lên đến tột đỉnh khi họ ra lệnh từ các tổ chức chính trị, tổ chức nhà nước, toàn đảng toàn dân, đến các cơ quan ngoại giao và những cá nhân tay sai cùng những tổ chức tay sai của họ tại hải ngoại, "mở cuộctổng tấn công Cộng Ðồng chúng ta bằng mọi hiønh thức mà họ gọi là "hỗ trợ để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc", thích hợp từng cá nhân hay tổ chức mà họ gọi là "đối tượng" trong Cộng Ðồng chúng ta, và thích hợp với luật pháp sở tại. Ðược hiểu khi tay sai của họ tấn công chúng ta mà vi phạm luật pháp sở tại, thì tay sai của họ chịu trách nhiệm chớ không liên can đến họ.

- Tất cả những lệnh CSVN nêu trong NQ 36 với lời lẽ như vuốt ve một cách đặc biệt, gần như đang ôm Cộng Ðồng chúng ta trong vòng tay vô cùng nghiệt ngã của họ. Xin khẳng định rằng, bản chất dối trá của CSVN từ năm 1945 đến nay, vẫn còn nguyên vẹn.

- Họ dối trá với dân tộc từ năm 1945 khi hứa hẹn chiến đấu bảo vệ tổ quốc, xây dựng một xã hội dân chủ tự do hạnh phúc, nhưng khi cầm quyền thì họ cắt đất xén biển tặng cho Trung Hoa cộng sản, nhưng với đồng bào thì họ cai trị bằng chính sách độc đảng độc tài. Họ dối trá và đầu độc hằng mấy thế hệ từ năm 1954 với chính sách phá tan đạo lý dân tộc và thay vào đó là văn hoá mới xã hội chủ nghĩa (giáo dục gia điønh), với chính sách giáo dục thần dân chớ không đào tạo công dân (giáo dục học đường), với chính sách không có thông tin mà chỉ có tuyên truyền bất kể sự thật lịch sử (giáo dục xã hội). Họ dối trá với quốc tế, qua hành động vi phạm Hiệp Ðịnh Ðiønh Chiến Genève ngày 20/7/1954, khi giấu lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hằng chục ngàn cán binh để bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lăng từ năm 1956. Họ dối trá với Liên Hiệp Quốc qua hành động vi phạm Hiệp Ðịnh Paris ngày 27/1/1973, khi xua quân chánh qui từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa ngày 30/4/1975. Họ dối trá với chính bản thân họ, vì sau thời gian về hưu hưởng thụ khối tài sản kếch sù (các ông Võ Văn Kiệt, Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Lê Khả Phiêu,… ), họ ra vẽ chống lại những gì mà họ và các "đồng chí của họ đã làm" mà nay các đồng chí của họ vẫn tiếp tục, cứ như họ là những người cộng sản tử tế vậy. Họ dối trá từ trong bản Hiến Pháp, từ trong các chính sách cai trị, dối trá cho đến tận cùng ngóc ngách trong mọi lãnh vực sinh hoạt quốc gia.

- Tất cả những dối trá có hệ thống của CSVN, bắt nguồn từ bản chất dối trá của chủ nghĩa cộng sản trong chủ trương phục vụ quyền lợi đảng, mà nhân danh đảng chỉ là một nhóm hơn 10 người trong Bộ Chính Trị. Người dân trong xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản) chỉ là một thứ phương tiện của chế độ. Bản chất dối trá để che đậy độc tài, nhưng độc tài thì dân phản kháng, và họ thẳng tay đàn áp mọi phản kháng để bảo vệ chế độ.

(4) Tóm tắt.

- Với những kinh nghiệm từ trong những bài học lịch sử nêu trên, cộng với hai văn kiện ban hành đầu tháng 7/2006, ngăn cấm những cuộc tụ họp từ 5 người trở lên tại những nơi công cộng, và gia tăng biện pháp kiểm soát những ai sử dụng internet. Thêm nữa, đài RFI, RFA, VOA, và BBC ngày 10/8/2006, loan tin kết quả nghiên cứu hỗn hợp của các trường đại học Harvard (Hoa Kỳ), Oxford, Cambridge (Anh quốc), và Toronto (Canada) từ tháng 11/2005 đến tháng 3/2006, cho thấy CSVN ngăn chận 70% các tin tức chính trị và 41% tin tức nhân quyền trên các trang web mà họ cho là âm mưu lật đổ chế độ độc tài của họ. Ðồng thời luật của họ qui tội hiønh sự cho những ai truy cập những thông tin đó. Ông Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN phản đối bản công bố nói trên, ông ta cho rằng lệnh ngăn cấm nhằm ngăn chận truy cập những thông tin đồi trụy, thế nhưng tại mỗi cơ sở có sử dụng internet tại Sài Gòn, Hà Nội, … đều có dán thông cáo "truy cập các thông tin chính trị là phạm pháp".

