| Ngày
16/02/1965, Trung Tướng Nguyễn Khánh, nhân danh Chủ Tịch Hội
Đồng Quân Đội, cử Bác Sĩ Phan Huy Quát giữ chức Thủ Tướng
thay Giáo Sư Trần Văn Hương. Vậy là Trung Tướng Khánh đã
vượt quyền hạn của Quóc Trưởng Pahn Khắc Sửu. Nhưng từ
ngày ấy, giữa Quốc Trưởng với Thủ Tướng bất đồng
quan điểm về chính sách quốc gia. Hơn một tuần sau đó (25/2/1965),
Đại Tướng Nguyễn Khánh rời Việt Nam lưu vong theo quyết
định của Hội Đồng Quân Đội trong khi Sắc Lệnh thăng
cấp Đại Tướng do Quốc Trưởng ký.
Vào những
ngày đầu trung tuần tháng 6 năm 1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát
gởi đến Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Trưởng Quốc
Phòng, một văn thư quay roneo dài 2 trang giấy dầy, khổ 21x33
phân tây, có đóng dấu của Thủ Tướng. Văn thư này có thông
báo Trung Tướng Trần Văn Minh, Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, và tôi đã đọc nó. Lúc ấy tôi là Thiếu
Tá, Trưởng Phòng Quân Sự Vụ Nha Đổng Lý Bộ Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Xin nhắc
lại. Sau cuộc Chỉnh Lý ngày 30/01/1964, Trung Tướng Nguyễn
Khánh trong chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng,
hành sử chức năng Quốc Trưởng, hệ thống hóa tổ chức
quân đội dưới danh xưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
gồm: Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, và Địa Phương Quân
Nghĩa Quân, từ đầu tháng 4/1964. Cùng lúc, Bộ Tổng Tham Mưu
trở thành Bộ Tổng Tư Lệnh. Ngày 8/10/1964, Trung Tướng Khánh
có trong tay chức vụ Quốc Trưởng, Thủ Tướng, Tổng Trưởng
Quốc Phòng, kiêm nhiệm thêm chức Tổng Tư Lệnh đang khuyết,
sau khi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm bị Trung Tướng Khánh
đẩy lưu vong ngày trước đó. Lập tức, văn phòng Tổng Tham
Mưu Trưởng biến cải thành “Nha Đổng Lý Bộ Tổng Tư Lệnh:
gồm: Phòng Quân Sự Vụ mà tôi là Trưởng Phòng. Phòng Dân
Sự Vụ do Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu-
Trưởng Phòng. Và Phòng Báo Chí do Thiếu Tá Tâm làm Trưởng
Phòng.
Văn Thư
của Thủ Tướng Phan Huy Quát, nói lên sự bất đồng quan
điểm giữa Thủ Tướng với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu,
về vấn đề thay đổi 3 vị Tổng Trưởng. Vấn đề chưa
kết thúc, bỗng dưng Quốc Trưởng tuyên bố từ chức. Vậy
là Thủ Tướng cũng phải từ chức. Sau cùng, Thủ Tướng
Quát yêu cầu Hội Đồng Quân Đội, hãy nhân danh quân đội
nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn cực
kỳ khó khăn.
Hội Đồng
Quân Đội họp liên tục trong căn cứ Không Quân, và kết
quả: “Hội Đồng đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ
Tướng”. Để thực hiện trách nhiệm lãnh đạo quốc gia,
Hội Đồng quyết định thành lập một tổ chức có danh xưng
“Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia”, với những thành
viên trên căn bản theo chức vụ đương nhiệm trong quân đội
là 11 vị, gồm: Chủ Tịch. Tổng Thư Ký. Thủ Tướng. Tổng
Trưởng Quốc Phòng. Tổng Tham Mưu Trưởng. Tư Lệnh Hải Quân.
Tư Lệnh Không Quân. Tư Lệnh Quân Đoàn I. Tư Lệnh Quân Đoàn
II. Tư Lệnh Quân Đoàn III. Và Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Sau cuộc
tham khảo bầu chọn, kết quả như sau:
- Chủ Tịch:
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
- Tổng Thư ký:
Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.
- Chủ Tịch Ủy
Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn
Cao Kỳ. Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh
Không Quân
- Tổng Ủy Viên
Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có. Thiếu Tướng Có, kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham
Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
- Các thành viên:
Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân. Thiếu Tướng
Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I. Thiếu Tướng Vĩnh
Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II. Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư
Lệnh Quân Đoàn III. Thiếu Tướng Đặng Văn Quang, Tư lệnh
Quân Đoàn IV.
