Phổ
biến phác thảo quan niệm
sách
lược quốc gia thời hậu cộng sản
* * *
Kính gởi quí Đồng
Môn, quí Đồng Đội, quí Nhân sĩ, cùng tuổi trẻ Hậu Duệ
trong và ngoài đại gia đình Thủ Đức hải ngoại
Như dự liệu trong
“Kế Hoạch Công Tác Nhiệm Kỳ 2006-2008”, Ủy Ban Thường
Trực gởi đến quí Đồng Môn Cố Vấn, Chủ Tịch Hội Đồng
Điều Hành, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát, các Liên Hội
Trưởng, các Hội Trưởng, Chi Hội Trưởng, và Trưởng Đoàn
Thanh Thiếu Niên Cư An Tư Nguy (TTNCATN) Queensland, Australia, phác
thảo “Quan Niệm Sách Lược Quốc Gia” thời hậu cộng sản.
Kèm theo quan niệm này có các Phụ bản A, B, C, D, E, và 5 “Kế
Hoạch Khung” phác thảo tổ chức Quân Đội, tổ chức Hành
Chánh, tổ chức Giáo Dục, tổ chức Cảnh Sát, tổ chức hoàn
trả tài sản cho sở hữu chủ. Mỗi kế hoạch khung có kèm
theo các sơ đồ phác thảo tổ chức. Đang tiếp tục phác
thảo các khung kế hoạch khác.
Cách nay 45 năm,
sự bối rối của Hội Đồng Quân Cách Mạng (HĐQNCM) ngay
sau cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 và cuộc chỉnh lý ngày 30/1/1964,
cho thấy mức độ cần thiết khi soạn thảo những kế hoạch
đánh đổ một chế độ, cùng lúc phải soạn thảo những
kế hoạch cần thực hiện sau khi thành công. Vì không được
chuẩn bị một kế hoạch như vậy, nên HĐQNCM đã lúng túng
trong một thời gian tuy không dài, nhưng thời gian lúc bấy
giờ rất cần thiết vì đất nước trong thời chiến tranh
chống cộng sản.
Cách nay 7 năm, chiến
tranh chống khủng bố quốc tế do Hoa Kỳ và các quốc gia
đồng minh tiến hành trên đất Afghanistan, cũng cho thấy sự
cần thiết một nhu cầu tương tự. Trong cuộc chiến này,
qui tụ hầu hết các quốc gia vừa giàu vừa mạnh, nên họ
vừa tiến hành chiến tranh, vừa gấp rút hội họp tại nhiều
quốc gia khác nhau để thành lập chánh phủ lâm thời, để
soạn thảo kế hoạch về những vấn đề xã hội, hội họp
tìm nguồn tài chánh, và kế hoạch xây dựng lại Afghanistan
sau cuộc chiến. Họ tiến hành thật nhanh và suông sẻ vì
họ là những quốc gia thừa thải phương tiện, nhưng rõ ràng
là không đủ thời gian cho công tác vận động nhân sự bản
xứ nên rắc rối xảy ra ngay sau khi thỏa hiệp ký kết, tuy
không đến mức trầm trọng nhưng vẫn là kinh nghiệm trong
công tác tham mưu.
Cách nay 5 năm, song
song với cuộc vận động cho cuộc chiến giải giới các loại
vũ khí giết người hằng loạt của Iraq, Hoa Kỳ hội họp
với các tổ chức của người Iraq lưu vong, hội họp với
người Kurk đang tranh đấu cho nền tự trị của họ ở phía
Bắc Iraq, hội họp với các quốc gia Đồng Minh dự liệu
những vấn đề xảy ra khi chiến tranh bùng nổ. Ngay tại Hoa
Kỳ, chánh phủ mời gọi một số tổ hợp công ty nghiên cứu
những dự án khôi phục những sinh hoạt của quốc gia Iraq
sau khi chế độ độc tài Saddam Hussein sụp đổ, và ..v..v..
Nhớ lại những
thập niên giữa thế kỷ 20, Trường Đại Học Quân Sự, về
sau là Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, với phương châm “tham
mưu đi trước một bước” được sử dụng trong mục
tiêu đào tạo sĩ quan tham mưu trong Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa. Phương châm này không chỉ áp dụng trong quân sự
mà còn ứng dụng vào những sinh hoạt trong xã hội với những
lợi ích của nó. Căn cứ vào nhiệm vụ, để từ đó trải
qua từng bước tham mưu trong một chuỗi công tác liên tục
từ sưu tầm, phân tách, đánh giá, nghiên cứu, kết luận,
để hình thành một kế hoạch.
Những năm qua và
hiện nay, trong Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta, những cá nhân
quan tâm đến vấn đề tổ chức và quản trị xã hội, cũng
như những bộ phận phụ trách tham mưu chiến lược trong các
tổ chức đấu tranh, thể nào cũng đã và đang chuẩn bị
những kế hoạch xây dựng Việt Nam thời hậu cộng sản.
Nhưng thiết nghĩ sẽ không thừa, nếu có thêm nhiều suy nghĩ
hình thành nhiều quan niệm trong cùng mục đích từ nhiều
giới trong Cộng Đồng hỗ trợ, cho dù suy nghĩ có khác biệt
thậm chí đối nghịch nhau, vẫn là điều cần thiết cho công
tác nghiên cứu tham mưu.
Chúng ta đấu tranh
chống cộng sản Việt Nam độc tài và chống bất cứ chế
độ độc tài nào khác, là do tinh thần tự phát từ trách
nhiệm công dân đối với quốc gia dân tộc. Chúng ta tìm đến
nhau kết hợp hoạt động, vừa tự túc mọi phương tiện,
vừa hoạt động công khai vừa không công khai tùy không gian,
thời gian, cơ hội, nếu không dùng “tham mưu đi trước một
bước” sẽ gặp rất nhiều vấn đề nan giải trong trường
hợp tình hình quốc nội quốc tế biến chuyển bất ngờ
và nhanh chóng. Bởi trong chính trị, nhất là đang trong trào
lưu dân chủ hóa lan rộng trên bình diện thế giới, không
nhà lãnh đạo độc tài nào lường trước được những đột
biến bất ngờ đến với họ, cho dù họ luôn luôn đề phòng
bất trắc vì họ thừa biết thời đại này không một dân
tộc nào chấp nhận chế độ độc tài. Nếu như về mặt
nổi của một quốc gia độc tài nào đó có vẻ như đang
hòa bình sung túc, nhưng thật sự về mặt chìm của quốc
gia đó là những đợt sóng ngầm sẳn sàng bùng lên rồi ập
xuống đè bẹp cả chế độ, vì nhân loại đang trên đà
tiến đến dân chủ hóa toàn cầu để cùng nhau “hợp tác
phát triển bền vững” do Liên Hiệp Quốc chủ xướng, qua
hai đại hội toàn thế giới về mục tiêu này tại Brasil
năm 1992, và tại Nam Phi năm 2002. Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam là một trong những chế độ độc tài đó.
Vì vậy chúng ta
không để tình trạng quốc tế vẽ sẳn những kế hoạch
cho chúng ta như trường hợp Afghanistan hay Iraq hiện nay, và
tình trạng này cũng có thể là quốc gia nào đó trên thế
giới nữa. Trường hợp có tệ lắm, chúng ta với Đồng Minh
phải ngang bằng nhau khi hoạch định đường lối chính sách
cho một nước Việt Nam dân chủ tự do trong tương lai. Bởi
tương lai của đất nước chúng ta cho dẫu theo chiều hướng
phát triển như thế nào đi nữa, vẫn phải giữ được nét
tinh hoa trong văn hoá dân tộc. Nói chung, hướng phát triển
Việt Nam phải là sự kết hợp hài hòa giữa khoa học kỹ
thuật với văn hoá dân tộc. Do vậy, chúng ta cần biến những
suy nghĩ hôm nay trở thành những phác thảo kế hoạch cho ngày
mai, bằng cách vận dụng tham mưu quân sự, vì trong thủ tục
tham mưu quân sự có những nguyên tắc căn bản mà trong các
ngành sinh hoạt quốc gia, thậm chí trong những sinh hoạt cá
nhân hay gia đình, cũng đều vận dụng thích hợp cả.
Xin đừng nghĩ rằng,
những kế hoạch quốc gia phải là những vị Tổng Trưởng
Bộ Trưởng mới soạn thảo được, dù những văn kiện đó
do các vị Tổng Trưởng Bộ Trưởng duyệt ký ban hành. Trình
tự của công tác tham mưu là do các vị ấy đưa ra quan niệm
và mục tiêu chiến lược, từ đó các sĩ quan hay viên chức
tham mưu nghiên cứu dự thảo, trình lên các vị Tổng Trưởng
Bộ Trưởng duyệt xét thêm bớt sửa đổi trước khi hoàn
chỉnh.
Chúng ta đang sống
trong những xã hội dân chủ pháp trị, những xã hội mà khoa
tổ chức và quản trị đã chứng tỏ vai trò then chốt của
nó trong sự phát triển quốc gia. Mỗi người chúng ta trong
Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại -nhất là tuổi trẻ-
ít nhiều cũng học hỏi được nguyên tắc lẫn kinh nghiệm
thực tế về tổ chức và quản trị xã hội. Đây là điều
mà chúng ta cần vận dụng vào sự suy nghĩ cho ngày mai, chẳng
riêng gì chuyện quốc gia mà ngay cả chuyện gia đình cũng
cần đến óc tổ chức và quản trị đó, tất nhiên kích
cở khác nhau với những phức tạp khác nhau trong từng lãnh
vực.
Từ tinh thần trách
nhiệm giúp chúng ta rèn luyện lòng kiên nhẫn, từ ý chí học
hỏi giúp chúng ta tăng thêm kinh nghiệm. Những phác thảo đầu
tiên nếu chưa hoàn chỉnh, hãy từ tốn viết rồi sửa sửa
rồi viết, dần dần bản phác thảo ngày càng hoàn chỉnh
hơn. Lúc ấy sẽ cảm thấy hài lòng với “phác thảo kế
hoạch đầu tay”, từ đó những phác thảo tiếp theo sẽ
được tiến hành với sự phấn khởi, nhiệt tâm, và tin tưởng.
Nhất thiết, chúng ta sẽ làm được những gì mà chúng ta
thật sự mong muốn trong ý nghĩa góp chút nhỏ nhoi vào quê
hương cội nguồn sau thời cộng sản, xây dựng một xã hội
dân chủ pháp trị, một dân tộc sống trong nguyện vọng của
mình, một quê hương Việt Nam phát triển bền vững trên nền
tảng của đất nước dân tộc.
Trong cuộc chiến
giành lại quyền làm người cho hơn 86 triệu dân trong nước,
mỗi người mỗi tổ chức chúng ta trong Cộng Đồng tị nạn
cộng sản tại hải ngoại hay đang sống trong sự bóp nghẹt
chính trị trên quê hương Việt Nam, đóng góp được gì dù
là nhỏ nhoi và gián tiếp hay trực tiếp vào cuộc chiến này
để xây dựng nước Việt Nam tương lai đều đáng được
khuyến khích, hay ít ra chúng ta cảm nhận được sự thanh
thản trong tâm hồn về việc nên làm của tầng lớp người
có bổn phận với quê hương dân tộc cội nguồn.
Trong cuộc sống,
trước khi bắt tay vào một vấn đề quan trọng nào đó, người
hay nhóm trách nhiệm thường tự hỏi: “Chúng ta bắt đầu
từ điểm nào?” Với phác thảo “Quan Niệm Sách Lược
Quốc Gia” thời hậu cộng sản này có khả năng gợi
ý giúp Quí Vị cùng Tuổi Trẻ trong và ngoài đại gia đình
Thủ Đức “điểm bắt đầu đó”.
Đây là vấn đề
trọng đại cấp quốc gia, nhưng đến nay toàn bộ phác thảo
này chỉ là sự hiểu biết hết sức nhỏ nhoi hạn hẹp của
một cá nhân nên chắc chắn rất nhiều sai sót lỗi lầm.
Do vậy, Ủy Ban Thường Trực rất vui mừng được trao đổi
quan niệm với thế hệ Trẻ, với quí anh Đồng Môn Đồng
Đội Đồng Tù, với quí vị Nhân Sĩ, cùng nghiên cứu thực
hiện công tác tham mưu này trên tinh thần xây dựng.
Toàn bộ hồ sơ
nghiên cứu tham mưu chiến lược này sẽ cống hiến cho Nhóm
Lãnh Đạo Lâm Thời trong giai đoạn chuyển tiếp từ cộng
sản độc tài sang dân chủ tự do. Quí vị và những tổ chức
cùng nghiên cứu, sẽ tự trình bày quan điểm của mình với
Nhóm Lãnh Đạo Lâm Thời lúc ấy.
Ủy Ban Thường
Trực chúng tôi rất trân trọng.
Houston, ngày 19 tháng
3 năm 2007
Nhật tu ngày 28
tháng 10 năm 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường
Trực
Alpha Phạm Bá Hoa (khóa
5)
Phác
thảo quan niệm sách lược quốc gia
* * *
”Nghiên cứu
hôm nay, ngày mai sử dụng” là một phương châm. “Hôm
nay” có nghĩa là bắt đầu ngay khi có thể được. “Ngày
mai” có nghĩa là thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ
cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, và sau đó.
Phác thảo “quan
niệm sách lược quốc gia” dựa theo mẫu kế hoạch trong
tham mưu quân sự với vài thay đổi tên các đoạn và tiểu
đoạn thích hợp với nội dung mà bài học của Trường Đại
Học Quân Sự Việt Nam Cộng Hòa năm 1960, có tên gọi “Kế
Hoạch Hành Quân 5 Đoạn” và dựa theo tài liệu của khoa
“Sách Lược Quốc Phòng năm 1971” Trường Cao Đẳng Quốc
Phòng tại Sài Gòn.
1. NHẬN ĐỊNH.
a. Sự kiện trong
nước.
- Mức phát triển
kinh tế Việt Nam từ những năm cuối thập niên 90 bắt đầu
xuống dốc do suy đồi về chính trị nội bộ và xã hội,
trong bối cảnh một thế giới dân chủ tự do tiếp tục
phát triển. Từ năm 2001 mức phát triển gia tăng dần, đến
năm 2007 mức phát triển gần 8.5% với tổng sản phẩm nội
địa tính theo đầu người khoảng 700 mỹ kim.
- Tiến sĩ Lê Đăng
Doanh, chuyên gia kinh tế hàng đầu của Việt Nam, đã nói trong
phiên họp mật của Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam ngày
2/11/2004 rằng: “Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương
đối nhanh, nhưng mức độ tăng trưởng ấy chỉ là so với
chính bản thân Việt Nam, vì nhìn ra chung quanh, rất nhiều
quốc gia tăng trưởng nhanh hơn Việt Nam nhiều. Việt Nam ta
không nên lớn giọng dạy bảo thiên hạ, không nên tự cho
mình là đòn bẩy của thế kỷ, cũng không nên tự xưng
mình làm xung kích cho lịch sử, vì những điều đó không
giúp gì cho sự phát triển của đất nước. Với lại thế
giới không có ai công nhận Việt Nam như vậy cả”.
- Bức tranh xã hội
xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ sau 30/4/1975 đến năm 2000,
được cựu Trung Tướng cộng sản Trần Độ “vẽ lại”
trong tập nhật ký “Rồng Rắn” ngày 7/12/2000. Trong đó,
ông tự hỏi: “Tại sao chiếm được miền Nam năm 1975,
một nửa đất nước trù phú như vậy mà chỉ vài năm sau
đã đưa cả nước vào tình trạng nghèo đói ngắc ngoải
như vậy?” Rồi ông mời gọi lãnh đạo của ông: “Hãy
nhìn các nước Đài Loan, Đại Hàn, Singapore, Thái Lan, Mã Lai
Á, chỉ cần 20-30 năm mà họ phát triển và nhân dân của
họ có đời sống khá phong phú. Mấy nước này không có đảng
cộng sản tài tình sáng suốt (như của Việt Nam), mà họ
có những chính khách với những chính sách kinh tế xã hội
thông minh và hiệu quả. Như vậy, chủ nghĩa xã hội chưa
có chứng thực, và nó không thể là con đường duy nhất để
phát triển đất nước”.
- Nhận định của
ông Trần Độ từ cuối năm 2000 và ông ông Lê Đăng Doanh
từ cuối năm 2004, đến nay là năm 2008 vẫn còn nguyên đó.
Trong đại hội lần thứ 10 của họ, với một số nhân sự
lãnh đạo mới trong cơ quan có quyền lực tuyệt đối, cũng
chỉ thay đổi bộ mặt chớ không thay đổi chính sách. Những
bằng chứng đầu tiên cho thấy họ càng cứng rắn với chính
sách bịt mắt bịt tai bịt miệng, bất cứ ai trên quê hương
bày tỏ quan tâm đến dân chủ tự do bị họ ghép vào luật
hình sự.