- Sự kiện trên đây chứng tỏ bản chất dối trá của họ, cũng chứng tỏ là họ luôn sợ hãi mọi thành phần trong xã hội! Nhưng tại sao họ sợ hãi công dân của họ? Tại vì, từ bản chất dẫn đến chính sách và hành động, CSVN tự phong là "đỉnh cao trí tuệ" để giành độc quyền lãnh đạo, độc tài cai trị, chỉ để phục vụ quyền lợi cá nhân phe nhóm mà không hề phục vụ nguyện vọng người dân, cho nên họ đã và đang gây biết bao thống khổ cho gần 83 triệu đồng bào!

- CSVN tự hào về "tổng sản phẩm nội địa" (GDP) gia tăng hằng năm, nhưng thật ra trong con số GDP có khoảng 50% là do đầu tư ngoại quốc đổ tiền vào, cộng với số ngoại tệ do bà con trong Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại gởi về giúp thân nhân, chớ không hoàn toàn do chính thực lực của họ. (GDP năm 1995=14 tỷ mỹ kim. Năm 2000=28 tỷ MK. Năm 2002=33 tỷ MK. Năm 2004=42 tỷ MK. Năm 2005=45 tỷ MK).

- Do vậy mà Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại, không thể nào tin bất cứ chính sách nào của CSVN vì tất cả đều dối trá để khuyến dụ chúng ta. Sự khẳng định này ít nhất là cho đến khi họ thật sự phục vụ nguyện vọng toàn dân.

- Vậy mà vẫn có những cá nhân lẫn tổ chức tại hải ngoại, chỉ vì quyền lợi nào đó mà chấp nhận làm tay sai cho họ, vừa tấn công Cộng Ðồng tị nạn vừa lôi cuốn Cộng Ðồng tị nạn vào mục đích xóa bỏ tội ác của CSVN. Trong khi đó giữa lòng chế độ độc tài trên quê hương Việt Nam, Phong Trào Dân Chủ đang vươn lên mạnh mẽ. Ðã có hơn 3.300 người (tính đến 8/8/06) gồm nhiều thành phần xã hội chánh thức lên tiếng ủng hộ, chứng tỏ ngày nay người dân không còn sợ hãi CSVN như trước nữa, mà ngược lại, CSVN rất sợ người dân thế hiện ý thức chính trị để giành lại những quyền căn bản của người dân.

b. Cộng Ðồng Tị Nạn.

- Từ năm 2003 về trước, trong Cộng Ðồng chúng ta đôi khi có những bất đồng quan điểm cũng là sự kiện bình thường trong sinh hoạt dân chủ. Từ khi CSVN thành lập quỹ đánh phá chúng ta mà họ gọi là Quỹ Hỗ Trợ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, để tài trợ cho NQ 36 ban hành sau đó có phương tiện tổng tấn công chúng ta. Rõ ràng là nhiều cá nhân và nhiều tổ chức có thành tích chống chế độ độc tài trên quê hương Việt Nam -trong đó có Tổng Hội Thủ Ðức chúng ta- bị những tên tay sai của họ ẩn núp trong Cộng Ðồng tị nạn từ năm 1975 và sau đó, ra sức đánh phá chúng ta bằng nhiều cách khác nhau sau khi họ xây dựng được những mối liên hệ cần thiết ở nhiều nơi, "tương tự như chính sách của cộng sản xây dựng hạ tầng cơ sở" trước khi hành động.

- Cho đến nay (năm 2006), một trong những "cuộc phản công" quyết liệt trước "cuộc tấn công" của những tay sai CSVN, là Tổng Hội Thủ Ðức chúng ta. Song hành với chúng ta, là cuộc phản công của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Một nét thành công khác là cuộc phản công của sinh viên Việt Nam hải ngoại tại trường đại học UTA (Texas), đáng được ca ngợi.

c. Ước tính.