Thủ Tướng
Nguyễn Cao Kỳ gọi nội các của ông là “nội các chiến
tranh”. Trong nội các chiến tranh của ông có một Bộ
mới thành lập, đó là Bộ Xây Dựng Nông Thôn, và Thiếu
Tướng Nguyễn Đức Thắng được cử giữ chức Tổng Trưởng.
Bộ này đáp ứng nhu cầu bình định nông thôn trong chiến
lược tách dân ra khỏi vòng kiểm soát của cộng sản. chánh
phủ của Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, chính sách Ấp Chiến
Lược được phát triển đến mức có một Bộ phụ trách,
và Thiếu Tướng Nguyễn Đức Thắng được đánh giá là một
Tướng Lãnh có khả năng, nhiệt tâm, cương quyết, được
xem là trong sạch, lãnh đạo Bộ này (và những Đoàn Cán Bộ
Xây Dựng Nông Thôn lần lượt ra đời từ kế hoạch của
Thiếu Tướng Thắng).
Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia theo thành phần nói trên là 11 vị, nhưng
vì Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, nên
thực tế là 10 thành viên.
Ngày
19 tháng 6 năm 1965, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia ra mắt đồng
bào và ngoại giao đoàn, đánh dấu ngày Quân Đội nhận trách
nhiệm lãnh đạo quốc gia. Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có kiêm
nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng đúng 3 tháng. Ngày 15
tháng 10 năm 1965, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, chủ tọa
buổi lễ Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có bàn giao chức vụ Tổng
Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên.
Từ sau
cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng
đã lần lượt trong tay 6 vị mà trong đó 4 lần không có bàn
giao, 1 lần bàn giao không đúng lễ nghi quân cách, chỉ 1 lần
bàn giao hẳn hòi. Và ngày 15 tháng 10 năm 1965 là lần bàn giao
thứ 6. Lễ bàn giao tuy mức độ trang trọng không đạt đúng
chức vụ đứng đầu quân đội, nhưng giao nhận đàng hoàng.
Lần
thứ nhất, Trung Tướng Trần Văn Đôn nhận chức ngày
02/11/1963 sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ và
bị giết chết. Lần thứ hai, Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm, nhận chức ngày 31/01/1964 sau khi Trung Tướng Trần Văn
Đôn bị bắt. Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh
nhận chức ngày 08/10/1964 sau khi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm
lưu vong ngày hôm trước (7/10/1964). Lần thứ tư, Trung
Tướng Trần Văn Minh, nhận chức ngày 26/02/1965 sau khi Đại
Tướng Nguyễn Khánh lưu vong ngày hôm trước (25/2/1965). Lần
thứ năm (15/7/1965), Trung Tướng Minh bàn giao cho Thiếu Tướng
Nguyễn Hữu Có không đúng lễ nghi quân cách. Và lần thứ
sáu là ngày 15/10/1965 này, bàn giao giữa Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có với Thiếu Tướng Cao Văn Viên, đúng lễ nghi quân
cách.
Chưa tròn
2 năm mà thay đổi 5 vị Tổng Tham Mưu Trưởng, và Thiếu Tướng
Cao Văn Viên là vị Tổng Tham Mưu Trưởng thứ 6. Nếu đem
thời gian chia đều thì mỗi vị chỉ ngồi ghế Tổng Tham
Mưu Trưởng có bốn tháng rưỡi, thử hỏi làm sao xây dựng
được chiến lược chiến thuật thích ứng với mọi biến
chuyển của tình hình để quân đội nắm quyền chủ động
trên chiến trường, trong khi tình hình quân sự ngày càng đẫm
máu với những trận đánh cấp Trung Đoàn, Sư Đoàn.
Nhận
bàn giao xong, Thiếu Tướng Cao Văn Viên cho dọn sang văn phòng
mới vừa xây dựng xong, và kiến trúc này do Trung Tướng Khánh
cho khởi công từ tháng cuối năm 1964. Lúc ấy tôi được
cử giữ chức Chánh Văn Phòng.
Ngày 01/11/1965,
Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng Cao Văn Viên được
thăng cấp Trung Tướng. Cùng thăng cấp Trung Tướng với ông
còn có nhiều vị nữa, và trong số đó có Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Thiếu Tướng Đặng
Văn Quang.