- Trên tuần báo
Saigon Weekly News ngày 31/10/2008 tại Houston, ông John Hendra, phối
trí viên của Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam cảnh báo rằng:
“Dù kinh tế Việt Nam phát triển trong những năm gần đây
nhưng nhiều nhóm dân vẫn trong tình trạng có thể bị thiếu
thực phẩm, nhất là những nhóm nông dân không có ruộng đất,
những nhóm dân nghèo tại các đô thị, và những nhóm dân
tộc thiểu số. Giữa lúc giá nhiên liệu và thực phẩm trên
thế giới giảm dần thì lạm phát tại Việt Nam vẫn còn
ở tỷ lệ 26.7% trong năm nay, khiến ngân sách gia đình của
giới nghèo túng càng thêm kiệt quệ. Trong hơn 10 năm qua, kinh
tế Việt Nam phát triển trung bình 7.5% giúp một số dân thoát
khỏi cảnh nghèo đói, nhưng tình trạng hiện nay làm cho giới
dân nghèo trở thành cơ cực đã tạo nhiều bất ổn trong
xã hội (Có lẽ nói đến tình trạng dân nghèo bị bóc lột
phải đi khiếu nại kêu oan. PBH). Việt Nam cần phải củng
cố các chương trình an sinh xã hội để giúp dân nghèo nhiều
rủi ro nhất”.
- Ngày 8/4/2006, bản
“Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006” do những nhà đấu tranh dân chủ
trong nước phổ biến tại Việt Nam và tại hải ngoại bằng
nhiều phương tiện khác nhau, mà phương tiện thông dụng nhất
là mạng lưới thông tin toàn cầu (NET). Bản Tuyên Ngôn này
có 118 chữ ký gồm những thành phần khác nhau trong xã hội,
và cư ngụ tại nhiều địa phương khác nhau từ Nam ra Bắc.
Chỉ một tháng sau -ngày 8/5/2006- số vị ký tên vào Bản Tuyên
Ngôn lên đến 424 người. Theo thông cáo của Khối 8406 tính
đến ngày 8/10/2006, số người ký tên ủng hộ lên đến 5.832
người (1.951 người trong nước, 3.881 người tị nạn tại
hải ngoại và chính khách quốc tế). Ngoài ra còn có 903 gia
đình nông dân trong nước, và nhiều tổ chức hải ngoại
ghi danh ủng hộ.
- Bản Tuyên Ngôn
Dân Chủ đòi hỏi một hệ thống chính trị đa nguyên đa
đảng, đòi hỏi tự do thông tin, tự do chính kiến, tự do
tôn giáo, tự do tham gia vào các công đoàn lao động độc
lập, tự do hội họp, tự do thành lập các hội đoàn, tự
do thành lập đảng chính trị, và tự do tham gia ứng cử.
Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ phổ biến ngày 8 tháng 4 năm 2006,
còn gọi là “Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006”, hay gọi ngắn gọn
là “Khối 8406”. Từ Khối 8406 này, dẫn đến những sự
kiện :
Phát hành bán nguyệt
san Tự Do Ngôn Luận từ ngày 15/4/2006.
Phát hành Đặc
san Tự Do Dân Chủ ngày 15/8/2006.
Thành lập Đảng
Thăng Tiến Việt Nam ngày 8/9/2006.
Ngày 10/9/2006, vận
động thành lập Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ, bao gồm các tổ
chức đấu tranh và các đảng chính trị, liên kết thành một
Liên Minh trực diện đấu tranh với đảng CSVN, giành lại
Tự Do Dân Chủ cho dân tộc. Đảng có 12 văn phòng đại diện
tại 8 quốc gia.
Phát hành Đặc
san Tổ Quốc ngày 15/9/2006.
Tháng 10/2006, thành
lập Liên Đoàn Công Nhân Độc Lập.
- Ông Nguyễn Tấn
Dũng thay ông Phan Văn Khải trong chức vụ Thủ Tướng, có
dư luận trong Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại nhất là trong
vài tổ chức chính trị, có vẻ như chờ đợi Nguyễn Tấn
Dũng trở thành một Gorbatchew của Việt Nam, trong khi các tổ
chức chính trị trong nước nhất là Khối 8406 không một đợi
chờ nào như vậy. Hành động ngay khi nắm quyền, tân Thủ
Tướng ra Nghị Định kiểm soát chặt chẻ hơn nữa các sinh
hoạt truyền thông, internet, kể cả quyết định tuyệt đối
cấm báo chí tư nhân. Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố dẹp tham
nhũng, nhưng chưa có sự kiện nào chứng minh bước đầu thực
hiện lời tuyên bố đó. Nếu ông ta thực sự quyết tâm đánh
tham nhũng, ông ta có cơ hội bị tham nhũng hạ bệ, thậm chí
có thể bị ám sát là đằng khác, vì tham nhũng là mục tiêu
của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam, trong đó có Nguyễn
Tấn Dũng và gia đình ông.
- Đợt đàn áp
tàn bạo. Nguyễn Tấn Dũng “thừa thắng xông lên” khi thế
giới đánh giá cộng sản Việt Nam (CSVN) tổ chức đại hội
APEC thành công, được gia nhập WTO, nhất là được Hoa Kỳ
bình thường hóa quan hệ thương mãi cùng lúc rút tên cộng
sản Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, liền thẳng tay đàn áp
các nhân vật đấu tranh ôn hòa cho nền dân chủ thật sự
trên toàn cõi Việt Nam. Điển hình là linh mục Nguyễn Văn
Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhận,
Lê Trí Tuệ, Nguyễn Phong, ..v..v… Với trò đê tiện của
lãnh đạo CSVN, ngày 16/3/2007, gọi kỹ sư Đỗ Nam Hải đến
trụ sở Công An Quận Phú Nhuận làm việc gần như trọn ngày.
Tại đây, có mặt các sĩ quan từ Bộ Công An Hà Nội vào
từ Sở Công An đến, gia tăng áp lực. Vẫn không thành công,
họ đã áp tải cha, chị, và con gái của anh Hải đến trụ
sở, dùng tình cảm gia đình tạo áp lực buộc kỹ sư Hải
phải ký giấy ngưng hoạt động chống đối đảng với nhà
nước cộng sản. Kỹ sư Phương Nam Đỗ Nam Hải đã nói
với họ: “Các anh hèn lắm”.
- Bản chất dối
trá vẫn nguyên vẹn. Ngày 5/9/2006, CSVN tuyên bố hủy bỏ Nghị
Định 31 về quản chế hành chánh (bắt giam tùy tiện) làm
cho nhiều người trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại
lẫn đồng bào trong nước tưởng như họ có bước tiến
về dân chủ pháp trị, nhưng theo luật sư Lê Thị Công Nhân,
hành động đó chẳng qua CSVN đem chôn một cái xác (NĐ 31)
đã chết từ lâu. Vì ngày 1/10/2002 CSVN đã ban hành Pháp Lệnh
“xử lý vi phạm hành chánh” chặt chẽ hơn Nghị Định
31 mà họ hủy bỏ. Trên nguyên tắc, Pháp Lệnh chỉ dưới
Hiến Pháp và Luật, tức cao hơn Nghị Định, mà trong Pháp
Lệnh này có đầy đủ những qui định trong NĐ 31. Chưa hết,
tiếp theo Pháp Lệnh năm 2002 xử lý vi phạm hành chánh là
Nghị Định 38/CP ngày 18/3/2005 về cấm tập họp đông người,
và Nghị Định 56/CP ngày 6/6/2006 về kiểm soát văn hóa &
thông tin, vừa chặt chẻ vừa tinh vi trong chính sách bịt mắt
bịt tai bịt miệng toàn dân toàn đảng của họ (trích bài
viết của luật sư Lê Thị Công Nhân ngày 11/11/2006 tại Hà
Nội).
- Vẫn là bản chất
dối trá. Trong năm 2007, theo Công Đoàn Lao Động quốc doanh
có đến 541 cuộc đình công với sự tham dự của khoảng
350.000 công nhân mà hầu hết không có giấy phép của nhà
nước nên bị xếp vào loại “đình công bất hợp pháp”.
Nhưng ngày 21/1/2008, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Nông Đức
Mạnh tuyên bố tại Quốc Hội của họ rằng: “Từ khi đảng
ra đời đến nay, đảng luôn luôn là đại biểu trung thành
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của
dân tộc, là đội tiên phong của giai cấp công nhân …”
Đến ngày 30/1/2008, Thủ Tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng
ký Nghị Định số 11 và 12, cấm đình công bất hợp pháp,
đồng thời giao tòa án xét xử buộc công nhân phải bồi
thường thiệt hại cho chủ trong các cuộc đình công đó.
Nói đảng cộng sản là đại biểu trung thành của giai cấp
công nhân, nhưng làm thì đàn áp công nhân để bảo vệ chủ
nhân. Đến ngày 16 & 17/6/2008, hội nghị “Đoàn Chủ Tịch
Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam” họp tại Hà Nội, ông
Mai Đức Chính, Phó Chủ Tịch tổ chức này cho biết từ đầu
năm 2008 đến nay (gần 6 tháng) đã có 330 cuộc đình công
và tất cả các cuộc đình công này đều phạm pháp.
- Ngày 27/8/2007 tại
Tổng Cục Chính Trị CSVN Hà Nội, Nguyễn Minh Triết, Chủ
Tịch nước CHXHCN Việt Nam tuyên bố rằng: “... Tôi khằng
định trước sau như một là chúng ta vẫn tiến lên chủ nghĩa
xã hội, chúng ta phải xây dựng đảng của chúng ta. Dù ai
nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 Hiến Pháp
thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng
ta tuyên bố tự sát, cho nên phải củng cố công tác tư tưởng,
củng cố vai trò của đảng”. (trích bản tổng hợp 220
sự kiện về nhân quyền và chính trị tại Việt Nam năm 2007).
Độc tài chuyên chính như vậy mà gọi là cấp tiến sao? Và
chỉ riêng lời phát biểu ngắn ngủi trên đây của ông Triết,
tôi nhận ra 4 điều: (1) NMT thừa nhận chế độ độc
tài CSVN không được người dân ủng hộ, nên phải ra lệnh
củng cố quyền lực của đảng để tiếp tục đàn áp dân
trong khi vẫn khẳng định điều gọi là tiến lên chủ nghĩa
xã hội. (2) Bỏ điều 4 trong Hiến Pháp là chế độ
độc tài tan rã đến mức đảng viên trong Bộ Chính Trị
phải tự sát, vì nếu không thì NMT và các đảng viên lãnh
đạo khác không thể yên thân bởi khối dân oan hằng triệu
hằng triệu người mà chế độ độc tài đã đẩy họ vào
thảm cảnh đó. (3) Chứng tỏ các đảng viên trung ương
đảng CSVN gồm cả Bộ Chính Trị sợ mất quyền lực quyền
lợi chớ không hề nói đến trách nhiệm của cấp lãnh đạo
với dân với nước. (4) NMT hoàn toàn là một đảng
viên cộng sản cực đoan ở hàng lãnh đạo độc tài chuyên
chính.
- Theo bảng xếp
hạng về “tự do báo chí” của Worldwide Press Freedom Index
2008 thì các quốc gia cộng sản cùng trong nhóm cuối bảng
tổng xếp hạng: Trung Hoa 167/173, Việt Nam 168/173, Cuba 168/173,
và Bắc Hàn 172/173.
- Rõ ràng “cộng
sản độc tài vẫn là cộng sản độc tài”, họ chỉ phục
vụ bản thân họ dưới tên gọi đảng cộng sản Việt Nam.
Khẳng định rằng, đã là cộng sản thì không có người
cộng sản tử tế, chính sách giáo dục của họ chỉ đào
tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, cho nên
hơn nửa thế kỷ qua Việt Nam không có những công dân tử
tế để xây dựng một xã hội tử tế trong mục đích phục
vụ nguyện vọng người dân.
b. Sự kiện quốc
tế.
- Bản đồ lộ
trình dân chủ hóa Việt Nam. Trong “lộ trình dân chủ hóa
Việt Nam” Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ soạn thảo
và tổ chức hội luận hồi tháng 4 năm 2001. Phần mở đầu
có ghi rằng: “Việc chuyển đổi chế độ độc tài sang
dân chủ tự do tại Việt Nam, trước sau gì cũng phải xảy
ra”. Trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ năm 2007,
bang giao với Việt Nam được nâng lên ưu tiên cao một chút
về mặt chiến lược so với những năm trước đó. Từ giữa
năm 2006 đến giữa năm 2008, đã có những phái đoàn quân
sự cộng sản Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ và ngược lại. Sự
kiện này nằm trong dự liệu của bản đồ lộ trình nói
trên.
- Vi phạm nhân
quyền.
Ngày 1/12/2005, tại
trụ sở Quốc Hội Âu Châu ở Brussels, 730 Dân Biểu của 25
quốc gia khu vực Đông Âu, Tây Âu, và Bắc Âu, bao gồm nhiều
đảng phái chính trị với những khuynh hướng khác nhau, đã
đồng thuận khi biểu quyết một Nghị Quyết, đòi lãnh đạo
CSVN phải thực hiện không chậm trễ, việc trả tự do cho
các nhân vật bất đồng chính kiến, đặc biệt là đòi Việt
Nam phải tổ chức bầu cử tự do trên căn bản đa đảng.
Đồng thời, thực hiện quyền tự do báo chí.
Ông Ian Pearson, Bộ
Trưởng Thương Mại & Đặc Trách Nhân Quyền Bộ Ngoại
Giao Anh quốc, đang là Chủ Tịch luân phiên của Liên Hiệp
Âu Châu, phát biểu sau khi Nghị Quyết được thông qua: “Tôi
chào mừng sự quan tâm của Quốc Hội Âu Châu trên vấn đề
hôm nay. Đặc biệt là cuộc điều trần quan trọng ngày 12
tháng 9 năm 2005 dẫn đến Nghị Quyết này. Tôi biết rất
rõ về tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng tại ba
nước Việt Nam, Cam Bốt, và Lào. Ví dụ như tại Bộ Ngoại
Giao, trong năm nay đã nhận được 100 thư khiếu nại của
các Dân Biểu Anh quốc về những vụ vi phạm nhân quyền tại
Việt Nam. Tôi mừng rằng, sau cuộc điều trần nói trên, nhà
cầm quyền Việt Nam đã để cho Liên Âu gặp thăm Hòa Thượng
Thích Quảng Độ. Tôi sẽ nêu vấn đề này và đưa ra một
danh sách tù nhân phải được trả tự do, trong cuộc gặp
gỡ và đối thoại về nhân quyền với phái đoàn nhà cầm
quyền Việt Nam vào ngày 12 tháng 12 sắp tới (2005)”.
- Ngăn chận phái
đoàn ngoại quốc.
Ngày 15/3/2007, phái
đoàn Nhân Quyền Na Uy có tên là “Rafto Foundation for Human Rights”
do Cô Therese Jebsen hướng dẫn sang Việt Nam, với mục đích
thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ và trao giải thưởng Nhân
Quyền mà Ngài được tổ chức này quyết định trao tặng
hồi tháng 11/2006. Cùng đi, còn có ông Tom Rune Orset, thông tín
viên đài truyền hình TV2 của Na Uy, và cô Kiều Trần với
trách nhiệm thông dịch. Công An đã ngăn chận, chẳng những
không cho phái đoàn vào Thanh Minh Thiền Viện, mà còn đưa
phái đoàn về trụ sở Công An “làm việc” mấy tiếng đồng
hồ. Sau đó, Công An gọi cô Kiều Trần đến trụ sở làm
việc, nhưng Cô Trưởng phái đoàn không đồng ý vì Cô nghi
ngờ họ hành động gian trá đối với cô Kiều Trần.
- Tội ác kinh
hoàng của cộng sản Việt Nam .
Sự kiện ông Phạm
Văn Đồng ký văn kiện ngày 14/9/1958 có giá trị pháp lý quốc
tế hay không, xin hãy để sang một bên. Ở đây tôi nhấn
mạnh đến chữ ký của ông Thủ Tướng công nhận quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trở thành lãnh thổ của
nước Trung Hoa, là hành động chư hầu của nhóm lãnh đạo
VNCS đối với THCS chẳng khác thời phong kiến xa xưa trong
lịch sử! Với văn kiện này không thể do ông Thủ Tướng
họ Phạm quyết định mà phải là lệnh của Bộ Chính Trị
do ông Hồ lãnh đạo. Nói cách khác, ông Phạm ký văn kiện
trao hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa cho THCS là theo lệnh
ông Hồ.
Sự kiện ông Lê
Khả Phiêu có noi gương “bác Hồ” của ông ta về lăng nhăng
tình ái với cô gái Trung Hoa Cheng Mei Wang hay không, xin hãy
để sang một bên. Ở đây tôi nhấn mạnh đến chữ ký của
ông Tổng Bí Thư đảng CSVN trên Hiệp Ước ngày 30/12/1999
dâng 789 cây số vuông dọc biên giới để trừ nợ mua vũ
khí đạn dược sử dụng trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam
Cộng Hòa 1955-1975, là hành động cắt đất bán cho THCS!