- Hội Ðồng Ðại Biểutrong Ðại Hội kỳ 5, thể hiện trong bản Quyết Nghị ngày 2 tháng 7 năm 2006, ước tính tay sai của họ tại hải ngoại tiếp tục tấn công chúng ta bằng những hình thức khác nhau với những mức độ khác nhau và có thể sẽ mạnh mẽ hơn.

- Tin chắc rằng, tay sai của CSVN tiếp tục sử dụng tiền và vật chất khác để luồng lách vào những tổ chức thiện nguyện, những tổ chức văn học nghệ thuật, những cơ quan truyền thông, nói chung là họ luồng vào trong hầu hết các lãnh vực sinh hoạt, hoặc chính họ dựng lên những tổ chức tương tự ngay trong Cộng Ðồng chúng ta. Họ sẽ sử dụng những cái tên nghe đậm tình quê hương, rất thân thương nhân đạo để đặt cho những công tác hay tên của những tổ chức, trong mục đích tạo xúc động mạnh ở những vị nhiều lòng nhân nhưng ít chịu suy xét là mình đang làm việc thiện hay đang bị họ lợi dụng, hoặc vô tình làm lợi cho họ, vì tất cả hành động của CSVN chỉ phục vụ mục tiêu của đảng.

- Ðồng tiền và những vật chất khác của CSVN qua những tay sai của họ, sẽ lọt vào cá nhân hay tổ chức một cách nhẹ nhàng kín đáo, đến mức người hay tổ chức nhận cũng không nghĩ là mình đang vào bẩy của họ, để rồi bênh vực họ khi họ bị lột mặt nạ, chỉ vì bản thân dính dáng đến chút vật chất tồi tệ ấy.

- Cũng ước tính rằng, chỉ riêng lệ phí chiếu khán nhập cảnh Việt Nam, cũng đủ để CSVN cung cấp cho tay sai của họ tấn công chúng ta.

- Không loại trừ giả thuyết có những tay sai vì những địa vị do CSVN hứa hẹn, rồi nhận lệnh đánh phá Cộng Ðồng nói chung và đánh phá Tổng Hội Thủ Ðức chúng ta nói riêng.

2. MỤC ÐÍCH.

Thường xuyên củng cố nội bộ, ngăn chận những tay sai của CSVN xâm nhập vào các tổ chức cựu SVSQTB Thủ Ðức bằng bất cứ hình thức nào, và phản công quyết liệt khi bị họ tấn công. Ðồng thời, hỗ trợ cá nhân hoặc tổ chức bạn chống lại họ.

3. THỰC HIỆN.

a. Quan niệm căn bản.

(1) Chúng ta đến với nhau trong một tổ chức, do tinh thần trách nhiệm của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa nói chung và Người Cựu SVSQTB Thủ Ðức nói riêng còn dang dở. Chất kết dính chúng ta với nhau xuất phát từ tình đồng môn, tình đồng đội, tiønh đồng hương, và cao hơn hết là tình người Việt Nam Tự Do.

(2) Khi xác định những cá nhân hay tổ chức là cộng sản và những cá nhân hay tổ chức là tay sai của cộng sản, dứt khoát không tiếp xúc bất cứ hình thức nào.Những người cộng sản bị trục xuất khỏi đảng hay tự ý bỏ đảng mà có mặt tại hải ngoại, có thể tiếp xúc trao đổi quan điểm để tiøm hiểu những tin tức cần thiết, nhưng phải giữ một khoảng cách thích hợp. Còn lại đều là bạn, cần tiếp xúc và hỗ trợ khi cần thiết dù có bất đồng trong phương thức sinh hoạt.

(3) Những phương cách củng cố nội bộ, ngăn chận hay phản công CSVN và tay sai, phải thực hiện trong khuôn khổ luật pháp. Ðồng thời, vận dụng luật pháp như là một trong những phương cách ngăn chận hay phản công.

b. Quan niệm thực hiện.

- Củng cố nội bộ mà quan trọng hơn hết là củng cố nhân sự.

- Hãy thận trọng khi đánh giá cá nhân hay tổ chức để tránh sự sai lầm trước khi quyết định thực hiện, bằng cách nghiên cứu và phân tách dữ kiện liên quan. Khi đã quyết định, phải thực hiện đúng mức.

- Khi bị đánh phá. Hãy hành động như người lái xe ban đêm trên đường hai chiều, ánh mắt nhìn thẳng vào ánh sáng ngược chiều và vững tay lái, bởi chúng ta có mục tiêu chính đáng xuất phát từ lập trường vững chắc, và chúng ta có hướng đi rõ rệt.

c. Tổng Hội.