Nhân lễ
Giáng Sinh 1965, Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng tổ chức
buổi tiếp tân trọng thể ngay tại võ đình trường trước
tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi với anh Hoàng Ngọc Tiêu
trách nhiệm tổ chức. Khách mời:
- Ngoại
quốc, gồm: Các vị trong Ngoại Giao đoàn, kể cả các vị
Tùy Viên quân sự. Các vị Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh
đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, các đơn vị
trưởng cùng các sĩ quan tham mưu trực thuộc lực lượng này.
- Nội
bộ, gồm: Các vị trong Chánh Phủ, trong Quốc Hội. Tất cả
các vị Tướng Lãnh đang phục vụ tại thủ đô và lân cận,
các vị Chỉ Huy Trưởng binh chủng, Tổng Cục Trưởng, Cục
Trưởng, và các sĩ quan cao cấp phục vụ tại Bộ Tổng Tham
Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tổng số gần 500 vị.
Đây là
lần đầu tiên các cấp chỉ huy lực lượng Đồng Minh, gồm:
Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Thái Lan,
và Hoa Kỳ, với các cấp chỉ huy của Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa, có cơ hội tiếp xúc tìm hiểu nhau về cá nhân cũng như
về kiến thức quân sự. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đều có mặt. Chương trình tổng
quát với lời chúc Giáng Sinh ngắn gọn của Trung Tướng Cao
Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, của Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, và của Thiếu
Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.
Tiếp đó là chương trình văn nghệ với những bài hát Giáng
Sinh bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Buổi tiếp tân diễn ra
trong bầu không khí thân hữu và trang trọng.
Về cấp
hiệu sĩ quan mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm qui định từ
đầu năm 1956, thay thế cấp hiệu của Pháp mà quân đội
áp dụng khi mới thành lập, cấp Uý biểu tượng bằng bông
mai vàng và cấp Tá là bông mai trắng trên cổ áo hoặc trên
mũ lưỡi trai. Nhưng vì kỹ thuật của các nhà sản xuất
chưa hoàn hảo nên màu sắc không chính xác giữa trắng với
vàng, nhất là thời gian sử dụng càng lâu thì màu sắc càng
dễ gây lầm lẫn. Chẳng hạn như một Đại Úy với cấp
hiệu 3 bông mai vàng với một Thiếu Tá cấp hiệu một bông
mai trắng đi ngược chiều nhau, nhưng vì màu sắc trên bông
mai vàng phai mờ nên ông Thiếu Tá tưởng lầm ông Đại Úy
đi ngược chiều là Đại Tá, bèn đưa tay chào cho dẫu có
thắc mắc không biết có phải Đại Tá hay không vì trông
trẻ quá. Vì vậy mà Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, quyết định
cấp hiệu của sĩ quan cấp Tá được gắn thêm một vạch
ngang phía dưới bông mai trắng để dễ phân biệt giữa cấp
Uý với cấp Tá.
Nhân vụ
cấp hiệu này xin nói thêm về nhiều loại huy chương được
thiết lập trong thời gian Trung Tướng Nguyễn Khánh cầm quyền,
trong mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các sĩ quan
tham mưu và sĩ quan chuyên môn, được tưởng thưởng thích
hợp và nhiều huy chương hơn để đeo trên ngực áo trong những
lễ hội, những lần đón tiếp các phái đoàn quân sự ngoại
quốc, hoặc du học du hành ngoại quốc. Trung Tướng Khánh
có sáng kiến này là do ông trông thấy một vị Tướng khi
xuất ngoại, trên ngực áo chỉ có 3 huy chương cuống, trông
“yếu quá”.
Xin
nói đến Ngày Quân Lực.
Ngày 19/06/1965,
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương
ra mắt quốc dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Sau đó, ngày
này được chọn làm Ngày Quân Lực. Và Ngày Quân Lựcđược
tổ chức lần đầu tiên là ngày 19 tháng 6 năm 1966 rất
trọng thể.
Trên đây
là Ngày Quân Lực 19 tháng 6, nhưng thật ra còn một Ngày Quân
Lực đã được chọn và tổ chức trước đó.