Sự kiện ông Trần
Đức Lương viện dẫn lý do thăm viếng thiện chí Bắc Kinh
gặp Giang Trạch Dân để ký Hiệp Ước ngày 25/12/2000 với
nội dung dâng 11.362 cây số vuông trên vịnh Bắc Việt cho
THCS, là hành động cắt biển bán cho THCS để lấy 2.000.000.000
mỹ kim, mà theo lời ông Lương để “vuốt ve” sức phản
kháng của ông Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, và những người
khác trong Quốc Hội. Phải viện dẫn lý do thăm viếng, vì
sau khi những tin tức loan truyền khá rộng rãi tại Hà Nội,
loan dần vào miền Nam về Hiệp Ước ngày 31/12/1999 bán đất
cho THCS và đã âm thầm đưa Hiệp Ước ra Quốc Hội phê chuẩn
ngày 9/6/2000. Với hành động không công khai minh bạch, chứng
tỏ lãnh đạo VNCS biết những hành động đó là hành động
tội ác nên phải che giấu người dân dưới quyền. Biết
vậy mà vẫn hành động, chính xác là lãnh đạo VNCS đặt
quyền lợi đảng cộng sản Việt Nam lên trên quyền lợi
tổ quốc quyền lợi dân tộc, vì quyền lợi của đảng đồng
nghĩa với quyền lợi riêng tư của nhóm lãnh đạo hơn 100
đảng viên trong ban chấp hành trung ương của họ.
Vậy là, ngoài nhóm
4 tên lãnh đạo với tội ác nói trên đã bán đất bán biển
cho THCS, thêm nhóm lãnh đạo với tội ác thỏa hiệp cho THCS
sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào quận Tam Sa
tỉnh Hải Nam hồi đầu tháng 12/2007. Rồi tội thêm tội khi
họ sử dụng “hung thần” Công An ngăn chận thanh niên sinh
viên học sinh biểu tình ngày 9 & 16/12/2007 phản đối THCS
chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam. Chưa hết, lại
tội thêm tội khi các thành phần phẫn uất hành động của
THCS lẫn phản ứng của VNCS chuẩn bị mít tinh biểu tình
trước tòa đại sứ THCS vào ngày 14/9/2008, phản đối chúng
trưng dẫn văn kiện của Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày
này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại
Hà Nội cũng như tại các địa phương, ra sức ngăn chận
bắt giữ thẩm vấn những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh
biểu tình. Nhóm lãnh đạo tội ác này là Nguyễn Minh Triết
trong chức Chủ Tịch nước và Nguyễn Tấn Dũng trong chức
Thủ Tướng.
Với những hành
động gian trá giấu diếm khi ký ba văn kiện ngày 14/9/1958,
ngày 30/12/1999, ngày 25/12/2000, cộng với những hành động
gian trá của Quốc Hội khi phê chuẩn hai Hiệp Ước nói trên,
cộng thêm sự thỏa hiệp để THCS thành lập quận Tam Sa bao
gồm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, lại còn sử dụng Công
An đàn áp những ai thể hiện ý thức chính trị ôn hòa qua
hành động mít tinh biểu tình phản đối hành động của
THCS lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, đích danh Hồ Chí Minh,
Phạm Văn Đồng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức
Lương, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, là những tên
bán đất bán biển cho THCS, một quốc gia với chiến lược
trường kỳ xâm chiếm Việt Nam chúng ta! Chỉ riêng cái tội
kinh hoàng này mà dân gian gọi là “trời không dung đất không
tha”, đã quá đủ để đưa những tên này ra tòa án quốc
gia phán xét, và lưu mãi trong sử sách truyền mãi trong dân
gian cho đến ngàn năm sau như những tên bán nước từ ngàn
năm trước. Và người đời không bao giờ gọi kẻ bán nước
bằng ông hay bất cứ cách gọi nào khác dành cho người tử
tế.
Trong quyển “Death
by Government” giáo sư R.J. Rummel viết như sau: “Dưới
lớp võ Việt Minh chống Pháp, cùng lúc họ thực hiện cuộc
chiến tranh tàn sát những người quốc gia không cùng đường
lối với họ. Chưa hết, họ cũng tiêu diệt những người
cùng trong hàng ngũ khi họ xem những người cộng sản đó
chệch hướng”.
Riêng nạn nhân
trong chính sách cải cách ruộng đất, theo nhật báo “Nhân
Dân” của CSVN ngày 20/7/1955, sau 6 đợt cải cách ruộng đất
có 10.303.004 nạn nhân. Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt
Nam 1945-2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà
Nội năm 2004, số người bị đấu tố lên đến 172.008 người,
và sau giai đoạn sửa sai xác định trong tổng số đó có
đến 132.266 người bị oan. (trích bài “Con Số 100 Triệu
Nạn Nhân” của ông Tú Gàn ngày 25/6/2007)
c. Sự chống
đối từ Cộng Đồng tị nạn.
Từ năm 1995 đến
nay, bất cứ nhân vật lãnh đạo cao cấp cộng sản Việt
Nam sang thăm Hoa Kỳ, đáng kể là chuyến sang Hoa Kỳ của Thủ
Tướng Phan Văn Khải hồi tháng 6/2005, của Chủ Tịch Nguyễn
Minh Triết hồi tháng 6/2007, sau đó là Thủ Tướng Nguyễn
Tấn Dũng hồi tháng 6/2008, mỗi khi đặt chân đến nơi nào
cũng bị Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản chống đối
dữ dội giữa rừng quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ.
Tháng 3/2007, phái
đoàn Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao CSVN Phạm
Gia Khiêm đến Hoa Kỳ, đã bị hai “cái tát” khá đau: Thứ
nhất, bị Nữ Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, sau đó là các phóng
viên trong buổi họp báo, đã chất vấn về những hành động
vi phạm nhân quyền mới đây tại Việt Nam. Thứ hai, bị Cộng
Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản biểu tình trong khuôn viên
Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 15/3/2007, phản đối mọi hành động
gian trá đê tiện của lãnh đạo Việt Nam đối với những
nhà tranh đấu ôn hòa trong nước, đồng thời đòi thực thi
dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam mà Hiến Pháp
của họ thừa nhận, và Công Ước quốc tế cũng thừa nhận
mà họ là thành viên phải thực thi.
Cái tác hại đối
với lãnh đạo CSVN còn sâu xa hơn, là họ rất đau mỗi khi
đến bất cứ quốc gia nào đùm bọc người Việt Nam tị
nạn cộng sản, họ đều bị chống đối quyết liệt trong
khi cả Bộ Chính Trị của họ rất thèm muốn khối chuyên
gia khoa học kỹ thuật và khối tài chánh kếch sù cùng với
tiềm năng dồi dào của Cộng Đồng này. Cái đau đó càng
làm cho họ nhục nhã khi họ nhìn sang các Cộng Đồng Đại
Hàn, Do Thái, Phi Luật Tân, ngay cả cộng đồng Nga, đã đón
tiếp nồng nhiệt mỗi khi lãnh đạo của họ từ quốc gia
gốc đến thăm, vì lãnh đạo của họ do dân bầu trong các
cuộc bầu cử tự do, đồng bào của họ tại quê nhà được
hưởng dân chủ tự do, và nhân quyền được tôn trọng. Trong
khi bản thân họ cũng mang danh lãnh đạo nhưng chỉ do một
nhóm người cộng sản bầu với nhau, còn “đại biểu dân”
tại Quốc Hội do họ chọn trước dân bầu sau. Những cơ
cấu đó chỉ là hình thức che đậy độc tài mà người dân
trên toàn cõi Việt Nam bị tước đoạt quyền làm người,
bị bịt mắt bịt tai bịt miệng đến mức bất cứ ai bày
tỏ ý thức chính trị của mình cũng đều bị ghép vào tội
hình sự và vào tù.
d. Sinh hoạt trong
Cộng Đồng tị nạn.
- Với quốc sách
ngang qua Nghị Quyết 36 mà lãnh đạo CSVN ban hành tháng 3 năm
2004, cho thấy họ đã và đang tung thêm tài lực để sử dụng
những tên tay sai của họ tại hải ngoại, trong mục đích
liên tục tấn công bằng cách đẩy mạnh công tác đánh phá
các tổ chức trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại dưới
những hình thức khác nhau, đặc biệt là các tổ chức mà
họ cho là có thực lực đấu tranh về một hay nhiều lãnh
vực nào đó. Rất nhiều tổ chức trong Cộng Đồng bị chia
ra hai hay ba nhóm bắt nguồn từ những sự kiện khác nhau,
nhưng tựu trung không loại trừ giả thuyết bắt nguồn từ
quốc sách đó của CSVN. Tổng Hội Thủ Đức chúng ta bị
phân hóa chính xác là từ tay chân của CSVN ngang qua một số
e-mail trưng dẫn trong Đại Hội Bất Thường tháng 2 năm 2005
tại Houston, Texas. Tổng Hội trong nhiệm kỳ 2006-2008 đang cố
gắng thống nhất lại và tin tưởng thành công trong Đại
Hội Kỳ 6 tới đây dự trù tại một thành phố ở miền
Nam hoặc miền Tây Hoa Kỳ vào năm 2009.
- Ủy Ban Thường
Trực/Tổng Hội đã có bài phân tách Nghị Quyết 36 của CSVN
và ước tính những sự kiện có thể xảy ra trong Cộng Đồng.
Bài này dài 27 trang có đăng trong trang Web của Tổng Hội www.tonghoithuduchaingoai.com.
Do sự phân hóa
trong Cộng Đồng tị nạn hải ngoại mà ngay trước và trong
khi chế độ độc tài trong nước sụp đổ, sinh hoạt trong
Cộng Đồng sẽ rất rộn rịp, nhất là với các tổ chức
chính trị, tổ chức đấu tranh. Và từ trong sự rộn rịp
này, thể nào cũng phát sinh những va chạm trong nội bộ các
tổ chức, và giữa các tổ chức với nhau. Nguyên nhân va chạm
có thể có nhiều, nhưng nguyên nhân chính, nhìn theo một cách
nào đó vẫn là quyền lợi chính trị dù còn ngoài tầm tay.
Tổng Hội Cựu
Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại, tin tưởng
nhu cầu tổ chức và quản trị xã hội ngày mai trong mục
tiêu phục vụ nguyện vọng người dân, có những cá nhân
cũng như những bộ phận tham mưu chiến lược trong các tổ
chức đấu tranh, đã và đang chuẩn bị “sách lược xây
dựng và phát triển quốc gia”. Nhưng thiết nghĩ, cho dù Chánh
Phủ lâm thời có chuẩn bị chu đáo đến mấy đi nữa, vẫn
còn nhiều khiếm khuyết khi nhìn từ nhiều phía, và sự đóng
góp quan điểm từ nhiều tổ chức cũng như từ những cá
nhân, sẽ giúp rất nhiều cho thời kỳ tiếp sau trong công
tác tham mưu. Nhớ lại cuối tháng 4/1975, khi cộng sản chiếm
VNCH chúng ta, họ có sẳn bộ máy cai trị theo khuôn mẫu độc
tài chuyên chính trên lãnh thổ nước VNDCCH, họ chỉ nong
rộng ra và đưa vào Nam điều hành nên ít trở ngại.
Trường hợp Chánh
Phủ lâm thời tới đây, cho dù những vị lãnh đạo thuộc
thành phần nào đi nữa, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó
khăn trở ngại, vì xã hội đang điều hành bởi bộ máy độc
tài với nền kinh tế mà họ gọi là “kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, bỗng chốc chuyển
sang bộ máy dân chủ tự do với nền kinh tế thị trường
đúng nghĩa. Nhưng nếu công tác tham mưu cung ứng được những
chuẩn bị cho dù chưa chu đáo, Chánh Phủ lâm thời sẽ giảm
bớt được những khó khăn đáng kể. Cũng cần nhớ đến
xứ Afghanistan và Iraq, vì không chuẩn bị trước nên rơi vào
tình trạng các quốc gia viện trợ chọn sẳn mọi chính sách
cho họ, kể cả chọn giùm nhân vật lãnh đạo
e. Giả thuyết.
Chế độ độc
tài Việt Nam sẽ sụp đổ:
Hoặc sụp đổ
do chuyển đổi từng bước theo “diễn biến hòa bình”.
Trường hợp này tuy chậm nhưng không đổ máu hoặc ít đổ
máu, xã hội cũng không đảo lộn nhiều. Giả thuyết này
ít khả năng xảy ra, vì cho đến tháng 8/2008 nhóm lãnh đạo
CSVN chưa tỏ dấu hiệu nào họ sẽ từ bỏ chế độ độc
tài, mà ngược lại họ càng cứng rắn hơn nữa về chính
sách đàn áp bất cứ ai bày tỏ ý thức chính trị khác với
chế độ độc tài của họ.
Hoặc sụp đổ
do “bạo loạn”, máu sẽ đổ và sinh hoạt xã hội rất
nhiều bất trắc trong một thời gian nhất định, lúc ấy
chánh phủ lâm thời sẽ rất khó kiểm soát. Giả thuyết này
nhiều khả năng xảy ra.
Chánh phủ lâm thời
trong thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế
độ dân chủ tự do, đại đa số là những nhân vật trong
nước đã và đang dấn thân đấu tranh trực diện với cộng
sản, với hỗ trợ tích cực của Cộng Đồng Việt Nam tị
nạn tại hải ngoại, và sự hỗ trợ từ các quốc gia phát
triển, nhất là Hoa Kỳ và Nhật Bản.
2. NHIỆM VỤ.
Với tư cách những
Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tại hải ngoại,
và tư cách công dân quê hương Việt Nam cội nguồn, Tổng
Hội Thủ Đức Hải Ngoại muốn được đóng góp “quan niệm
sách lược quốc gia” với quí vị lãnh đạo lâm thời trong
thời kỳ chuyến tiếp từ chế độ cộng sản độc tài sang
chế độ dân chủ tự do, góp phần khôi phục và xây dựng
quê hương Việt Nam phát triển, mọi người được sống trong
một xã hội dân chủ pháp trị với đầy đủ quyền lợi
và nghĩa vụ của mỗi công dân. Sự đóng góp nhỏ nhoi này
thể hiện sự nối tiếp trách nhiệm chưa tròn của người
Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức đối với quốc gia dân tộc từ
sau ngày 30/4/1975.
3. QUAN NIỆM.
a. Quan niệm công
tác.
- Tham mưu, là một
chuỗi công tác: Từ thu thập dữ kiện, nghiên cứu, phân tách,
đánh giá, sử dụng làm nền cho phác thảo những kế hoạch,
rồi tiếp tục thu thập dữ kiện mới nhất để nhật tu
phác thảo. Và cứ như thế.... Thu thập dữ kiện từ thân
nhân thân hữu về Việt Nam, thư tín cá nhân, hội luận, báo
chí, đài phát thanh phát hình, nhất là trên hệ thống internet
có vô số dữ kiện từ các website của chánh phủ cũng như
của những tổ chức không chánh phủ, và những cá nhân..v..v.. Chuỗi
công tác tham mưu được quan niệm thực hiện qua từng Bước
Tham Mưu:
Bước 1. Nghiên
cứu tìm hiểu “nguyện vọng người dân”, cũng là
mục tiêu quốc gia. Phụ bản A phác thảo xong.
Bước 2. Từ nguyện
vọng người dân, xây dựng một “sách lược quốc gia”
với những chính sách chiến lược của từng ngành để thực
hiện mục tiêu quốc gia. Phụ bản B, C, và D, phác thảo xong.
Bước 3. Từ chính
sách căn bản từng ngành, xây dựng “những quan niệm
căn bản” cho từng mục tiêu của ngành. Phụ bản
E phác thảo xong.
Bước 4. Từ những
quan niệm căn bản của từng mục tiêu, phác thảo “những
kế hoạch khung” (4-1 đang phác thảo) giúp thuận lợi soạn
thảo “những kế hoạch thực hiện” (4-2 sẽ soạn
thảo).
Bước 5. Những
kế hoạch phác thảo xong, phải “thường xuyên nhật
tu” đến khi chế độ độc tài trên quê hương
sụp đổ, lúc ấy hoàn chỉnh cuối cùng và cơ cấu Tổng
Hội Thủ Đức Hải Ngoại đương nhiệm sẽ nhân danh đại
gia đình Cựu SVSQTB Thủ Đức Hải Ngoại đóng góp với Chánh
Phủ Lâm Thời nếu chánh phủ này thật sự quyết tâm xây
dựng chế độ dân chủ tự do.
b. Quan niệm tổ
chức.
Tiến đến tổ
chức một Ban Phối Hợp Tham Mưu và những Nhóm Tham Mưu cho
từng chính sách, hoặc hai hay ba chính sách, tùy theo tình hình
nhân sự và khả năng. Ban Phối Hợp Tham Mưu có trách nhiệm:
Soạn thảo và phổ
biến “Kế Hoạch Công Tác” bao gồm tổ chức và phương
thức điều hành Ban Phối Hợp Tham Mưu, và phương thức điều
hành giữa Ban Phối Hợp Tham Mưu với các Nhóm Tham Mưu.
Từng bước thành
lập các Nhóm Tham Mưu tại Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu.
Nghiên cứu và hoàn
chỉnh phác thảo “Quan niệm sách lược” này
từ Bước 1 đến Bước 3, để hướng dẫn các Nhóm Tham Mưu
nghiên cứu soạn thảo các kế hoạch của Bước 4.