- Hội Ðồng Ðiều Hành, với hỗ trợ của Hội Ðồng Giám Sát và Ủy Ban Thường Trực, phổ biến đến Liên Hội, Hội, Chi Hội, những kinh nghiệm ngăn chận hoặc kinh nghiệm phản công thu thập được từ Cộng Ðồng khắp nơi.

- Trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức bạn, và cùng chống lại CSVN và tay sai của họ.

d. Liên Hội.

- Căn cứ vào tình hình sinh hoạt và hoàn cảnh khu vực của Liên Hội, nghiên cứu và bổ sung những hình thức mà tay sai cộng sản đánh phá chúng ta hoặc đánh phá các tổ chức bạn, cùng với những kinh nghiệm ngăn chận hay phản công, gởi đến các Hội và Chi Hội -nếu có- với những hướng dẫn cần thiết để kế hoạch thực hiện sát với thực tế. Ðược như vậy, mức độ hiệu quả sẽ cao hơn.

- Khi Hội hay Chi Hội trong hệ thống bị đánh phá, theo dõi và tham gia ý kiến để kịp thời cải tiến cần thiết khi hành động ngăn chận hoặc phản công những tay sai của CSVN.

- Trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức bạn cùng chống lại CSVN và tay sai của họ.

e. Hội, Chi Hội.

- Căn cứ vào tình hình sinh hoạt và hoàn cảnh địa phương, nghiên cứu kế hoạch của Tổng Hội -nhất là nguyên văn 8 mục tiêu trong NQ 36- và kế hoạch bổ sung của Liên Hội (nếu trong hệ thống Liên Hội), bổ sung những hình thức mà tay sai cộng sản đánh phá chúng ta hoặc đánh phá các tổ chức bạn, cùng với những kinh nghiệm ngăn chận hay phản công tại địa phương.

- Trước khi quyết định ủng hộ, bảo trợ, hay tham gia các công tác hay tổ chức mang ý nghĩa nhân đạo, để có kết luận là những công tác hay tổ chức đó có liên hệ hay không liên hệ đến những mục tiêu của NQ 36, cần nghiên cứu kỷ nguyên văn những mục tiêu của NQ 36 nêu trên Ðoạn 1. Ðây là vấn đề rất phức tạp, viø quyết định sai hay đúng, sẽ dẫn chúng ta đến sự chỉ trích hoặc lời khuyến khích từ phía chúng ta và bạn chúng ta.

- Trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức bạn cùng chống lại CSVN và tay sai của họ.

- Với lập trường vững chắc chống chế độ độc tài, với quan niệm rõ ràng chống NQ 36, với tinh thần tương kính lẫn nhau trong hợp tác với các tổ chức bạn, chúng ta ngẫng cao đầu, nhiøn thẳng về phía trước, và hành động.

4. PHƯƠNG TIỆN.

Hầu hết tổ chức chúng ta không có khả năng cung ứng bất cứ phương tiện nào, nếu có cũng chỉ là những hỗ trợ với tính cách cá nhân. Với tinh thần trách nhiệm của Người Cựu SVSQTB Thủ Ðức, mỗi cá nhân chúng ta sẽ cố gắng trong khả năng để góp sức vào những sinh hoạt của tổ chức Thủ Ðức, và tổ chức bạn cùng mục tiêu cùng lập trường, nếu được.

5. LIÊN LẠC.

- Liên lạc phối hợp với những phương tiện thông dụng như điện thoại, điện thư (Fax), vi thư (e-mail), thư tín (mail). Nếu có khả năng, ưu tiên sử dụng e-mail. Trường hợp có thể được, vào các "trang nhà" (website) thích hợp để tìm thêm tin tức liên quan đến những vấn đề mà tổ chức cần nghiên cứu ứng dụng.

- Ðịa chỉ e-mail của Ủy Ban Thường Trực hoabapham@hotmail.com. Trường hợp cần địa chỉ mail, xin liên lạc e-mail cho biết nhu cầu.

Houston, ngày 15 tháng 8 năm 2006
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực
Alfa Phạm Bá Hoa (khóa 5)

Nghiên cứu thực hiện:
- HÐÐH, HÐGS, các Liên Hội, các Hội và Chi Hội.
Lưu.