| Bài này do tóm tắt tập tài liệu
"Nghĩa Trang Biên Hòa" do cựu Ðại Tá Vũ Văn Lộc, tức
nhà văn Giao Chỉ ở San Jose, thu thập biên soạn tháng 12 năm
2002, với sự đóng góp của nhiều cựu quân nhân trực tiếp
lẫn gián tiếp thực hiện công trình nghĩa trang.
Trước năm 1965, các tử sĩ Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa an táng tại nghĩa trang các Tiểu Khu.
Riêng tại Quân Trấn Sài Gòn-Gia Ðịnh, an táng trong nghĩa
trang quân đội ở Gò Vấp, hoặc trong nghĩa trang Mạc Ðỉnh
Chi. Từ năm 1965 về sau, Nghĩa Trang Quân Ðội được xây dựng
trên một diện tích 125 mẫu tây bên trái xa lộ Sài Gòn-Biên
Hòa, cách Sài Gòn khoảng 22 cây số, các tử sĩ được an
táng nơi đây.
Ðôi nét về Nghĩa Trang Quân Ðội.
Theo dự trù, nghĩa trang quân đội
Biên Hòa sẽ trở thành "Nghĩa Trang Quốc Gia", do Cục Công
Binh phối hợp với Bộ Công Chánh và Trường Kỹ Thuật Phú
Thọ, tổ chức cuộc thi thiết kế đồ án. Sau khi nghe trình
bày từng đồ án, Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Chủ Tịch
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, đã quyết định chọn đồ án
"Con Ong" để xây dựng Nghĩa Trang Quân Ðội, vì ông cho rằng;
"Con Ong không thờ hai chúa, với một cây kim chích xong là chết,
như người chiến sĩ chỉ tôn vinh một quốc kỳ, chiến đấu
và chết cho quốc kỳ đã chọn". Với đồ án này, toàn bộ
Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa với hình dáng "Con Ong", chia
làm 8 khu tạo thành thân Con Ong, dự trù cho khoảng 25.000 đến
30.000 ngôi mộ. "Nghĩa Dũng Ðài Với Vành Khăn Tang" được
xây dựng chính giữa phần cuối của thân Con Ong. Một đường
thẳng ra hướng xa lộ, đến đầu cây kim là "Ðền Thờ Chiến
Sĩ". Thẳng ra trước một khoảng là Cổng Tam Quan. Thân kim
đâm thẳng ra xa lộ. Bên phải mũi cây kim là bức tượng
"Thương Tiếc" sát cạnh xa lộ.
Năm 1965, Liên Ðoàn 5 Công Binh Kiến
Tạo được lệnh điều động một đơn vị cơ giới để
ủi quang khu vực cạnh xa lộ Biên Hòa. Ðó là công việc đầu
tiên mà Liên Ðoàn này bắt đầu thực hiện công trình xây
dựng Nghĩa Trang Quân Ðội tại Biên Hòa.
Các công trình chính gồm có:
- Tượng Thương Tiếc.
- Cổng Tam Quan.
- Ðền Liệt Sĩ.
- Mộ Vô Danh.
Ðền Liệt Sĩ và Mộ Vô Danh, đã
hoàn thành trước năm 1970. Công trình quan trọng kế tiếp
là Nghĩa Dũng Ðài Với Vành Khăn Tang bắt đầu, và dự trù
sẽ khánh thành đợt 1 vào Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1975.
Ðơn vị trách nhiệm quản trị Nghĩa Trang là Liên Ðội Chung
Sự thuộc Cục Quân Nhu. Chính tại đơn vị Chung Sự này,
nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan, có dịp phục vụ nơi đây
và sáng tác cuốn tiểu luận: "Mười ngày tại đơn vị chung
sự". Trong những thời gian mà chiến trường sôi động, thành
tích cay đắng của Liên Ðội Chung Sự là chôn cất trung bình
70 chiến sĩ tử trận mỗi ngày! Ðôi lúc hết cả quốc kỳ
phủ quan tài và cả quan tài cũng hết, phải về Cục Quân
Nhu nhận trực tiếp.