Mỗi kế hoạch
soạn thảo xong, chuyển đến Ban Phối Hợp Tham Mưu. Ban này
trách nhiệm chuyến đến tổ chức hay cá nhân đồng môn phụ
trách kế hoạch có liên quan để tham khảo cần thiết. Trường
hợp thuận tiện, Ban Phối Hợp Tham Mưu sẽ tổ chức họp
mặt ở địa điểm thích hợp nhất để thảo luận trực
tiếp và hoàn chỉnh bản thảo. Xong, “bản chánh” hoàn lại
tổ chức hay cá nhân phụ trách bản thảo đó và “bản phó”
lưu tại Ban Phối Hợp Tham Mưu.
c. Quan niệm nhân
sự.
Nhân sự, bao gồm các
đồng môn Thủ Đức, Tuổi Trẻ Hậu Duệ trong & ngoài
đại gia đình Thủ Đức, quí đồng đội, và quí vị nhân
sĩ do Nhóm Tham Mưu giới thiệu và Ban Phối Hợp Tham Mưu chấp
nhận (điều này có mục đích ngăn chận cộng sản và tay
sai của cộng sản). Thành viên trong các cơ cấu tham mưu, có
thể ở khắp nơi tại hải ngoại và có sử dụng internet
cá nhân.
Trong mọi trường
hợp, tuyệt đối không một tay chân nào của CSVN cũng như
của những tổ chức nào mà hoạt động của họ có lợi
cho CSVN có mặt trong hệ thống tổ chức tham mưu chiến lược
này.
Trưởng Ban Phối
Hợp Tham Mưu cũng như Trưởng Nhóm Tham Mưu do bầu cử trực
tiếp hoặc qua e-mail. Trưởng Nhóm Tham Mưu do thành viên trong
mỗi Nhóm bầu. Trưởng Ban Phối Hợp Tham Mưu do các Trưởng
Nhóm Tham Mưu bầu.
d. Quan niệm quản
trị.
Các kế hoạch phác
thảo hoàn chỉnh, không phổ biến cho bất cứ cá nhân hay
tổ chức nào ngoài tổ chức nhất là các cơ quan truyền thông,
vì đây là tài sản của tập thể Thủ Đức và những cá
nhân cộng tác. Khi cộng sản độc tài Việt Nam sụp đổ
và một Chánh Phủ lâm thời lên cầm quyền thật sự xây
dựng chế độ dân chủ tự do, một phái đoàn do Đại Hội
thường kỳ hoặc bất thường cử đi trao tận tay cho Chánh
Phủ lâm thời đó. Vì vậy mà mỗi 2 năm Đại Hội Hải Ngoại
sẽ quyết định về phương thức quản trị công tác và hồ
sơ tham mưu này thích hợp với hoàn cảnh lúc ấy.
e. Quan niệm điều
hành.
Do Ban Phối Hợp
Tham Mưu soạn thảo phương thức điều hành và hướng dẫn
thực hiện.
4. PHƯƠNG TIỆN.
Trong công tác nghiên
cứu tham mưu này, chúng ta “những người tự mình nhận trách
nhiệm” không được cung cấp bất cứ phương tiện gì.
Chúng ta đến với
nhau do tinh thần trách nhiệm chưa tròn, và cùng góp ý kiến
thể hiện một quan niệm góp phần xây dựng nước Việt Nam
dân chủ tự do thời hậu cộng sản. Đây cũng là cách chúng
ta nối tiếp trách nhiệm còn dang dở. Do vậy, mỗi cá nhân
hay mỗi tổ chức nhận trách nhiệm tham mưu này đều tự
túc mọi nhu cầu, từ chi phí điện thoại đường dài, cước
phí bưu điện, đến tiền giấy mực bút viết, chi phí sử
dụng internet, những chi phí linh tinh khác, thậm chí đến chi
phí di chuyển đường dài để dự họp liên quan đến công
tác tham mưu này nữa.
5. LIÊN LẠC &
PHỐI HỢP.
a. Liên lạc.
Ban Phối Hợp Tham
Mưu nghiên cứu mở một group e-mail chung để liên lạc. Bất
cứ những liên lạc trao đổi dữ kiện nào liên quan đến
công tác nghiên cứu tham mưu, tất cả thành viên đều biết,
để có thể góp ý cần thiết dù không thuộc phạm vi nghiên
cứu của Nhóm.
b. Phối hợp.
Khi Ban Phối Hợp
Tham Mưu thành lập, Ban này trách nhiệm phối hợp các Nhóm
Tham Mưu trong công tác nghiên cứu và soạn thảo các kế hoạch
trong phương thức điều hành. Trong khi chờ đợi, Ủy Ban Thường
Trực nhiệm kỳ 2006-2008 trách nhiệm nghiên cứu phác thảo.
Houston, ngày 19 tháng
3 năm 2007
Nhật tu ngày 2
tháng 11 năm 2008.
Chủ Tịch
ủy Ban Thường Trực
Alpha Phạm Bá Hoa (khóa
5)
Các phụ bản:
Phụ bản A. Phác thảo
gợi ý tìm hiểu nguyện vọng người dân (Bước 1).
Phụ bản B. Phác thảo
gợi ý thành phần chánh phủ lâm thời (Bước 2).
Phụ bản C. Phác thảo
gợi ý một sách lược quốc gia (Bước 2).
Phụ bản D. Phác thảo
gợi ý bản Thông Điệp đầu tiên (Bước 2).
Phụ bản E. Phác thảo
gợi ý những quan niệm căn bản từng ngành (Bước 3).
Phổ
biến các kế hoạch khung: Tổ
Chức Quân Đội, Tổ Chức hành Chánh, Tổ Chức Giáo Dục,
Tổ Chức Cảnh Sát, Hoàn Trả Tài Sản.
Phụ
bản A
Tìm
hiểu nguyện Vọng Người Dân
Đây là tham mưu Bước
1, tìm hiểu nguyện vọng người dân.
1. MỤC ĐÍCH.
Muốn phục vụ người
dân, bất luận nhóm lãnh đạo quốc gia ngay sau khi chế độ
độc tài sụp đổ là những vị nào, nhất thiết phải tìm
hiểu “Nguyện Vọng Người Dân”, vì đó chính là “Mục
Tiêu Quốc Gia” mà nhóm lãnh đạo có trách nhiệm thực
hiện. Vậy, “Nguyện Vọng Người Dân” trong thời kỳ hậu
cộng sản là gì? Lẽ ra phải thông qua cuộc trưng cầu dân
ý, nhưng vì tình hình sau khi chế độ độc tài sụp đổ
không thể thực hiện ngay được, nên nhóm tham mưu cần nghiên
cứu tìm hiểu nguyện vọng người dân để từ đó đưa ra
bản Hiến Ước lâm thời, trong khi chờ đợi bầu Quốc Hội
Lập Hiến soạn thảo Hiến Pháp và trưng cầu dân ý.
2. NHẬN ĐỊNH.
Căn cứ vào những giai
đoạn lịch sử của đất nước từ nửa cuối thế kỷ 19
đến nay, rút ra nhận định như là một gợi ý về tìm hiểu
nguyện vọng người dân.
Giai đoạn từ nửa cuối
thế kỷ 19 đến mùa thu 1945, dân tộc ta bị thực dân Pháp
cai trị. Khi thiết lập hệ thống giáo dục tại nước Việt
Nam thuộc địa, như bất cứ chánh phủ thực dân nào khác,
chánh phủ Pháp không hề có mục đích đào tạo lớp người
có tư tưởng chính trị để chống đối họ, dù rằng có
một số thanh niên đáng kể học hết bậc đại học tại
Việt Nam hoặc du học trên đất Pháp. Chính sách giáo dục
học đường cũng như giáo dục xã hội, chỉ nhằm trang bị
cho mọi người một tư tưởng chấp nhận sự cai trị của
nước Pháp, chấp nhận một quốc gia từ Âu Châu mang nền
văn minh đến khai phóng Việt Nam! Do vậy mà đại đa số người
Việt chúng ta thời ấy, ý thức chính trị chưa đủ để
hiểu được sự nhục nhã của người dân bị trị!
Giai đoạn từ mùa
hè 1954 đến cuối mùa xuân 1975. Trên phần lãnh thổ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) dưới sự cai trị của
cộng sản độc tài, những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt
Nam (CSVN) đã có một hệ thống giáo dục từ mẫu giáo đến
đại học. Nhưng chính sách giáo dục học đường cũng như
giáo dục xã hội chỉ là giáo dục một chiều, nhằm đào
tạo những thế hệ thần dân để vâng lời đảng cộng sản.
Chính sách giáo dục buộc mọi người phải tôn vinh ông
Hồ chí Minh, tôn vinh đảng CSVN, một tư tưởng chỉ biết
chấp nhận chế độ chính trị do đảng cộng sản chọn sẳn,
và chọn một lần cho mãi mãi. Người dân phải chấp nhận
tư tưởng chỉ có đảng cộng sản mới đủ tài lãnh đạo,
như thể nếu không có đảng CSVN thì nước Việt Nam này chìm
mất dưới đáy biển sâu vậy. Do đó mà đa số người dân
nước VNDCCH, không hề biết mình bị bịt mắt, bịt tai, bịt
miệng, đến mức nhận thức chính trị của người dân dưới
chế độ cộng sản còn tệ hơn thời bị thực dân Pháp cai
trị, vì bị những nhóm lãnh đạo CSVN lợi dụng tinh thần
quốc gia dân tộc của đồng bào để phung phí mạng sống
của đồng bào trong chiến tranh một cách thê thảm! Tất cả
chỉ vì đảng của họ.
Cũng trong giai đoạn
đó, trên phần lãnh thổ nước Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) dưới
chế độ dân chủ tự do. Tuy có những hạn chế nhất định,
một phần vì trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc mà kẻ địch
là cùng chủng tộc, nên không phải dễ dàng nhận ra kẻ địch
xâm nhập trong hàng ngũ ta, và phần khác vì dân chủ tự do
là chế độ mới mẽ đối với quốc gia non trẻ Việt Nam
mà những vị lãnh đạo chưa đủ căn bản lý thuyết, nhưng
rõ ràng là cuộc sống người dân nước VNCH hạnh phúc hơn
người dân thời bị thực dân cai trị, và hạnh phúc tuyệt
vời so với người dân sống trong xã hội chủ nghĩa của
nước VNDCCH.
Cái xã hội chủ nghĩa
đó được bà Dương Thu Hương, nhà văn chuyên nghiệp của
CSVN, sau những năm đảng của bà cai trị toàn cõi nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), bà mới nhận ra
được cốt lõi của cái chủ nghĩa mà bà đã tham gia từ
năm 17 tuổi. Là nhà văn, ngòi bút của bà đã bày tỏ nỗi
thất vọng chán chường về cái xã hội mà bà đã sống và
chiến đấu hơn 20 năm, rằng: “Xã hội chủ nghĩa, là mô
hình man rợ và u ám nhất của thời đại. Cái xã hội mà
đa số những người đã tham gia xây dựng nó, cuối cùng không
muốn có nó, ngoại trừ nhóm lãnh đạo đặc quyền đặc
lợi”.
Đến nay, sau 33 năm cai
trị nước CHXHCNVN, 86 triệu dân với đời sống vật chất
có khá hơn so với thời làm dân nước VNDCCH, nhưng vẫn chưa
hơn đời sống vật chất của người dân nước VNCH trước
đây bao nhiêu, mà lẽ ra phải phát triển hơn hiện tại nhiều
bước nữa vì không có chiến tranh. Điều nhấn mạnh ở
đây là mức sống cách biệt quá xa giữa người dân thành
thị khoảng 25% với người dân nông thôn khoảng 75%. Thêm
nữa, quyền chính trị của người dân bị CSVN bóp nghiệt
hoàn toàn, mà nguyên nhân duy nhất vì chế độ độc tài nên
lúc nào đảng với nhà nước cộng sản cũng sợ người dân
nổi dậy lật đổ họ.
Do trải qua những giai
đoạn lịch sử bị kềm kẹp những quyền tự do căn bản
của con người trong 80 năm bị thực dân Pháp cai trị, nối
tiếp đến nay đã 33 năm bị cộng sản độc tài hoàn toàn
bóp nghiệt mọi quyền căn bản của người dân, nên nguyện
vọng người dân thời hậu cộng sản, suy nghĩ không gì hơn
là: “Hạnh phúc trong một xã hội dân chủ pháp trị
theo nguyện vọng của toàn dân ”, mà phải là thật sự chớ
không như những nhóm lãnh đạo CSVN đã lừa dối nhân dân
từ giữa thế kỷ 20 đến nay, và vẫn còn tiếp tục lừa
dối.
KẾT LUẬN.
Nguyện vọng của toàn
dân, là mọi người phải được sống trong một xã hội
dân chủ pháp trị với các quyền tự do căn bản của con
người được tôn trọng. Một xã hội có nhiều cơ hội tiến
thân đồng đều cho mọi người, được bảo đảm tối thiểu
về các sinh hoạt xã hội, và một cuộc sống an lành trong
đạo nghĩa. Một dân tộc không nuôi ý đồ lấn chiếm lân
bang, nhưng quyết tâm bảo vệ tổ quốc. Một chánh phủ được
đánh giá là của dân, do dân, và vì dân, phải là một chánh
phủ thực hiện được nguyện vọng người dân, cũng là mục
tiêu quốc gia .
Houston, ngày 19 tháng
2 năm 2007
Nhật tu ngày 20 tháng
10 năm 2008
Alpha Phạm Bá Hoa
(khóa 5)
Phụ
bản B
Gợi
ý Chánh Phủ Lâm Thời
Đây là tham mưu Bước
2a với gợi ý Chánh Phủ lâm thời trong thời kỳ chuyển tiếp.
GỢI Ý THÀNH PHẦN.
Chánh phủ lâm thời
trong thời kỳ chuyển tiếp từ cộng sản độc tài sang dân
chủ tự do, cần có các thành phần sau đây:
Thứ nhất. (1)
Thành phần đảng viên và cựu đảng viên cộng sản hoặc
ngoại vi của đảng cộng sản, thật sự có thành tích chống
đối lãnh đạo cộng sản Việt Nam (CSVN) đòi thực hiện
dân chủ tự do trong nước. (2) Thành phần đảng viên cao cấp,
đã về hưu hoặc đang tại chức trong nhóm lãnh đạo đương
nhiệm, đã thật sự góp công quan trọng trong sự sụp đổ
của CSVN. Những nhân vật trong hai thành phần này, trong một
chừng mực nào đó, vẫn còn uy tín do thành tích mấy chục
năm lăn lộn trong đảng nhất là trong những năm gần đây
tranh đấu cho dân chủ tự do, rất có thể được quân đội
và công an ủng hộ.
Thứ nhì. Thành phần
ngoài đảng cộng sản gồm những cá nhân hay trong tổ chức
đấu tranh chính trị đòi cộng sản Việt Nam thực hiện dân
chủ tự do. Dân, là một lực lượng dân chủ, tuy không
có tổ chức nhưng là tối cần thiết cho mục tiêu đánh sụp
chế độ độc tài, cũng là lực lượng tối cần thiết cho
mục tiêu xây dựng chế độ dân chủ tự do trong thời kỳ
chuyển tiếp, và sau đó. Thành phần này thấu hiểu khổ đau
cùng tâm trạng của đồng bào nên dễ được đồng bào chấp
nhận, đó cũng là động lực thúc đẩy lực lượng này hưởng
ứng những chính sách của Chánh Phủ lâm thời trong nỗ lực
ổn định và phát triển đất nước.
Thứ ba. Những trí thức
ngoài đảng, bằng cách nào đó như bài viết, lời nói, hay
hành động, đã thể hiện mạnh mẽ tư tưởng tự do dân
chủ, thể hiện cao độ tinh thần trách nhiệm trong hoạt động
chuyên môn hay trong các sinh hoạt văn hoá xã hội, và có uy
tín với đồng bào. Nói chung là những trí thức tiêu biểu
cho một thành phần nào đó trong xã hội, có khả năng chuyên
môn đóng góp vào sự ổn định trật tự xã hội và phát
triển đất nước.
Thứ tư. Những chức
sắc thân hào nhân sĩ thuộc các sắc tộc thiểu số, có thành
tích đấu tranh chính trị đòi CSVN thực hiện dân chủ tự
do, hoặc có uy tín trong đồng bào thiểu số. Cần có
tiếng nói của các sắc tộc ngay từ bước đầu, để tránh
những xáo trộn có thể xảy ra nếu họ không có vị trí
bình đẳng trong chánh quyền. Kế hoạch phát triển cao nguyên
miền Trung miền Bắc, nhất thiết phải thực sự xem xét và
tôn trọng nguyện vọng của các sắc tộc liên hệ. Cao nguyên
miền Trung là mái nhà và cao nguyên miền Bắc là nóc nhà của
tổ quốc, có tầm vóc quan trọng đặc biệt trong chiến lược
phòng thủ quốc gia, đồng thời với phát triển kinh tế và
văn hoá trong bối cảnh chung của tổ quốc.