Đó là
Ngày
Quân Lực 30 tháng 1. Chuyện như thế này. Xin nhắc đến
cuộc Chỉnh Lý ngày 30/01/1964 do Trung Tướng Nguyễn Khánh,
Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Đại Tá Cao Văn Viên, lãnh
đạo lật đổ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng của Trung Tướng
Dương Văn Minh, và thành công. Nhưng sau khi Trung Tướng Khánh
công bố bản Hiến Chương tại Vũng Tàu, liên tiếp những
cuộc mít tinh biểu tình cáo giác Trung Tướng Nguyễn Khánh
là độc tài, từ đó Trung Tướng Khánh cho rằng Đại Tướng
Khiêm đứng đằng sau những vụ đó. Thế là Trung Tướng
Khánh đẩy Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong (7 tháng
10 năm 1964). Và rồi Trung Tướng Khánh quyết định chọn ngày
30 tháng 1 làm Ngày Quân Lực.
Ngày Quân
Lực 30 tháng 1 được tổ chức vào tối 30/01/1965, trên sân
thượng câu lạc bộ Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Đổng Lý Văn Phòng
Tổng Tư Lệnh, chỉ thị tôi Trưởng Phòng Quân Sự Vụ, và
Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng
Dân Sự Vụ, trách nhiệm tổ chức.
Tham dự
Ngày Quân Lực 30/01/1965, gồm: quí vị trong Chánh Phủ, quí
vị Tướng Lãnh, quí vị trong Ngoại Giao đoàn, các đơn vị
trưởng trong Quân Trấn Sài Gòn, và sĩ quan cao cấp phục vụ
tại Bộ Tổng Tư Lệnh. Ngày Quân Lực 30 tháng 1 được tổ
chức hôm ấy là lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất.
Tôi nghĩ
rằng, “Ngày Quân Lực tổ chức ngày 30/01/1965” rất ít
người biết đến, vì không có văn kiện ban hành, cũng không
phổ biến bất cứ hình thức nào, Trung Tướng Khánh chỉ
ra lệnh ngang qua Thiếu Tướng Vỹ, và chúng tôi thực hiện.
Chương trình Ngày Quân Lực 30 tháng 1 đơn giản như một buổi
tiếp tân ngoài trời. Không diễn văn dài dòng, không một
ai phát biểu, chỉ sau vài lời ngắn gọn của Trung Tướng
Khánh là vào tiệc, với chương trình văn nghệ rất đông
nghệ sĩ tân nhạc nổi tiếng của Sài Gòn lúc ấy trình diễn.
Nhân đây
cũng xin nói thêm về những ngày khác, nếu như có cuộc thăm
dò ý kiến trong quân đội để chọn ngày Ngày Quân Lực,
tôi nghĩ là những ngày sau đây có thể được bàn đến là
ngày 1 tháng 1, ngày 1 tháng 5, hay ngày 1 tháng 7.
Ngày
1 tháng 1. Trong cuộc chiến giữa thực dân Pháp với Việt
Minh cộng sản 1945-1954, chánh phủ Pháp ước tính không thể
dẹp tan đối phương trong thời gian 6 tháng như Cao Ủy Pháp
tại Đông Dương đã từng tuyên bố, nên sử dụng chính sách
dùng người Việt không cộng sản đánh nhau với người Việt
cộng sản, bằng quyết định thành lập một số Tiểu Đoàn
Việt Nam và những đơn vị nhỏ hơn, dưới quyền chỉ huy
của Pháp. Đầu tiên là Chi Đội Thám Thính của binh chủng
Thiết Giáp thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1951. Lần lượt sau
đó, một vài đơn vị đầu tiên là:
Ngày 1
tháng 2 năm 1951: một đơn vị Truyền Tin.
Ngày 1
tháng 5 năm 1951: một đơn vị Không Quân.
Cùng ngày
1 tháng 5 năm 1951: một đơn vị Quân Vận.
Ngày 1
tháng 8 năm 1951: một đơn vị Nhẩy Dù.
Ngày 1
tháng 9 năm 1951: một đơn vị Công Binh.
Ngày 1
tháng 11 năm 1951: một đơn vị Pháo Binh.
Ngày 1
tháng 3 năm 1952: một đơn vị Hải Quân.
Trong nét
nhìn nào đó, những đơn vị Việt Nam đủ tiêu biểu cho Hải
Lục Không Quân nhưng quá đổi khiêm nhường, ngoại trừ Lục
Quân có một số đơn vị khả dĩ có khả năng "đánh tay đôi"
với quân Việt Minh cộng sản.
Như vậy,
ngày
1 tháng 1, là ngày mà đơn vị đầu tiên của Việt Nam được
thành lập, dù rằng đơn vị này do Liên Hiệp Pháp chỉ
huy và yểm trợ.