Và đây là công trình Nghĩa Dũng
Ðài Với Vành Khăn Tang. Tháng 6 năm 1971, Hội Ðồng Chấm
Tuyển gồm: Các chuyên viên đại diện của Trường Cao Ðẳng
Kiến Trúc, Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Cục Chiến Tranh Chính
Trị, Cục Quân Nhu, và Cục Công Binh, để tuyển chọn trong
số 54 đồ án dự thi. Kết quả, không có giải nhất, chỉ
có giải nhì, giải ba, và 6 giải an ủi. Tiếp đó là thời
gian thiết lập toàn bộ hồ sơ kỹ thuật. Và đến tháng
10 năm 1972, công trình được bắt đầu. Sở Kỹ Thuật Cục
Công Binh trách nhiệm kỹ thuật, Liên Ðoàn 5 Công Binh Kiến
Tạo sử dụng Tiểu Ðoàn 54 Công Binh Kiến Tạo gồm Ðại
Ðội 541 thực hiện Nghĩa Dũng Ðài và Ðại Ðội 542 thực
hiện Vành Khăn Tang. Nghĩa Dũng Ðài gồm 3 phần:
Phần thứ nhất là Trụ Tháp. Cao
43 thước tính từ mặt đất, chân rộng 6 thước, trên đỉnh
rộng 3 thước 50. Bên trong trụ tháp là 15 tầng. Có thang sắt
cho người đi, cứ mỗi đoạn 6 thước cao có chỗ dừng chân.
Tháp này có sức chịu được gió với vận tốc 120 cây số/giờ,
và với sức chịu này có khả năng đứng vững trong mọi
thời tiết. Có 2 cột "thu lôi" để tránh sấm sét. Vào ban
đêm, một hệ thống đèn pha cực mạnh chiếu lên đỉnh tháp,
từ ngoại ô thủ đô Sài Gòn hay ngoại ô thành phố Biên
Hòa, dễ dàng trông thấy những vệt ánh sáng khi bóng tối
phũ trùm không gian.
Phần thứ hai là Nền Ðài. Ðược
thực hiện trên một nền phẳng với đường bán kính 29 thước,
cao 1 thước 50, chen kẽ với những tấm 'đan' trên nền là
cỏ nhung. Vây tròn nền đài là một tường đá thấp.
Và quan trọng nhất là phần thứ
ba, với Vành Khăn Tang bê-tông cốt sắt. Cao 5 thước, dày
1 thước 20, trải tròn bao quanh trụ tháp, với đường kính
34 thước. Mặt trong Vành Khăn Tang, sẽ khắc tên những chiến
sĩ đã hi sinh vì Tổ Quốc. Mặt ngoài Vành Khăn Tang, sẽ gắn
những công trình điêu khắc bằng đồng, về những hình ảnh
dựng nước, mở nước, giữ nước, từ thời Vua Hùng trong
lịch sử xa xưa đến thời đương đại, do Ðiêu khắc gia
Lê Văn Mậu, tác giả của đồ án Nghĩa Dũng Ðài thực hiện.
Cụ Mậu tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương
tại Hà Nội, cụ là người đã sáng lập trường Mỹ Nghệ
Biên Hòa, và lúc bấy giờ cụ Mậu đang là giáo sư trường
Cao Ðẳng Mỹ Thuật Gia Ðịnh. Nhà điêu khắc này dự trù
thực hiện qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 trong 20 tháng, kể từ
tháng 11 năm 1974, với ngân khoản dự trù 6 triệu 200 ngàn
đồng VN. Trong thời gian này, công việc của nhà điêu khắc
là thực hiện trên giấy calque, chuyển sang mô hình bằng thạch
cao, kế đến là những mảnh điêu khắc mẫu bằng đồng,
trước khi chánh thức điêu khắc công trình.
Giai đoạn 2 trong 6 năm kể từ năm
1976, với ngân khoản dự trù từ 60 triệu đến 100 triệu
đồng Việt Nam tùy theo thời giá. Số lượng đồng sử dụng
cho công trình này vào khoảng 120 tấn do Tổng Cục Tiếp Vận
cung cấp. Số đồng này là vỏ đạn đại bác 105 ly giao cho
Lục Quân Công Xưởng đúc thành từng khối, trước khi giao
cho nhà điêu khắc. Những hình ảnh điêu khắc gắn ở mặt
ngoài Vành Khăn Tang có chủ đề "Dòng Lịch Sử Việt Nam
Huy Hoàng", gồm các giai đoạn lịch sử:
- Thời các Vua Hùng.