Và thứ năm. (1)
Thành phần cộng đồng tị nạn hải ngoại kể cả sắc tộc
thiểu số, thật sự có thành tích trong đấu tranh dưới mọi
hình thức. (2) Những vị đã hoặc đang tham gia dòng sinh hoạt
chính tại Hoa Kỳ, cũng như tại các quê hương thứ hai, có
thành tích và kinh nghiệm trong nhiều lãnh vực, đặc biệt
là các vị trong vị thế quan trọng có khả năng làm gạch
nối giữa Chánh Phủ lâm thời với các quốc gia tự do, hậu
thuẫn và tích cực yểm trợ cấp thời trong kế hoạch cải
thiện đời sống xã hội tại các thành phố lớn trong bước
đầu, song song với những kế hoạch ngắn hạn dài hạn hỗ
trợ Việt Nam phát triển.
Bốn thành phần đầu
là lực lượng trong nước, thành phần thứ năm là lực lượng
hải ngoại. Trong thời kỳ này, lực lượng trong nước là
chính để ổn định tình hình, trong khi lực lượng hải ngoại
hỗ trợ mạnh mẽ và chuẩn bị cho tương lai.
Chánh Phủ lâm thời
cùng lúc tiến hành hai nỗ lực: “Một, khôi phục an ninh
trật tự và các ngành trong xã hội sinh hoạt bình thường.
Hai, tiến hành công tác soạn thảo những văn kiện sinh hoạt
chính trị, từng bước chuẩn bị tiến tới bầu cử Quốc
Hội Lập Hiến khi kiểm soát được tình hình nội bộ và
tình hình biên giới”.
KẾT LUẬN.
Bản Hiến Pháp là nền
tảng xây dựng cơ cấu dân chủ pháp trị trong toàn bộ hệ
thống tổ chức để thực hiện mục tiêu quốc gia, vì vậy
mà cả hai nỗ lực trên đây, đặc biệt là nỗ lực thứ
hai, cần có sự phối hợp chặt chẻ giữa lực lượng trong
nước với lực lượng hải ngoại, để công tác chuẩn bị
những sinh hoạt chính trị kế tiếp được hài hòa trong tinh
thần phục vụ quốc gia dân tộc. Chữ lực lượng dùng
ở đây, có thể là những cá nhân hay những tổ chức.
Houston, ngày 25 tháng
2 năm 2007.
Nhật tu ngày 20 tháng
10 năm 2008
Alpha Phạm Bá Hoa
(khóa 5)
Phụ bản C
Gợi
ý Quan niệm sách Lược Quốc Gia
Đây là tham mưu Bước
2b, gợi ý xây dựng một sách lược quốc gia.
GỢI Ý QUAN NIỆM.
Căn cứ vào nguyện vọng
người dân để phác thảo một sách lược quốc gia. Khung
phác thảo này dựa theo tài liệu nghiên cứu “sách lược
quốc phòng” của Trường Cao Đẳng Quốc Phòng Việt Nam năm
1971. Chánh phủ lâm thời căn cứ vào “nguyện vọng người
dân” -cũng là mục tiêu quốc gia- để hoạch
định chính sách chiến lược cho từng ngành, và vận động
người dân cùng với chánh phủ, xây dựng một xã hội mà
mọi người được sống trong nguyện vọng chính đáng.
Chính sách ngoại giao.
Việt Nam là một nước Cộng Hòa, một lãnh thổ thống nhất,
với một xã hội dân chủ pháp trị. Chánh phủ phục vụ
quyền lợi quốc gia, phục vụ nguyện vọng dân tộc. Chánh
phủ chủ trương hợp tác phát triển với các quốc gia trên
căn bản bình đẳng, trong ý thức kết hợp hài hòa giữa
nét tinh hoa văn hoá dân tộc với khoa học kỹ thuật tân tiến.
Chánh phủ tôn trọng các văn kiện quốc tế phù hợp với
chế độ dân chủ tự do.
Chính sách hành chánh.
Tổ chức hệ thống hành chánh công quyền thích hợp với
nhu cầu trong quan niệm: Nhân dân với viên chức là mối tương
quan cần thiết giữa nhu cầu với trách nhiệm, và tác động
qua lại tạo nên sức phát triển chung của xã hội. Một lực
lượng Cảnh Sát được huấn luyện trên nền tảng đạo
đức và tôn trọng luật pháp, để hoàn thành trách nhiệm
bảo vệ an ninh trật tự.
Chính sách quốc phòng.
Tổ chức một quân đội tối đa 0.8% dân số, với khoảng
15% nhân viên dân sự trong tổng số quân để phục vụ trong
các cơ quan đơn vị không chiến đấu. Nhiệm vụ quân đội
là bảo vệ tổ quốc. Những xung đột với quốc gia lân bang,
ưu tiên giải quyết bằng chính sách ngoại giao trong tinh thần
hợp tác. Bộ Quốc Phòng phụ trách chiến lược, các quân
chủng phụ trách chiến thuật. Vừa tổ chức vừa bảo vệ
tổ quốc, trước mắt ưu tiên bảo vệ biên giới phía bắc,
vịnh Bắc Việt, đảo, quần đảo, và biên giới phía tây.
Về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, sẽ nghiên cứu chuẩn
bị một hồ sơ chứng minh chủ quyền của Việt Nam, vận
động đưa ra Liên Hiệp Quốc giành lại toàn bộ chủ quyền
trên căn bản lịch sử và công pháp quốc tế.
Chính sách kinh tế.
Chuyển đổi toàn bộ kinh tế xã hội chủ nghĩa sang kinh tế
thị trường. Kỹ nghệ khai thác, sản xuất, chế biến, nông
nghiệp, thương mãi, dịch vụ, và xuất nhập cảng, trên căn
bản khả năng cạnh tranh phát triển, và tất cả tác động
qua lại thúc đẩy sức phát triển chung của xã hội. Xây
dựng nhóm mặt hàng xuất cảng trên căn bản nhu cầu dài
lâu của khách hàng ngoại quốc, thích hợp với khả năng
và tiềm năng quốc gia. Kỹ nghệ dầu hỏa, nông nghiệp, và
dịch vụ, ba lãnh vực được quan tâm đặc biệt.
Chính sách tài chánh.
Trong thời kỳ chuyển tiếp, phối hợp với các chủ trương
mục và các tổ chức tài chánh quốc tế, tìm biện pháp thích
hợp giải quyết khối tài chánh ký thác trong các ngân hàng.
Thuế vụ phù hợp với mức sinh hoạt xã hội, và thay đổi
theo từng bước phát triển. Phục vụ kinh tế phát triển.
Nâng đỡ ngành tiểu thương “xương sống” của nền kinh
tế tổng thể. Bảo đảm mức sống tối thiểu của nhân
dân. Hỗ trợ mọi thành phần trong xã hội -nhất là tuổi
trẻ- thăng tiến trong lãnh vực giáo dục.
Chính sách giáo dục.
Con người là yếu tố quan trọng bậc nhất trong xây dựng
và phát triển đất nước. Nền tảng giáo dục nhắm đào
tạo những thế hệ tử tế trong xã hội, đồng thời phối
hợp các ngành -nhất là kinh tế- để đào tạo con người
có kiến thức chuyên môn thích ứng nhu cầu phát triển của
các ngành sinh hoạt quốc gia. Những thế hệ được đào tạo
có căn bản vững chắc về tổ chức & quản trị xã hội,
và có tinh thần trách nhiệm cộng đồng trong mọi sinh hoạt
phục vụ lợi ích chung. Bản thân giáo dục, xây dựng một
đội ngũ giáo chức có kiến thức và uy tín, duy trì và phát
triển giáo dục Việt Nam thích nghi với sự phát triển khoa
học kỹ thuật thế giới hòa vào nét tinh hoa trong văn hoá
Việt Nam.
Chính sách luật pháp.
Mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, bất luận người
đó là vị lãnh đạo cao nhất nước hay người dân bình thường.
Dân chủ pháp trị, là nền tảng cư xử giữa người dân
với hành chánh công quyền. Người Việt Nam định cư ở ngoại
quốc, đương nhiên là công dân Việt Nam, và được quyền
có thêm một quốc tịch.
Chính sách đảng chính
trị. Những thập niên trước mắt, không chấp nhận đảng
chính trị khuynh hướng độc tài. Khuyến khích các đảng
chính trị hoạt động trong tinh thần cạnh tranh dân chủ,
góp phần thúc đẩy sinh hoạt xã hội ngày thêm phát triển. Khuyến
khích bước đầu tiến đến số lượng đảng chính trị
dưới hai con số, những bước kế tiếp còn lại không quá
5 đảng.
Chính sách du lịch.
Du lịch, một ngành kỹ nghệ không khói. Mở rộng cửa đón
du khách thưởng ngoạn thắng cảnh thiên nhiên, thắng cảnh
nhân tạo, những sinh hoạt trong đời sống văn hoá dân tộc,
những di tích trận địa, những hành vi tội ác của chế
độ độc tài trong chiến tranh và sau chiến tranh, gồm cả
cơ sở bảo tàng những vật chứng trong cuộc vượt biên
vượt biển tìm tự do vĩ đại nhất và bi thảm nhất trong
lịch sử nhân loại 1975-1995, cùng những thành công của Cộng
Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại trong nhiều
lãnh vực. Đồng thời bày tỏ ước vọng tương lai của dân
tộc Việt Nam. Ước vọng này cần có sự phối hợp của
các ngành sinh hoạt quốc gia, nhất là văn hoá giáo dục, kinh
tế xã hội, và khoa học kỹ thuật.
Chính sách xã hội.Trước
mắt, vận động các tổ chức quốc tế và các chánh phủ,
trợ giúp cấp thời cho tất cả thương phế binh không phân
biệt nguồn gốc, ưu tiên cho thành phần nghèo đói. Cai nghiện
xì ke ma túy. Dạy nghề cho những thành phần mà đạo lý xã
hội không chấp nhận. Nuôi dưỡng người già và người tàn
phế không nơi nương tựa, và trẻ mồ côi. Trợ giúp những
gia đình từ các khu kinh tế mới trở về nhà cũ. Nghiên cứu
một kế hoạch hoàn chỉnh và thực hiện công tác hoàn trả
tất cả động sản và bất động sản còn kiểm soát được
cho các sở hữu chủ hợp pháp, đã bị CSVN tịch thu dưới
mọi hình thức mà còn nắm quyền quản trị, hay đã chuyển
quyền quản trị cho cá nhân hay tổ chức nào.
KẾT LUẬN.
Chắc rằng, cho dù Chánh
Phủ lâm thời có chuẩn bị chu đáo đến mấy đi nữa, vẫn
còn nhiều khiếm khuyết khi nhìn từ nhiều phía, và sự đóng
góp quan điểm từ nhiều tổ chức hoặc từ những cá nhân,
sẽ giúp rất nhiều cho thời kỳ tiếp sau trong công tác tham
mưu. Nhớ lại cuối tháng 4/1975, khi cộng sản chiếm Việt
Nam Cộng Hòa chúng ta, họ có sẳn bộ máy cai trị theo khuôn
mẫu độc tài chuyên chính trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa, họ chỉ cần nong rộng ra và đưa vào Nam
điều hành nên ít trở ngại.
Trường hợp Chánh Phủ
lâm thời tới đây, cho dù những vị lãnh đạo thuộc thành
phần nào đi nữa, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trở ngại, vì xã hội đang điều hành bởi bộ máy độc
tài với nền kinh tế mà họ gọi là “kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, bỗng chốc chuyển
sang bộ máy dân chủ tự do với nền kinh tế thị trường
đúng nghĩa. Nhưng nếu công tác tham mưu cung ứng được những
chuẩn bị cho dù chưa chu đáo, Chánh Phủ lâm thời có thể
giảm bớt được những khó khăn đáng kể. Cũng cần nhớ
đến xứ Afghanistan và Iraq, vì không chuẩn bị trước nên
rơi vào tình trạng các quốc gia viện trợ chọn sẳn mọi
chính sách cho họ, kể cả chọn giùm nhân vật lãnh đạo.
Houston, ngày 4 tháng 3
năm 2007
Nhật tu ngày 20 tháng
10 năm 2008
Alpha Phạm Bá Hoa
(khóa 5)
Phụ bản D
Gợi
Ý Thông Điệp Đầu Tiên
Đây là tham mưu Bước
2c, phác thảo gợi ý Bản Thông Điệp đầu tiên với nội
dung thể hiện một phần sách lược quốc gia, do chánh phủ
lâm thời công bố trước quốc dân đồng bào và ngoại giao
đoàn.
Điểm 1. Việt
Nam là nước Cộng Hòa, một lãnh thổ thống nhất với chế
độ dân chủ tự do, hợp tác phát triển với các quốc gia
trên căn bản bình đẳng, trong ý thức gìn giữ văn hoá dân
tộc kết hợp hài hòa với khoa học kỹ thuật tân tiến trên
thế giới.
Điểm 2. Ban hành
Hiến Ước Lâm Thời, thay thế và hủy bỏ Hiến Pháp của
CSVN ban hành năm 1992 và sửa đổi năm 2001.
Điểm 3. Thủ đô
đặt tại Sài Gòn.
Điểm 4. Giải
tán Quốc Hội và toàn bộ các cơ cấu dân cử từ trung ương
đến địa phương. Giải tán đảng cộng sản Việt Nam, và
các đảng chính trị ngoại vi của đảng này thành lập từ
ngày chế độ sụp đổ trở về trước. Toàn bộ các cơ
sở và mọi tài sản của đảng cộng sản, các đảng chính
trị cùng các tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản, niêm
phong chờ lệnh.
Điểm 5. Tất cả
đảng viên cộng sản và những thành viên của các tổ chức
ngoại vi của đảng cộng sản tính đến ngày sụp đổ, được
sống tự do và bình đẳng như tất cả công dân trong xã hội.
Riêng những thành viên Bộ Chính Trị từ khóa 1 đến khóa
đương nhiệm, đây là cơ quan có quyền lực tuyệt đối trong
hoạch định và điều khiển thi hành chế độ độc tài,
sẽ được quyết định bởi luật pháp, ngoại trừ những
thành viên đã thật sự góp phần quyết định và cụ thể
vào sự sụp đổ của cộng sản.
Điểm 6. Ngăn cấm
mọi hành động có tính cách trả thù giữa cá nhân với nhau,
và giữa cá nhân với tổ chức bất luận là tổ chức nào.
Điểm 7. Tôn trọng
các quyền: Sở hữu tư nhân, tự do tôn giáo, tự do lập hội,
tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do chính trị, và tự
do mưu cầu hạnh phúc trong khuôn khổ luật pháp và đạo nghĩa
mà xã hội chấp nhận.
Điểm 8. Tôn trọng
các thỏa ước cùng các văn kiện quốc tế phù hợp với
chế độ tự do dân chủ. Mở rộng bang giao quốc tế, không
phân biệt xu hướng chính trị trên căn bản bình đẳng và
tôn trọng lẫn nhau.
Điểm 9. Toàn bộ
quân nhân, công an cảnh sát, giáo viên giáo sư, công nhân viên
chức các cấp các ngành, đến nhiệm sở tiếp tục công tác
thường ngày. Tất cả học sinh sinh viên, đi học bình thường.
Điểm 10. Trả
tự do tất cả tù nhân chính trị không phân biệt nguồn gốc,
dù có án hay chưa có án, dù trong nhà tù hay trong trại cải
tạo. Các án chính trị ngụy trang dưới án lệnh hình sự
mà phát hiện được, sẽ xóa bỏ.
Điểm 11. Bảo
vệ lãnh thổ lãnh hải và hải đảo, ưu tiên bằng chính
trị.
Điểm 12. Bảo
vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội, ưu tiên bằng chính
sách nhân sự trên căn bản bình đẳng giữa các thành phần
trong xã hội.
Điểm 13. Tài sản
tư nhân bị cộng sản tịch thu dưới mọi hình thức từ
năm 1954 đến nay, sẽ hoàn trả cho chủ hợp pháp.
Điểm 14. Tạo
điều kiện thuận lợi cho dầu hỏa hơi đốt, và kỹ nghệ
chế biến từ phó sản dầu hỏa phát triển đồng thời với
phát triển nông nghiệp, qua chính sách đầu tư nội địa
và đầu tư ngoại quốc.
Điểm 15. Khuyến
khích các đảng chính trị hoạt động trong tinh thần dân
chủ, góp phần thúc đẩy sinh hoạt xã hội ngày càng phát
triển. Trước mắt, không chấp nhận đảng chính trị độc
tài.
Điểm 16. Mọi
người Việt Nam sống ở ngoại quốc, đương nhiên là công
dân Việt Nam, Chánh phủ công nhận công dân Việt Nam có quyền
giữ thêm một quốc tịch nơi đang sinh sống.
Điểm 17. Cơ chế
quốc gia sẽ thực hiện theo Hiến Pháp do Quốc Hội Lập Hiến
soạn thảo và lãnh đạo ban hành sau cuộc trưng cầu dân ý.
Houston, ngày 10 tháng
3 năm 2007
Nhật tu ngày 20 tháng
10 năm 2008.
Chủ Tịch Ủy Ban Thường
Trực
Alpha Phạm Bá Hoa
(khóa 5)
Phụ bản E
Những
Quan Niệm Căn Bản
TỔNG QUÁT.