Ngày
1 tháng 5. Do Dụ số 43 ngày 23 tháng 5 năm 1952 (sau này gọi
là sắc lệnh) của Quốc Trưởng Bảo Đại, thành lập
Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ ngày 1 tháng
5 năm 1952. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên là Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Hinh. Ông là sĩ quan Không Quân Pháp chuyển
sang. Tuy có cơ quan đầu não của quân đội, nhưng thực chất
các đơn vị Việt Nam đã thành lập trước đó vẫn do sĩ
quan Pháp chỉ huy và yểm trợ mọi nhu cầu của đơn vị.
Bộ Tổng Tham Mưu non trẻ này tập trung nỗ lực vào trách
nhiệm tổ chức 60 Tiểu Đoàn tân lập bộ binh do Pháp cung
cấp dụng cụ chiến tranh. Bộ Tổng Tham Mưu thực hiện quan
niệm tổ chức hai loại Tiểu Đoàn mà cơ quan này cho là thích
hợp với chiến trường hiện tại: "Tiểu Đoàn Việt Nam"
có trang bị súng cối và đại liên để đánh nhau với cộng
sản cấp Đại Đội, vì lúc ấy quân cộng sản trên chiến
trường miền Nam cũng chỉ tổ chức đến cấp Đại Đội.
Và loại "Tiểu Đoàn Khinh Quân", quân số ít và trang
bị nhẹ so với Tiểu Đoàn Việt Nam, dễ len lỏi hoạt động
trong vùng địch.
Ngày
1 tháng 7. Căn cứ quân sự trong vùng lòng chảo Điện Biên
Phủ của Pháp bị thất thủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, trước
những cuộc "tấn công biển người" của quân Việt Minh cộng
sản dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của quân Trung Hoa cộng
sản, dẫn đến Hiệp Định Đình Chiến ký ngày 20 tháng 7
năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ. Lãnh thổ Việt Nam bị chia
đôi thành hai quốc gia:
Vĩ tuyến
17 trở lên Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, theo
chế độ cộng sản độc tài.
Vĩ tuyến
17 trở xuống Nam là Quốc Gia Việt Nam, theo chế độ tự do.
Trung tuần
tháng 12 năm 1954, Tướng Collins của Hoa Kỳ và Tướng Paul
Ely của Pháp thỏa thuận, Bộ Tư Lệnh Quân Viễn Chinh Pháp
sẽ trao toàn quyền chỉ huy quân sự cho quân đội Việt Nam
từ ngày 1 tháng 7 năm 1955. Sau thỏa thuận này, một phái bộ
hổn hợp Mỹ Pháp được thành lập từ ngày 20 tháng 1 năm
1955, dưới tên gọi "Phái Bộ Liên Lạc Và Huấn Luyện Tại
Việt Nam" (tiếng Anh là Training Relations Instruction Mission, gọi
tắt là TRIM), với số sĩ quan gồm 200 của Pháp và 217 của
Hoa Kỳ.
Từ sau
thỏa ước trên, Bộ Tổng Tham Mưu quân đội quốc gia Việt
Nam, gần như ào ạt tiếp nhận quyền chỉ huy hệ thống tổ
chức lãnh thổ, từ Chi Khu (quận), Tiểu Khu (tỉnh), Phân Khu
(2 hoặc 3 Tiểu Khu), đến Quân Khu (nhiều Phân Khu), và các
đơn vị tác chiến lẫn yểm trợ. Và thật sự là Bộ
Tổng Tham Mưu nắm quyền chỉ huy quân đội quốc gia Việt
Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1955.
Vậy,
ngày
"1 tháng 1 năm 1951" là ngày thành lập đơn vị Việt Nam
đầu tiên nhưng do sĩ quan Pháp chỉ huy, ngày "1 tháng 5 năm
1952" là ngày thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc
Gia Việt Nam, và ngày "1 tháng 7 năm 1955" là ngày Bộ
Tổng Tham Mưu chánh thức thật sự nắm quyền lãnh đạo chỉ
huy quân đội. Tôi nghĩ, nếu phải chọn một ngày trong 3 ngày
nói trên thì ngày 1 tháng 5 có thể được chọn là "Ngày
Quân Lực" nếu so với ngày 30/01 hay ngày 19/06, vì thông
thường Ngày Quân Lực là ngày thành lập quân đội.