- Hai Bà Trưng chiến thắng quân
Ðông Hán thế kỷ thứ nhất.
- Lý Thường Kiệt chiến thắng
Chiêm Thành, và chiến thắng nhà Tống thế kỷ 11.
- Trần Hưng Ðạo chiến thắng quân
Mông thế kỷ 13.
- Lê Lợi chiến thắng nhà Minh thế
kỷ 15. Cũng trong thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tôn chiến thắng
Chiêm Thành và Ai Lao.
- Các Chúa Nguyễn lần lượt chiến
thắng Chiêm Thành thế kỷ 17, Chân Lạp và Xiêm La thế kỷ
18. Cũng trong thế kỷ 18, Vua Quang Trung chiến thắng nhà Thanh.
- Nguyễn Trung Trực chiến thắng
quân Pháp thế kỷ 19.
- Hùng khí của QLVNCH với những
thành quả xây dựng tự do hòa bình thịnh vượng thế kỷ
20.
Ðang chuẩn bị khánh thành giai đoạn
1, vào Ngày Quân Lực 19/6/1975, lúc ấy công trình điêu khắc
chưa kịp gắn vào mặt ngoài Vành Khăn Tang. Nhưng, như quí
thính giả đã rõ, ngày 30/4/1975, quê hương Việt Nam vào tay
cộng sản. Sau những ‘chiến dịch’ đánh tư sản mại bản,
đánh tư thương, và đánh tất cả các ngành khác mà chung
qui là chúng tịch thu tất cả cơ sở kinh doanh sản xuất của
tư nhân, và chia chác tài sản quốc gia. Ðó là về vật chất,
còn về con người thì hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức,
cán bộ, và một số dân thường, bị chúng đẩy vào các
trại tù mà chúng gọi là ‘trại cải tạo’ không thời
hạn. Ðó là hành hạ trả thù người còn sống, còn đối
với những quân nhân tử trận nằm im trong lòng đất vẫn
bị hành hạ trả thù, bằng cách ủi bằng các nghĩa trang
địa phương để xây dựng nhà ở hay cơ sở trên đó. Nghĩa
Trang Quân Ðội Biên Hòa cũng bị phá hoại dưới nhiều hình
thức khác nhau, do một đơn vị quân đội của họ trú đóng
nơi đây đập phá. Trong thập niên 90, có tin CSVN giao cho một
công ty Ðài Loan xây dựng khu kỹ nghệ, nhiều thân nhân xôn
xao vội vàng bốc mộ, nhưng không rõ việc gì đã xảy ra
mà họ không thực hiện. Do vậy mà Nghĩa Trang vẫn còn đó
dù chỉ là từng phần từng mảng trong điêu tàn hoang phế!
Vào ngày cuối cùng của tháng 4
năm 1975, tại nhà quàn của Nghĩa Trang còn lại hơn 60 xác
chiến sĩ chưa kịp an táng. Một Chuẩn Úy vẫn ở lại, cùng
với nhiều thân nhân tử sĩ có mặt, trong một hành động
thật dũng cảm, thật anh hùng, nhưng đầy nước mắt, tất
cả những xác ấy được chôn trong một mồ tập thể! Trong
số những người có mặt và góp sức vào ngôi mộ bất đắc
dĩ với vô vàn thương cảm của ngày thua trận, là một cô
gái 19 tuổi đã khô cạn nước mắt, khi chôn chồng chưa cưới
của cô là một Trung Úy Biệt Ðộng Quân trước đó 3 ngày.
Những ngày sau đó cô vẫn ở lại bên mộ chồng với niềm
thương tiếc vô biên, do vậy mà cô được góp sức vào ngôi
mộ chung đó. Hiện Cô định cư ở San Jose, và cứ 2 năm 1
lần, cô về Việt Nam chăm sóc mộ chồng!