Với Phụ Bản A trong
tham
mưu Bước 1, phác thảo gợi ý nghiên cứu tìm hiểu “nguyện
vọng người dân”, đó cũng là mục tiêu quốc gia.
Chuyển sang tham mưu Bước
2 với phác thảo gợi ý “những thành phần trong chánh phủ
lâm thời” (Phụ Bản B), những chính sách chiến lược quốc
gia (Phụ Bản C), và thông điệp đầu tiên của chánh phủ
lâm thời (Phụ Bản D).
Phụ Bản E này trong
tham mưu Bước 3, căn cứ vào những chính sách căn bản của
từng ngành trong Phụ Bản C, phác thảo gợi ý “những quan
niệm căn bản” cho từng mục tiêu của ngành.
Tham mưu bước 3: Xây
dựng những quan niệm căn bản.
Chuyển đổi một xã
hội đang sinh hoạt trong nền kinh tế chỉ huy sang xã hội
kinh tế thị trường, chẳng khác chuyển đổi toàn bộ bộ
mặt xã hội, vì vậy mà những tiểu ban tham mưu cần tích
cực trong công tác sưu tầm dữ kiện mới có thể phác thảo
được các kế hoạch trong Bước 4 kế tiếp.
Hãy hình dung thời kỳ
hậu cộng sản, Chánh Phủ lâm thời không có tài nguyên
trong tay, từ nhân sự đến tài lực vật lực đều không,
nhưng với những tiểu ban tham mưu có khả năng và tích cực,
cho phép Chánh Phủ tin tưởng những khó khăn quan trọng trước
mắt, thậm chí là tối quan trọng có thể được giảm bớt
đáng kể. Những phác thảo như là những cái khung với một
số chi tiết cần thiết, sẽ giúp công tác hoàn chỉnh được
nhanh chóng và sát thực tế khi bắt tay vào việc, rút ngắn
được thời gian mà lúc ấy thời gian là một nhân tố dẫn
đến thành công hay thất bại.
Quan niệm căn bản này
gồm 10 điểm. (chữ nghiêng là trích trong Phụ Bản B)
1. Chính sách đảng chính
trị.
“Những thập niên
trước mắt, không chấp nhận đảng cộng sản và các đảng
chính trị khuynh hướng độc tài. Khuyến khích các đảng
chính trị hoạt động trong tinh thần cạnh tranh dân chủ,
góp phần thúc đẩy sinh hoạt xã hội ngày thêm phát triển.
Khuyến khích bước đầu tiến đến số lượng đảng chính
trị dưới hai con số, bước kế tiếp còn không quá 4 đảng.
Các đảng chính trị càng có thực lực, tiếng nói càng có
trọng lượng với đồng bào cũng như với các cơ quan Chánh
Phủ và Quốc Hội”.
Quan niệm thực hiện.
Nghiên cứu về cương
lỉnh, tổ chức, nhân sự, hoạt động, và thành quả của
các đảng chính trị, để soạn thảo và ban hành văn kiện
lập quy tạm thời, qui định về tổ chức và hoạt động
của các đảng chính trị.
2. Chính sách hành chánh
công quyền.
“Hệ thống tổ chức
hành chánh công quyền thích hợp với nhu cầu. Người dân
với viên chức, là mối tương quan cần thiết giữa nhu cầu
với trách nhiệm và tác động qua lại tạo nên sức phát
triển chung của xã hội. Một lực lượng Cảnh Sát trách
nhiệm an ninh trật tự”.
a. Quan niệm tổ chức.
Giải thể toàn bộ bộ
máy hành chánh cộng sản nhưng tạm thời giữ nguyên tổ chức
để khi tái tổ chức đến đâu giải thể hẳn đến đó,
truớc mắt thay thế toàn bộ các tiêu đề trên công văn,
tên các địa phương, tên các cơ quan, đường phố, công viên,
..v..v.. mang tên những nhân vật cộng sản hay liên quan đến
cộng sản. Cùng lúc đề cử viên chức vào các chức vụ
đứng đầu cơ quan hành chánh các cấp để nắm vững tình
hình ngay từ đầu. Xóa bỏ các tượng đài cộng sản hay
liên quan đến cộng sản. Cơ cấu hành chánh gồm: Trung ương,
Miền, Tỉnh/thành phố, Quận, Xã. Tổ chức Miền và Quận
là cơ quan trung gian, không do dân cử, không có ngân sách. Tùy
hệ thống giao thông và nét đặc thù từng địa phương về
sắc tộc, văn hoá, kinh tế, địa dư, cơ quan hành chánh địa
phương được phân quyền thích hợp. Các đảo và quần đảo
đặt trực thuộc trung ương, với các chính sách nâng đỡ
phát triển đời sống xã hội.
b. Quan niệm nhân sự.
Kiểm kê, chọn lọc,
và sử dụng nhân viên viên chức hành chánh cộng sản, nếu
chưa quá tuổi phục vụ, đủ sức khỏe, và nhất là khả
năng thích hợp với nhiệm vụ.
Kiểm kê, chọn lọc,
và sử dụng nhân viên viên chức hành chánh Việt Nam Cộng
Hòa cũ còn trong nước hay từ ngoại quốc trở về, nếu chưa
quá tuổi phục vụ và đủ sức khỏe.
Hành chánh công quyền
với người dân là mối tương quan thật sự cần thiết giữa
nhu cầu với trách nhiệm. Nhu cầu của dân, phát sinh tổ chức
hành chánh để giải quyết nhu cầu đó. Khi giải quyết được
nhu cầu của dân, có nghĩa là viên chức làm tròn nhiệm vụ,
và được hưởng lương do tiền thuế của dân đóng góp.
Đó là sự tác động qua lại trong ý niệm hợp tác, góp phần
tạo nên sức phát triển chung của xã hội, không bên nào
nhờ bên nào. Lời cám ơn thể hiện cung cách trong giao tế
nhân sự chớ không mang ý nghĩa chịu ơn, cho dù bên nào cũng
vậy. Hệ thống trường hành chánh, là tổ chức có trách
nhiệm trang bị cho học viên ý thức về cung cách này.
c. Quan niệm trang bị.
Kiểm kê tất cả động
sản, bất động sản, vật dụng trang bị, thuộc tài sản
hành chánh quốc gia. Chọn lọc và phân phối sử dụng trong
số hiện có, ngoại trừ tài sản gốc tư nhân mà cộng sản
chiếm đoạt dưới mọi hình thức. Những gì chưa sử dụng
phải trách nhiệm gìn giữ. Trước mắt, cố gắng tránh mua
sắm trang cụ nế chưa thật sự cần thiết.
d. Quan niệm thực
hiện.
Vừa tổ chức cơ quan
đơn vị vừa kiểm kê nhân viên chức và bổ nhiệm họ, vừa
kiểm kê động sản, bất động sản, vật dụng trang bị,
và phân phối sử dụng, vừa điều hành công tác theo phương
thức thủ tục mới để giữ cho hệ thống điều hành hành
chánh
không bị gián đoạn, có thể có bối rối lúc đầu nhưng
nhất thiết không để ngưng trệ. Sự đánh giá trong thời
kỳ này rất quan trọng, nó có khả năng dẫn đến thành công
hay thất bại sau đó. Vì vậy, hành chánh trung ương cần
ủy quyền thích hợp trong lãnh vực bổ nhiệm viên chức cũng
như phân phối cơ sở và phương tiện sử dụng cho cấp
chỉ huy hành chánh địa phương để kịp thời đáp ứng nhu
cầu. Điều này cần được quan tâm đặc biệt vì có thể
có kết quả trái ngược, nếu như viên chức được ủy qyền
có tư tưởng phe nhóm hay cục bộ địa phương mà không đặt
đúng tiêu chuẩn chọn lọc nhân viên viên chức để trao trách
nhiệm thích hợp với khả năng.
Cơ Quan Hành Chánh Miền
Bắc là tổ chức cấp Miền duy nhất, cần tổ chức ngay để
điều hành công tác tổ chức và phối trí các cơ quan hành
chánh địa phương xa trung ương.
Vì không có một tổ
chức hay một thành phần nòng cốt nào, cho nên phải tổ chức
một hệ thống hành chánh trên căn bản giải thể hành chánh
cộng sản.
3. Chính sách Cảnh Sát.
Tổ chức một lực
lượng Cảnh Sát trên căn bản giải thể cảnh sát công an
cộng sản. Tái sử dụng thành phần Cảnh Sát Việt Nam Cộng
Hòa cũ, tuyển mộ đào tạo cấp thời, và tái sử dụng cảnh
sát vừa giải thể sau khi chọn lọc cẩn thận. Nhân số 0.3%
dân số, tức khoảng 210 ngàn người, cộng với 10% nhân viên
dân sự, tức khoảng 20 ngàn người.
a. Quan niệm tổ chức.
Tổ chức Cảnh Sát gồm
3 thành phần với những trách nhiệm khác nhau: (1) Cảnh Sát
sắc phục, phụ trách an ninh trật tự xã hội. (2) Cảnh Sát
không sắc phục, phụ trách an ninh chính trị bao gồm tình
báo và phản tình báo. (3) Và Cảnh Sát dã chiến, thành phần
võ trang lưu động.
Nhân số cộng chung khoảng
230 ngàn, ước tính phân phối tổng quát như sau: Cơ quan tham
mưu, huấn luyện, và các bộ phận yểm trợ 10%. Cảnh Sát
sắc phục 50%. Cảnh Sát không sắc phục 20%. Và Cảnh Sát
dã chiến 20%.
Cơ cấu tổ chức gồm:
(1) Bộ chỉ huy trung ương cùng các cơ quan đơn vị yểm trợ.
(2) Các cơ quan Cảnh Sát thủ đô. (3) Cảnh Sát miền Bắc
bên cạnh cơ quan hành chánh. (4) Cảnh Sát miền Trung. (5) Cảnh
Sát miền Nam. (6) Cảnh Sát tỉnh/thành phố, xuống đến quận. (7)
Trường Cảnh Sát đào tạo Cảnh Sát các cấp các ngành, nghiên
cứu các hành vi tội phạm và cách đối phó trong thực tế
để liên tục cải tiến nội dung chương trình huấn luyện.
b. Quan niệm nhân sự.
Kiểm kê, chọn lọc,
và sử dụng trong số nhân viên viên chức cộng sản hiện
có, nếu chưa quá tuổi phục vụ, đủ sức khỏe, và nhất
là khả năng thích hợp với nhiệm vụ được giao. Kiểm kê,
chọn lọc, và sử dụng nhân viên viên chức Cảnh Sát Việt
Nam Cộng Hòa cũ còn trong nước hay trờ về từ hải ngoại,
nếu chưa quá tuổi phục vụ và đủ sức khoẻ. Tuyển mộ
và đào tạo cấp thời nếu còn thiếu. Nhân viên viên chức
trong lực lượng Cảnh Sát, không tham gia chính trị.
c. Quan niệm trang bị.
Kiểm kê tất cả động
sản, bất động sản, vũ khí và máy móc dụng cụ trang bị
cho ngành này. Kiểm kê vũ khí đạn dược cùng máy móc trang
bị của tổ chức dân quân và các tổ chức tương tự bị
giải thể. Chọn lọc và phân phối sử dụng trong số hiện
có. Ưu tiên sử dụng dụng cụ và vật liệu do Hoa Kỳ sản
xuất, để công tác quản trị tránh được những khó khăn
nếu sử dụng dụng cụ thuộc nhiều chủng loại từ nhiều
quốc gia khác nhau. Không sử dụng những động sản hay bất
động sản của tư nhân bị cộng sản chiếm đoạt bất cứ
bằng hình thức nào, nhưng có trách nhiệm gìn giữ để hoàn
trả.
d. Quan niệm
thực hiện.
Khi có lệnh giải thể
cảnh sát công an cộng sản, phải cử viên chức đứng đầu
cơ quan đơn vị nhận chức vụ mới để nắm vững tình hình
ngay từ đầu vì kế hoạch tổ chức được thực hiện qua
từng giai đoạn. Cùng lúc, phải thay đổi toàn bộ tên các
cơ quan đơn vị mang tên cộng sản hay liên quan đến cộng
sản, dù lúc bấy giờ đang trong giai đoạn tổ chức hay chờ
đợi tổ chức.
Tổ chức đến đâu
giải thể hẳn đến đó. Cơ quan đơn vị chưa đến giai đoạn
tổ chức, tạm thời giữ nguyên tổ chức nhưng sử dụng
danh xưng mới, phiên hiệu mới. Trong khi vừa kiểm kê, vừa
tổ chức, vừa trang bị, vừa thi hành nhiệm vụ, nên công
tác tiến hành tổ chức qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 từ tháng
thứ nhất. Tổ chức cơ quan Cảnh Sát trung ương, cơ quan Cảnh
Sát miền Bắc, miền Trung, miền Nam, cơ quan Cảnh sát các
thành phố quan trọng, và Cảnh Sát dã chiến.
Giai đoạn 2 từ tháng
thứ ba: Tổ chức cơ quan Cảnh Sát các tỉnh và các thành
phố nhỏ.
Giai đoạn 3 từ tháng
thứ sáu: Tổ chức cơ quan Cảnh Sát hạ tầng cơ sở.
4. Chính sách quốc phòng.
“Tổ chức một quân
đội tối đa 0.8% dân số, với khoảng 15% nhân viên dân sự
trong tổng số quân để phục vụ trong các cơ quan đơn vị
không chiến đấu. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ tổ
quốc. Những xung đột với quốc gia lân bang, ưu tiên giải
quyết bằng chính sách ngoại giao trong tinh thần hợp tác.
Bộ quốc phòng phụ trách chiến lược, các quân chủng phụ
trách chiến thuật. Vừa tổ chức vừa bảo vệ tổ quốc,
trước mắt ưu tiên bảo vệ biên giới phía bắc, vịnh Bắc
Việt, các đảo, quần đảo, và biên giới phía tây. Về quần
đảo Hoàng Sa, Trường Sa, sẽ nghiên cứu chuẩn bị một hồ
sơ chứng minh chủ quyền của Việt Nam, vận động đưa
ra Liên Hiệp Quốc đòi lại chủ quyền đó”.
a. Quan niệm tổ chức.
Giả định rằng, trong
tổ chức Bộ Quốc Phòng có 3 bộ phận chánh, là: (1) Bộ
tham mưu liên quân. (2) Cơ quan tài chánh & ngân sách. (3)
Và cơ quan nghiên cứu chiến lược.
Tổ chức quân đội
trên căn bản giải thể quân đội cộng sản. Tái sử dụng
thành phần quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũ còn trong
hạn tuổi phục vụ, và tái sử dụng quân nhân vừa giải
thể sau khi chọn lọc cẩn thận. Quân số trong khoảng 700-800
ngàn (tùy theo dân số khi hoàn chỉnh kế hoạch tổ chức),
cộng với khoảng 140 ngàn nhân viên dân sự, tức khoảng 15%
quân số.
Quân đội gồm Hải
Quân Lục Quân Không Quân. Trong Lục Quân, các đại đơn vị
lưu động, và quân địa phương hoạt động trong phạm vi
lãnh thổ liên hệ.
Quân số và viên chức
dân sự khoảng 900.000 người, gợi ý phân phối như sau: (1)
Các cơ quan tham mưu trung ương và các ngành yểm trợ liên
quân 10%. (2) Quân chủng Hải Quân, kể cả Thủy Quân Lục
Chiến, chiếm 5%. (3) Không Quân chiếm 5%. (4) Quân địa phương
chiếm 45%. (5) Lục Quân -không kể quân địa phương- gồm
các binh chủng tác chiến và yểm trợ tác chiến, chiếm 30%.
(6) Các ngành yểm trợ hành chánh tiếp vận quân chủng chiếm
5%.
Các cơ quan đơn vị
yểm trợ liên quân, trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Các cơ quan
đơn vị yểm trợ quân chủng, trực thuộc quân chủng (Bộ
Tổng Tham Mưu Liên Quân trong tổ chức Bộ Quốc Phòng).
Hệ thống huấn luyện:
(1) Viện Cao Đẳng Quốc Phòng, nghiên cứu chiến lược, đào
tạo cán bộ lãnh đạo quân đội và lãnh đạo các ngành
sinh hoạt quốc gia. (2) Trường Cao Đẳng Quân Sự, đào tạo
cấp lãnh đạo chỉ huy đại đơn vị, cán bộ chỉ huy và
tham mưu các cấp, nghiên cứu chiến thuật, và góp phần nghiên
cứu chiến lược. (3) Trường sĩ quan hiện dịch, đào tạo
sĩ quan hiện dịch với trình độ đại học, góp phần nghiên
cứu chiến thuật. (4) Trường sĩ quan trừ bị, đào tạo sĩ
quan trừ bị, và góp phần nghiên cứu chiến thuật. (5) Trường
sĩ quan Hải Quân, Không Quân, đào tạo sĩ quan và chuyên viên
cho quân chủng, và nghiên cứu chiến thuật của quân chủng.
(6) Các Trường đào tạo Hạ sĩ quan (7) Các trung tâm huấn
luyện đào tạo chiến binh.
b. Quan niệm nhân sự.