Nhưng
tôi cũng nghĩ rằng, vì quân đội được khai sinh từ quân
đội Pháp trong hoàn cảnh chiến tranh giữa thực dân với
cộng sản trong khi người Việt không cộng sản chúng ta chưa
có vị trí rõ ràng trên bàn cờ chính trị, nên quí vị không
chọn một trong những ngày đó mà chọn ngày quân lực nhận
trách nhiệm lãnh đạo quốc gia để kỷ niệm. Ngày này có
ý nghĩa vai trò quân đội trong chiến tranh ý thức hệ giữa
“Tự Do với Độc Tài”, giữa cái Thiện với cái Ác.
Quyết định chọn ngày 19 tháng 6 làm "Ngày Quân Lực", tiêu
biểu nét đặc thù trong chiến tranh giữ nước của chúng
ta trước làn sóng đỏ tràn xuống phía nam trong những thập
niên 50 - 70 mà hiệp chủng quốc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia
đồng minh, đã đặt Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào vị trí
"quốc gia tiền đồn" trên mặt trận toàn cầu đương đầu
với cuộc chiến ý thức hệ cộng sản thế giới, mà cộng
sản Việt Nam là cánh tay nối dài của cộng sản Nga Sô và
Trung Hoa.
Và kỷ
niệm “Ngày Quân Lực 19 tháng 6” đã được Bộ Tổng
Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tổ chức trọng thể
hằng năm kể từ năm 1966. Trong chốn riêng tư, ngày 19 tháng
6 năm 1966, còn tiềm ẩn ý nghĩa sự thành công của Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia, trong nỗ lực giải quyết vụ khủng hoảng
chính trị mà báo chí thường gọi là “khủng hoảng miền
Trung” nữa. Nói là thành công, nhưng thật sự có phải là
thành công hay không, tùy sự đánh giá của quí vị quí bạn.
Từ sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, cựu Quân Nhân chúng ta trong
những hoàn cảnh thích hợp tại mỗi quốc gia hay thành phố
định cư, đã cùng nhau tổ chức kỷ niệm Ngày Quân Lực
19 tháng 06. Hành động như vậy, tôi nghĩ là hoàn toàn đúng
và cần duy trì truyền thống cao quí này. Đúng, vì cho đến
nay -năm 2009- trong Cộng Đồng Việt Nam chúng ta tị nạn cộng
sản tại hải ngoại, không một cá nhân hay một tổ chức
nào khả dĩ có đủ tư cách để thay đổi. Với lại chúng
ta cần
-phải nói là rất cần- một ngày trọng đại
để vinh danh quân đội, vinh danh những đồng đội đã hi
sinh, vinh danh những đồng đội thương phế binh đã để lại
một phần thân thể trên khắp miền quê hương đất nước,
và vinh danh những bà quả phụ đã tảo tần tạo dựng thế
hệ nối tiếp trách nhiệm của chúng ta. Đồng thời, cũng
là ngày nhắc nhở chúng ta -những người cựu quân nhân chưa
tròn nhiệm vụ đang sống lưu vong khắp chân trời góc biển-
hãy tiếp tục nhiệm vụ còn dang dở trong cuộc chiến hôm
nay, góp phần vào công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị
trên quê hương Việt Nam, và cùng thế hệ hậu duệ nối tiếp
xây dựng một chế độ dân chủ tự do thật sự trên quê
hương Việt Nam ngày mai.
Tôi đến
Hoa Kỳ đầu tháng 4 năm 1991 trong đợt HO 5. Hai tháng sau đó,
tôi sang làm việc trong trường thẩm mỹ của người bạn
tại thành phố Westminster, và rất sung sướng được tham dự
Ngày Quân Lực trong khuôn viên nghĩa trang mà tôi không nhớ
tên. Buổi lễ hôm ấy có 18 bạn hiện diện, sau lễ chào
quốc kỳ là diễn văn ngắn, đến “tiệc trà” với vài
cái bánh và chai nước ngọt. Buổi lễ rất đơn giản nhưng
rất xúc động, vì lần đầu tiên sau 16 năm trong nhà tù nhỏ
và nhà tù lớn của cộng sản Việt Nam, được đứng nghiêm
chào quốc kỳ mà tôi đã phụng sự 21 năm trước kể từ
năm 1954. Và tôi không bao giờ quên Ngày Quân Lực hôm ấy./.
Houston, tháng 4 năm
2007
Hoàn chỉnh tháng
6 năm 2009
Phạm Bá Hoa
 |