Theo tác giả có bút hiệu "Người
Giữ Mộ" thì năm 1983, sau khi ra tù, tác giả đến nơi an nghĩ
của những chiến sĩ đã tròn nhiệm vụ với quốc gia dân
tộc, để cảm nhận cảnh tiêu điều hoang phế của nghĩa
trang! Loại cây Hắc Hương rất nhiều rất cao, che phủ Nghĩa
Trang, phải len chân mới di chuyển được. Tất cả mộ bia
đều bị đập phá hình, khoảng 50% mộ bia ngã xuống đất,
phần còn lại thì ngã nghiêng xiêu vẹo, riêng bia của 8 vị
Tướng bị đập phá hoàn toàn, nắp xi măng trên phần mộ
bị nhà cầm quyền đem cấp phát cho các cơ quan của họ,
trong đó có câu lạc bộ bệnh viện Từ Dũ. Thân Con Ong tức
là những khu đất phần mộ, trở nên loang lỡ do bị đào
xới. Năm 1985, 1986, lác đác có người đến chăm sóc mộ,
nhưng không ai dám nhìn nhau, dần dần tìm hiểu nhau bằng cách
mượn bật lửa hay xin vài cây nhang, để tránh đụng phải
Công An. Trong những ngày thanh minh tảo mộ, thường thì có
từ 10 đến 15 người sẵn sàng chăm sóc phần mộ với giá
5.000 đồng Việt Nam, nhưng nếu trả thêm 10.000 đồng nữa
thì họ sửa sang cho 5 ngôi mộ lân cận, vị chi là 15.000 đồng
thì 6 ngôi mộ được quét vôi làm cỏ hay dựng lại mộ bia.
Trong khoảng năm 1991 năm 1994, thỉnh thoảng có anh em HO từ
Hoa Kỳ về có đến thăm nghĩa trang. Trong số đó có một
anh HO, dành ra hằng tháng trời thuê người dựng lại nhiều
hàng mộ bia tương đối ngay ngắn. Khi làm công tác này, cứ
một người làm thì một người đứng canh chừng Công An.
Năm 1996, một cựu sĩ quan Công Binh
được nhóm bạn cử về Việt Nam quan sát khu Nghĩa Trang Biên
Hòa. Kết quả đầu tiên: Một số mộ vẫn còn nhưng hoang
phế, chỉ một số ít có vẻ như được chăm sóc sơ sài.
Hội Quán Việt Nam tại San Jose tổ chức buổi họp mặt, tìm
cách giúp đỡ Thương Phế Binh. Một vị Mạnh Thường Quân
yêu cầu dấu tên, gởi đến Hội Quán Việt Nam tặng 2000
mỹ kim, góp phần giúp anh em thương phế binh. Kế tiếp, cũng
vị ấy gởi tặng thêm 1100 MK nữa. Thế là chương trình "Quà
Xuân cho anh em thương phế binh" được thực hiện ngay. Về
danh sách và những hồ sơ anh em thương phế binh còn ở Việt
Nam được cung cấp bởi Nhóm Huynh Ðệ Chi Binh tại San Jose
phụ trách. Rồi từ chương trình trợ giúp anh em thương phế
binh, mở thêm chương trình "Nhớ Về Tử Sĩ".
Sau khi liên lạc bằng thư tín thăm
dò anh em thương phế binh còn ở Việt Nam, được các anh cho
biết là công việc làm cỏ, sửa sang phần mộ đôi chút,
hay cắm lại mộ bia, là có thể làm được. Chỉ cần có
chút ít tiền để anh em thương phế binh mướn xe đi và về.
Từ đó, công tác chăm sóc những phần mộ còn lại tại Nghĩa
Trang, được xúc tiến bằng cách Hội Quán Việt Nam tại San
Jose vận động tiền và gởi về, và từng nhóm nhỏ anh em
thương phế binh phân công phụ trách trong những năm qua.
Tổng hợp các thư của các anh còn
ở Việt Nam sau các lần tảo mộ năm 1999, 2000. 2001, và 2002,
thì nơi để tượng Thương Tiếc chỉ còn trơ lại cái bệ
xi măng, với vài gia đình làm nơi vá vỏ xe. Gần Ðền Thờ
Chiến Sĩ có nhiều lò gạch. Cơ sở của Liên Ðội Chung Sự,
nhà quàn, và hồ sen gần đó, đã biến mất. Cổng Tam Quan
cũng trong tình trạng hoang phế chung của Nghĩa Trang, nhưng
hàng chữ hai bên cột vẫn còn đó dù rêu phong bám vào và
cỏ cao che lấp: "Vì Dân Chiến Ðấu Vì Nước Hy sinh". Những
mộ còn lại, lần lượt được làm cỏ, quét vôi, dựng lại
mộ bia, nay có phần quang đãng./.
Houston, tháng 1 năm 2003.
Phạm Bá Hoa
|