Kiểm kê, chọn lọc,
tái sử dụng quân nhân, nhân viên dân sự của quân đội
cộng sản sau khi chọn lọc, nếu chưa quá tuổi phục vụ,
đủ sức khoẻ, và nhất là khả năng thích ứng với nhu cầu.
Kiểm kê, chọn lọc,
và sử dụng quân nhân, công chức quốc phòng của quân lực
Việt Nam Cộng Hòa còn trong nước hay từ hải ngoại trở
về, nếu chưa quá tuổi phục vụ và đủ sức khoẻ.
c. Quan niệm trang bị.
Kiểm kê tất cả động
sản và bất động sản thuộc tài sản quân đội, kiểm kê
tất cả quân trang quân dụng đạn dược, chọn lọc và sử
dụng trong số hiện có, ưu tiên sử dụng quân dụng do Hoa
Kỳ sản xuất. Quân dụng càng ít chủng loại càng ít khó
khăn trong công tác quản trị, huấn luyện, tiếp lìệu và
sửa chữa. Không sử dụng cơ sở do cộng sản chiếm đoạt
của tư nhân.
d. Quan niệm thực
hiện.
Tạm thời giữ nguyên
“quân đội nhân dân” trong khi thực hiện tổ chức, nhưng
các chức vụ chỉ huy phải được bổ nhiệm ngay từ đầu
để nắm vững tình hình tại chổ. Thực hiện tổ chức theo
ưu tiên như sau:
Giai đoạn 1 từ tháng
thứ nhất: Tổ chức các cơ quan đơn vị chỉ huy và yểm
trợ các ngành thuộc trung ương, và các cơ quan chỉ huy cấp
lãnh thổ. Tổ chức các cơ quan đơn vị chỉ huy và các ngành
yểm trợ thuộc quân chủng.
Giai đoạn 2 từ tháng
thứ ba: Tổ chức các đơn vị bộ binh địa phương, các đơn
vị binh chủng, các đơn vị thuộc Hải quân và Không quân.
Giai đoạn 3 từ tháng
thứ sáu: Tổ chức các đại đơn vị bộ binh và các đơn
vị binh chủng trực thuộc.
Giai đoạn 4 từ tháng
thứ chín: Tổ chức các đơn vị bảo vệ biên giới, hải
đảo, và các đơn vị bảo vệ những khu vực trọng yếu.
5. Chính sách kinh tế.
“Chuyển đổi toàn
bộ kinh tế xã hội chủ nghĩa sang kinh tế thị trường. Kỹ
nghệ khai thác, sản xuất, chế biến, nông nghiệp, thương
mãi, dịch vụ, và xuất nhập cảng, trên căn bản khả năng
cạnh tranh phát triển, và tất cả tác động qua lại thúc
đẩy sức phát triển chung của xã hội. Xây dựng nhóm mặt
hàng xuất cảng trên căn bản nhu cầu dài lâu của khách hàng,
thích hợp với khả năng và tiềm năng quốc gia. Kỹ nghệ
dầu hỏa & phó sản dầu hỏa, nông nghiệp, và dịch vụ,
là ba lãnh vực được quan tâm đặc biệt”.
a. Quan niệm phát triển
chiến lược:
(1) Kinh tế phát triển
do thị trường quyết định.
(2) Thành lập cơ quan
phát triển quốc gia trực thuộc chánh phủ, với nhiệm vụ:
- Hoạch định đường
lối phát triển kinh tế dài hạn về chiều sâu (20 hay 25 năm)
lẫn chiều rộng (các ngành trong xã hội) trên nền tảng khả
năng và tiềm năng tài nguyên quốc gia, cộng với sự hợp
tác và đầu tư quốc tế. Không can thiệp vào kế hoạch của
tư nhân mà chỉ nghiên cứu chiến lược phát triển quốc
gia để chánh phủ cung ứng cho thị trường đầu tư trong
lẫn ngoài nước.
- Cung ứng chiến lược
phát triển quốc gia cho nhóm tham mưu giáo dục nghiên cứu
soạn thảo chiến lược giáo dục đào tạo chuyên viên chuyên
gia thích ứng.
- Kế hoạch khôi phục,
tân trang, và xây dựng toàn bộ hệ thống hạ tầng cơ sở,
như: Hệ thống nhiệt điện, thủy điện, hệ thống nước
và thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao
thông đường bộ, đường thủy, hàng không, đường sắt,
kho tồn trữ, bãi chứa hàng, phi cảng, giang cảng, hải cảng,
..v..v...
(3). Quan niệm tư nhân
hóa kinh tế quốc doanh.
- Kiểm kê và định
giá toàn bộ cơ sở, máy móc, nguyên liệu, sản phẩm. Vừa
sản xuất vừa tiến hành thủ tục tư nhân hóa toàn bộ,
đóng cửa ngay từ đầu những công ty không khả năng cạnh
tranh. Những cơ sở mà CSVN tịch thu của tư nhân dưới mọi
hình thức, phải niêm phong chờ giao cơ quan phụ trách hoàn
trả.
(4) Quan niệm dầu
hỏa khí đốt và nông nghiệp.
Duyệt xét lại các thỏa
ước dò tìm khai thác dầu hỏa khí đốt, thảo luận tìm
biện pháp bình đẳng giữa hai bên, nếu cần. Xây dựng mới
hoặc tân trang các nhà máy lọc dầu có khả năng đáp ứng
lượng dầu thô sản xuất. Ngoài các loại nhiên liệu và
nhựa đường, sẽ cung cấp các loại nguyên liệu cho kỹ nghệ
chế biến phó sản dầu hỏa. Đồng thời nghiên cứu kế
hoạch tiếp tục phát triển kỹ nghệ dầu hỏa khí đốt,
cùng lúc dò tìm và khai thác quặng mỏ các ngành kỹ nghệ
khác. Phát triển nông nghiệp được quan tâm đặc biệt, vì
lãnh vực này cùng dầu hỏa khí đốt và dịch vụ, sẽ là
tổng sản phẩm căn bản của quốc gia trong thời kỳ đầu
và sau đó. Bước đầu, những kỹ nghệ quốc phòng thuộc
chánh phủ, từng bước tiến đến tư nhân hóa khi nền kỹ
nghệ phát triển ổn định. Khuyến khích khu vực kinh tế
tư nhân phát triển toàn diện trong mọi điều kiện thuận
lợi mà chánh phủ có trách nhiệm cung ứng.
(5) Quan niệm về ngoại
thương.
Ngoại thương là một
quan tâm đặc biệt khác, bằng cách mở rộng thị trường
xuất cảng hiện có và tìm kiếm thị trường mới, nhất
là thị trường Bắc Mỹ, Âu Châu, Úc Châu. Chuyên viên tiếp
thị và quảng cáo sẽ là một khoa trong bậc đại học, cung
ứng cho ngành thương mãi nội địa và xuất cảng sản phẩm.
Cán cân xuất nhập cảng sẽ góp phần quan trọng trong tiêu
chuẩn đánh giá sức sản xuất và ngoại thương quốc gia.
(6) Quan niệm về nội
thương.
Điều hòa thị trường
trong nước bằng cách cung ứng sản phẩm đến người tiêu
thụ giữa các vùng các miền của đất nước là mối quan
tâm hàng đầu. Khuyến khích và hỗ trợ hệ thống tiểu thương
phát triển. Ngành tiểu thương “xương sống của nội thương”,
bởi ngành này mặc nhiên đảm nhiệm vai trò thiết yếu cho
sinh hoạt nông thôn vùng đồng bằng, bản làng trên cao nguyên
rừng núi, và hải đảo xa xôi.
(7) Quan niệm phát
triển khu Rừng Sát.
Tạo điều kiện thuận
lợi cho dự án xây dựng khu Rừng Sát thành khu chế xuất,
nối liền Thủ Thiêm với Vũng Tàu, từ đó mở rộng hải
cảng Vũng Tàu thay thế một phần hải cảng Khánh Hội, Sài
Gòn. Khu chế xuất này cũng là khu du lịch với nhiều thắng
cảnh thiên nhiên lẫn nhân tạo. Khu chế xuất Jurong Town của
Singapore là một kinh nghiệm tốt cho công cuộc nghiên cứu
thực hiện.
6. Chính sách tài chánh.
“Trong thời kỳ chuyển
tiếp, phối hợp với các chủ trương mục và các tổ
chức tài chánh quốc tế, tìm biện pháp thích hợp giải quyết
khối tài chánh ký thác trong các ngân hàng. Thuế vụ phù hợp
từng bước với mức sinh hoạt xã hội. Phục vụ nền kinh
tế phát triển. Nâng đỡ ngành tiểu thương. Bảo đảm mức
sống tối thiểu của người dân. Hỗ trợ mọi thành phần
trong xã hội -nhất là tuổi trẻ- thăng tiến trong lãnh vực
giáo dục”.
a. Quan niệm ngân sách.
Xây dựng ngân sách quốc
gia trên căn bản các nguồn thuế và các nguồn thu khác, kể
cả viện trợ trong bước đầu.
b. Quan niệm đổi
tiền.
Khi chế độ độc tài
sụp đổ, trữ kim và ngoại tệ trong ngân hàng quốc gia và
các ngân khố có thể sẽ là không đáng kể, thậm chí là
con số không, vì bản chất cướp đoạt của nhóm lãnh đạo
CSVN. Trường hợp này, chánh phủ lâm thời sẽ không có tài
chánh điều hành xã hội, dù rằng ngay trong giai đoạn đầu
có thể sẽ nhận được những khoản viện trợ quốc tế
cấp thời và những khoản tiếp trợ do Cộng Đồng Việt
Nam tị nạn hải ngoại chung góp chuyển về.
Đổi tiền là điều
cần thiết để thay thế các loại tiền đang lưu hành tại
Việt Nam, với những qui định giá cả một số khu vực thiết
yếu góp phần ổn định xã hội.
c. Quan niệm tiền
lương và hưu bổng.
Cần nghiên cứu chế
độ tiền lương và hưu bổng của vài quốc gia như Hoa Kỳ
phát triển mạnh ở Châu Mỹ, Đài Loan đang phát triển ở
Á Châu, hoặc như Phi Luật Tân mới phát triển chẳng hạn,
đồng thời nghiên cứu thực trạng Việt Nam lúc bấy giờ
để soạn thảo một chế độ tiền lương và hưu bổng thích
hợp cho hoàn cảnh Việt Nam trong tương lai 20 hay 30 năm sau.
Chính chế độ tiền lương và hưu bổng sẽ góp phần quan
trọng trong một xã hội ổn định sinh hoạt. Tiền lương
trong ngành giáo dục cần được quan tâm, vì đây là ngành
duy nhất đào tạo con người có nhân cách, có kiến thức
tổng quát, kiến thức chuyên môn, và có tinh thần trách nhiệm
cộng đồng.
d. Quan niệm ngân hàng.
Ngân hàng trên căn bản
tư nhân.Trong giai đoạn đầu, cần phối hợp với các ngân
hàng, các chủ trương mục, và các tổ chức tài chánh quốc
tế, nghiên cứu biện pháp giải quyết thỏa đáng về khối
tài chánh ký thác trong các ngân hàng. Cũng trong giai đoạn
này, cần khuyến khích ngành nông nghiệp và tiểu thương phát
triển. Chánh phủ thiết lập ngân hàng phát triển hỗ trợ
tiểu nông gia và tiểu thương gia với lãi suất nâng đỡ
đến mức chấp nhận được, và gia tăng tùy thay đổi mức
phát triển chung của xã hội. Hỗ trợ mọi người trong xã
hội, nhất là tuổi trẻ, thăng tiến trên đường học vấn,
đặc biệt là sinh viên đại học.
e. Quan niệm nợ ngoại
quốc.
Duyệt xét toàn bộ nợ
ngoại quốc, nhưng khẳng định không xét đến nợ cũ từ
các quốc gia cộng sản liên quan đến các loại dụng cụ
chiến tranh cung cấp cho nước VNDCCH sử dụng trong chiến tranh
xâm lăng VNCH và xâm lăng quốc gia láng giềng Cam Bốt (Camphchia),
trừ trường hợp có lợi cho quốc gia trong bang giao quốc tế
sẽ cứu xét đặc biệt.
f. Quan niệm tài sản
quốc gia.
Truy cứu các loại tài
sản bị thất thoát bất cứ dưới hình thức nào. Duyệt
xét và điều chỉnh cần thiết những hồ sơ bán bất động
sản cho cá nhân cũng như các tổ chức trong nước lẫn ngoài
nước. Những mờ ám trong hằng ngàn hồ sơ mua bán đất đai
chắc chắn là đầy dẫy, cần duyệt xét minh bạch và tu chỉnh
cần thiết trên căn bản bảo vệ quyền lợi quốc gia trong
bang giao quốc tế.
Thu thập các dữ kiện
về khối tài sản bất chánh mà lãnh đạo CSVN các cấp đã
bí mật ký thác vào các ngân hàng ngoại quốc hoặc bí mật
chuyển nhượng trong thân nhân họ hàng gần xa, dựa trên công
pháp quốc tế và những vận động khác trong mục đích thu
hồi vào tài sản quốc gia mà trước mắt là phong tỏa các
trương mục đó. “Tài sản bất chánh” là tài sản không
tự họ tạo nên một cách minh bạch, cũng gọi là “đồng
tiên dơ”.
g. Quan niệm về an
sinh xã hội.
Bảo đảm cho người
có lợi tức thấp hoặc không có lợi tức từ bản thân cũng
như từ các thân nhân, cần được nghiên cứu sâu rộng để
có thể áp dụng sau thời gian 20 hay 30 năm.
7. Chính sách giáo
dục.
“Con người là
yếu tố quan trọng bậc nhất trong xây dựng và phát triển
đất nước. Vậy, giáo dục phải đào tạo con người tôn
trọng đạo nghĩa, giáo dục phải phối hợp với các ngành
để đào tạo con người trở thành chuyên viên chuyên gia thích
ứng với nhu cầu của các ngành sinh hoạt quốc gia, có căn
bản vững chắc về tổ chức & quản trị xã hội, và
có tinh thần trách nhiệm cộng đồng trong mọi sinh hoạt phục
vụ lợi ích chung”.
a. Quan niệm tổ chức.
Thiết lập hệ thống
giáo dục khai phóng, nhân bản, khoa học. Hệ thống giáo dục
bao gồm: (1) Tiểu học 6 năm -kể cả lớp mẫu giáo-
tính theo điểm. (2) Trung học 7 năm theo chế độ thi
tốt nghiệp. (3) Đại học và trên đại học, tốt nghiệp
theo luận án.
Khi hệ thống giáo dục
ổn định đội ngũ sư phạm và sách giáo khoa ở mức độ
chấp nhận, sẽ áp dụng tốt nghiệp trung học theo điểm,
tốt nghiệp đại học theo tín chỉ, và tốt nghiệp trên đại
học theo luận án. Từng bước, tạo cơ hội cho bậc đại
học tự trị. Quan niệm này có vẻ như quay lại từ hai ba
thập niên trước? Đúng. Vì giáo dục xã hội chủ nghĩa đã
phá tan nền nếp, nên giờ đây phải quay lại từ đầu.
Cưỡng bách giáo dục
đến hết bậc trung học. Đại học cộng đồng trở lên,
đào tạo chuyên viên chuyên gia, với giờ học uyển chuyển
trong mục đích tạo cơ hội giúp sinh viên có ý chí tiến
thân trau dồi kiến thức trong từng hoàn cảnh thích hợp.
Sự phối hợp chặt chẻ với các ngành sinh hoạt quốc gia,
nhất là kinh tế tài chánh, khoa học kỹ thuật, và văn học
nghệ thuật, sẽ giúp ngành giáo dục đào tạo chuyên viên
chuyên gia thích hợp với nhu cầu xây dựng và phát triển
xã hội, đồng thời đào tạo đội ngũ chuyên gia cho bản
thân ngành giáo dục vững chắc về sư phạm, thi cử, lượng
giá, sách giáo khoa, ..v..v..
Khuyến khích hệ thống
trường tư theo chương trình giáo dục của ngành, góp phần
trách nhiệm với hệ thống trường công, trong mục đích đào
tạo những thế hệ công dân đúng nghĩa cho đất nước.
b. Quan niệm nhân sự.
Giáo dục là nền tảng
của phát triển xã hội. Do vậy, bản thân ngành giáo dục
cần một đội ngũ nhân sự, có tinh thần trách nhiệm với
quốc gia dân tộc, có kiến thức khoa học kỹ thuật, có kỹ
thuật lẫn nghệ thuật sư phạm, để thực hiện mục đích
cao quí mà xã hội luôn kỳ vọng vào nền giáo dục trong trách
nhiệm đào tạo hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ thật sự là
rường cột quốc gia.
Đó là mục đích phải
đạt, nhưng trước mắt phải chọn lọc và sử dụng tối
đa nhân sự hiện có trong hệ thống giáo dục của chế độ
sụp đổ để lại, cộng với số nhân sự của thời Việt
Nam Cộng Hòa chúng ta còn lại, và thu nhận theo hợp đồng
với các giáo viên giáo sư mới. Sức khỏe và khả năng được
chú trọng trong công tác chọn lọc. Sự sử dụng tạm thời
này dần dần sẽ hoàn chỉnh số nhân sự đào tạo theo chương
trình bổ túc và chương trình dài hạn, để có được đội
ngũ sư phạm trong mục đích chiến lược giáo dục. Từng
bước khôi phục lại truyền thống “tôn sư trọng đạo”
thời trước, góp phần khôi phục niềm tin, khôi phục niềm
hãnh diện của nhà giáo, một thành phần xứng đáng được
toàn xã hội tôn trọng, nhất là lòng kính trọng của học
sinh sinh viên.
c. Quan niệm sách giáo
khoa.
Nội dung sách giáo khoa
phải truyền đạt cho những thế hệ trẻ trở thành những
thế hệ công dân có phẩm cách đạo đức và kiến thức
khoa học kỹ thuật cho đất nước. Những sai sót của nó
sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng dài lâu trong xã hội. Do vậy,
công tác tham mưu trong chuẩn bị, biên soạn, ấn loát, cần
phải một thời gian dài khả dĩ đủ để thực hiện. Có
thể tiên đoán hầu hết những loại sách giáo khoa của cộng
sản sẽ không thể sử dụng. Đây là vấn đề thật sự
gai góc trong giai đoạn đầu ước tính phải 5 năm trở lên.
d. Quan niệm điều
hành.
Công tác tổ chức song
song với trách nhiệm điều hành hệ thống giáo dục ngay từ
ngày đầu tiên. Tổ chức đến đâu giải thể đến đó.
Đặc biệt là tất cả các trường học mang tên các nhân
vật, tổ chức, hay địa danh liên quan đến cộng sản, đều
phải thay thế ngay trong bước đầu. Các chức vụ đứng đầu
(Hiệu trưởng, Viện trưởng , ..v..v..) cũng như “giáo viên
giáo sư giảng sư” tại các trường tiểu học, trung học,
đại học, phải được thống nhất tên gọi. Đồng thời
bổ nhiệm các giáo viên giáo sư thích hợp với khả năng.
Thay thế toàn bộ các tiêu đề trên các công văn trong hệ
thống giáo dục. Trong thời gian đầu, có thể ủy quyền chọn
lọc và bổ nhiệm nhân sự tại địa phương cho cấp lãnh
đạo giáo dục địa phương, để giải quyết nhanh chóng và
thích ứng tạm thời.
Giáo dục là nền tảng
phát triển con người, từ đó, góp phần phát triển xã hội.
Vì vậy, đội ngũ sư phạm với nội dung sách giáo khoa các
bậc trong hệ thống giáo dục, thật sự là vấn đề tối
quan trọng mà tiểu ban tham mưu giáo dục phải nhiều công
sức khi phác thảo những kế hoạch chi tiết cho từng mục
tiêu.
8. Chính sách luật
pháp.
“Mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật, bất luận người đó là vị
lãnh đạo cao nhất nước hay người dân bình thường. Dân
chủ pháp trị, là nền tảng cư xử giữa công dân với hành
chánh công quyền. Người Việt Nam định cư ở ngoại quốc,
đương nhiên là công dân Việt Nam, và được quyền có thêm
một quốc tịch.
a. Quan niệm luật
pháp.
Cũng như các ngành sinh
hoạt quốc gia, luật pháp phải thể hiện một góc của văn
hoá dân tộc, vì vậy, luật pháp được xây dựng trên căn
bản dân tộc. Nhìn vào một góc khác trong cuộc sống hợp
quần giữa nhân loại, bối cảnh chính trị trong cộng đồng
quốc tế thời đại ngày nay là hợp tác phát triển, từ
đó dẫn đến sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa
các quốc gia. Vì vậy, luật pháp được xây dựng trên căn
bản dân tộc, kết hợp hài hòa với luật pháp được thừa
nhận trên thế giới. Trong đó, những công ước công pháp
quốc tế được tổ chức Liên Hiệp Quốc hay tổ chức tương
đương sau này, xây dựng trong mục đích góp phần tạo nên
một thế giới hòa bình, hợp tác, và phát triển bền vững,
được xem là tiêu biểu.
b. Quan niệm dân chủ
pháp trị.
Khái niệm tổng quát
là mọi sinh hoạt cá nhân, trong gia đình, trong tổ chức, bất
luận là tổ chức lớn hay nhỏ, kể cả những vị lãnh đạo
cũng như những cơ quan cao nhất của quốc gia, khi có bất
cứ hành động nào không đúng qui định của luật pháp, đều
do luật pháp xét xử, mà không một cá nhân hay một cơ quan
nào có thẩm quyền phán xét. Do đó, hệ thống luật pháp
phải dự liệu trường hợp xảy ra từ trong mọi ngóc ngách
của sinh hoạt xã hội, qui định cơ quan tư pháp có chức
năng xử lý, và qui định biện pháp chế tài thích ứng. Nói
chung, xã hội dân chủ pháp trị, là một xã hội đặt trên
căn bản kỷ cương trong một hệ thống tư pháp độc lập,
với sự tham gia tích cực của những công dân được xác
nhận đủ tư cách, để tránh ảnh hưởng của bất cứ cá
nhân hay tổ chức nào, trong hay ngoài chánh phủ.
c. Quan niệm nhân sự.
Với một thể chế như
vậy sẽ cần rất nhiều luật gia. Các trường đại học
luật, với những kế hoạch phối hợp trong dài hạn, đào
tạo nhân sự thích ứng theo từng bước phát triển của ngành
để đạt đến mục tiêu. Những sinh viên luật khoa khi tốt
nghiệp, có được một hành trang kiến thức khả dĩ đủ
thi hành chức năng ngành tư pháp, giữ thăng bằng trong mọi
ngành sinh hoạt xã hội về chính sách dân chủ pháp trị,
và những va chạm giữa mọi công dân hay những tổ chức trong
hoặc ngoài chánh phủ Việt Nam, với quốc tế. Thực hiện
được chính sách dân chủ pháp trị, nặng nhất là ngành
giáo dục, đảm trách vai trò và trách nhiệm chính yếu qua
từng bước thích hợp nhu cầu với khả năng, vừa nâng cao
dân trí, vừa đào tạo đội ngũ luật gia theo yêu cầu của
ngành tư pháp nói riêng và nhu cầu xã hội nói chung.
d. Quan niệm sự bình
đẳng trước pháp luật.
Mọi công dân Việt Nam
cũng như người ngoại quốc khi phạm luật, đều bị chi phối
của luật pháp một cách bình đẳng. Không một ai, kể cả
vị lãnh đạo cao nhất nước, đứng bên ngoài hay bên trên
luật pháp. Trong cuộc sống về mặt xã hội, khi chào đời
mọi hài nhi đều bình đẳng, khi đi học mọi học sinh đều
bình đẳng, khi làm việc mọi người đều bình đẳng theo
kiến thức của mình, khi phạm luật mọi người cũng bình
đẳng trước pháp luật.
Dân chủ pháp trị là
một trong ba điểm của nguyện vọng toàn dân. Trong một xã
hội mà mọi người được hưởng đầy đủ các quyền tự
do căn bản, với nền dân chủ pháp trị là điều kiện thuận
lợi góp phần giúp công dân thành đạt mục đích mưu cầu
hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình, và góp phần tạo nên
một xã hội hạnh phúc.
9. Chính sách du lịch.
“Du lịch là một
ngành kỹ nghệ, mở rộng cửa đón du khách thưởng ngoạn
thắng cảnh thiên nhiên, thắng cảnh nhân tạo, những sinh
hoạt trong đời sống văn hoá dân tộc, những di tích lịch
sử, những hành vi tội ác của chế độ độc tài trong chiến
tranh và sau chiến tranh, gồm cả cơ sở bảo tàng những vật
chứng trong cuộc vượt biên vượt biển tìm tự do vĩ đại
nhất và bi thảm nhất trong lịch sử nhân loại 1975-1995, cùng
những thành công của cộng đồng Việt Nam tị nạn cộng
sản tại hải ngoại trong nhiều lãnh vực tại các quốc gia
định cư. Đây không phải nuôi dưỡng thù hận chế độ
sụp đổ, mà là để mọi người nhận ra tính chất tàn bạo
của một chủ nghĩa trên thế giới như tính chất tàn bạo
của chủ nghĩa phát xít trong đệ nhị thế chiến để những
thế hệ sau này không phạm phải sai lầm tàn bạo đó”.
a. Quan niệm khách
du lịch.
Khách du lịch, gồm:
Những người trong nước, người Việt Nam từ nước ngoài
về thăm quê hương, và người ngoại quốc đến Việt Nam
với tư cách cá nhân du lịch, hoặc với tư cách doanh gia vừa
đầu tư kinh doanh sản xuất vừa du lịch.
b. Quan niệm cách thu
hút khách du lịch.
Du lịch được nhìn
dưới khía cạnh chiến lược, bao gồm tất cả những gì
phục vụ cho ngành du lịch, từ tiếp thị, bán vé (tại ngoại
quốc), vận chuyển, đón tiếp (tại Việt Nam), khách sạn,
đổi tiền, đến hướng dẫn, quà kỷ niệm, giải quyết
những trở ngại, ..v..v.. cho khách. Phát triển những cảnh
trí thiên nhiên đang sử dụng, và khai thác những khu vực
mới để đưa vào sử dụng trong ngành này. Những trận chiến
trong lịch sử xưa và nay, được dựng lại với những địa
thế, những sa bàn, những phim ảnh, cùng những vật chứng
liên quan, khả dĩ đủ nói lên tính cách ác liệt cũng như
tính cách quyết định chiến trường của một số trận địa
mà một thời thế giới đã biết đến.
Phát triển cảnh trí
nhân tạo đang sử dụng và những cảnh trí sẽ tạo thêm.
Trùng tu và bảo tồn những di tích lịch sử đã được Cơ
Quan Văn Hoá Liên Hiệp Quốc công nhận, đồng thời trùng
tu các cơ sở có khả năng nâng lên hàng di tích lịch sử.
Các viện bảo tàng các ngành sinh hoạt quốc gia qua các thời
đại, cùng các phòng trưng bày mỹ thuật xưa và nay. Một
hệ thống vận chuyển, hay ít nhất cũng là những phương
tiện vận chuyển công cộng tốt trong thành phố, vận chuyển
giữa các thành phố, và vận chuyển trên các lộ trình đường
bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, nối
liền các thành phố với các khu du lịch trên toàn quốc, đất
liền cũng như các hải đảo. Nhà Văn Hoá tại mỗi miền
trình diễn âm nhạc dân tộc, trình diễn những lễ hội truyền
thống dân gian. Các phi cảng đủ tiện nghi, các khách sạn,
nhà hàng, những khu buôn bán sản phẩm thủ công mỹ thuật,
mà du khách rất sẳn lòng đôi khi rất hào phóng khi mua sắm
những vật kỷ niệm cho chuyến đi của họ. Những đạo luật
của Lập Pháp cùng những nguyên tắc qui định bởi Hành Pháp,
càng góp phần tạo thêm thuận lợi thu hút du khách.
c. Quan niệm tổ chức.
Những cảnh trí thiên
nhiên lẫn cảnh trí nhân tạo, cộng với ngành hàng không
và các phi cảng tiện nghi lẫn nguyên tắc quản trị phóng
khoáng, và hệ thống cơ sở khách sạn nhà hàng, có khả
năng thu hút du khách. Nhưng một hệ thống cơ sở dịch vụ
bán vé phi cơ và tổ chức các chuyến du lịch có hướng dẫn,
càng tạo thêm thuận lợi cho du khách. Hệ thống này được
thiết lập trong nước lẫn ngoài nước, nếu không thể có
mặt tại nhiều quốc gia, thì ít nhất cũng cần có cơ sở
dịch vụ du lịch tại các quốc gia mà chúng ta đánh giá
là hằng năm có nhiều công dân tại đó xuất ngoại du lịch,
nhất là du lịch các nước Á Châu. Các cơ sở này cũng là
nơi “tìm kiếm thị trường”, nhưng thay vì tìm thị trường
bán sản phẩm hàng hoá, thì dịch vụ này tìm du khách đến
Việt Nam du lịch để bán vé phi cơ. “Sản phẩm” của hệ
thống cơ sở dịch vụ là thực hiện toàn bộ nhu cầu cho
từng chuyến du lịch của khách, giúp họ chỉ cần đến một
nơi là đủ cho nhu cầu căn bản trong chuyến đi của họ.
Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại rất kinh nghiệm
trong lãnh vực này.
Du lịch là “một kỹ
nghệ không khói” có khả năng đóng góp quan trọng vào tổng
sản phẩm quốc gia hằng năm (GDP), nhưng nguy cơ thua lỗ thấp
hơn nhiều so với những ngành kinh doanh khác. Đành rằng thu
nhập vẫn là thiết yếu, nhưng cốt lõi của mục tiêu là
phải đạt được một trong những mục tiêu chính của quốc
gia, bằng cách cung ứng cho du khách nhất là du khách ngoại
quốc, trong một mức độ nào đó, thưởng ngoạn được cảnh
trí quê hương, đồng thời hiểu sâu thêm những nét đẹp
của văn hoá dân tộc Việt Nam từ nhiều ngàn năm trong lịch
sử.
10. Chính sách tìm
và trả tài sản tư nhân.
“Nghiên cứu một
kế hoạch hoàn chỉnh và thực hiện công tác hoàn trả tất
cả động sản và bất động sản còn kiểm soát được cho
các sở hữu chủ hợp pháp, mà trước đó bị nhà nước
cộng sản tịch thu và còn nắm quyền quản trị hay đã chuyển
quyền quản trị cho cá nhân hay tổ chức bất cứ hình thức
nào”.
a. Quan niệm tài sản
tư nhân.
Tài sản tư nhân bị
tịch thu là mọi loại tài sản của tư nhân mà bộ máy cầm
quyền cộng sản đã chiếm đoạt bất cứ hình thức nào.
Loại tài sản bị CSVN tịch thu từ mùa thu 1945, chỉ xét đến
những bất động sản còn kiểm chứng được. Loại tài sản
bị CSVN tịch thu từ đầu năm 1975, gồm cả những động
sản, bất động sản, và những loại tài sản khác còn kiểm
chứng được. Đây là vấn đề xã hội dai dẳng nhất và
phức tạp nhất đối với bất cứ vấn đề xã hội nào
khác, ngay cả định nghĩa “thế nào là chủ hợp pháp”
đối với tài sản bị tịch thu hằng bốn năm chục năm trước,
đã là phức tạp đáng kể trước khi bắt tay vào việc.
b. Quan niệm tổ chức.
Thành lập một cơ quan
cấp trung ương, có trách nhiệm kiểm kê tài sản tư nhân
đã bị CSVN tịch thu dưới mọi hình thức và hoàn trả cho
chủ hợp pháp, có tên gọi “Cơ Quan Hoàn Trả Tài Sản Tư
Nhân” do vị Phó Thủ Tướng hoặc tương đương đứng đầu.
Tổ chức một cơ quan cấp địa phương tại mỗi thành phố
lớn, thống thuộc hành chánh địa phương về chỉ huy và
thống thuộc Cơ Quan Hoàn Trả Tài Sản Tư Nhân về chuyên
môn. Để tránh sự cồng kềnh về tổ chức, chỉ nên thành
lập các cơ quan tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải
Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẳng, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Sài Gòn,
Mỹ Tho, Cần Thơ, và Long Xuyên. Các cơ quan tại đó, cử những
toán công tác đến các thành phố nhỏ trong phạm vi trách
nhiệm, nếu những địa phương đó có những tài sản tư
nhân bị CSVN tịch thu.
c. Quan niệm điều
hành.
Trước khi bắt đầu
cuộc kiểm kê trên toàn quốc, phải thông báo rộng rãi trên
các loại phương tiện truyền thông đại chúng trong một thời
gian ước tính đủ để đồng bào hiểu rõ chính sách của
chánh phủ, và hiểu rõ những gì mà những chủ nhân hợp
pháp phải làm. Trong nội dung các thông báo đó, cần nói rõ
những biện pháp trừng phạt những ai lợi dụng chính sách
này để tranh đoạt tài sản không thật sự của họ. Sau
đó, trong cùng thời gian, vừa tiếp nhận các hồ sơ của
đồng bào về những tài sản của họ đã bị CSVN tịch thu,
vừa tiến hành kiểm kê.
Phương thức điều hành
căn bản để hoàn thành một hồ sơ:
Một, xét tính cách hợp
pháp của người đứng tên trên hồ sơ.
Hai, nếu người đứng
tên là chủ hợp pháp, kiểm chứng tài sản ghi trong hồ sơ
với tài sản hiện do cơ quan kiểm kê và quản trị. Nếu
sai biệt thiếu hoặc thừa, yêu cầu người đứng tên xác
nhận lại.
Và ba, tài sản
nào hoàn trả ngay được thì hoàn trả, tài sản nào cần
kiểm chứng thêm thì tiếp tục cho đến khi giải quyết xong
với sự thỏa thuận của người chủ hợp pháp. Công tác
này khó đạt được sự hoàn hảo, nhất là đối với những
tài sản bị CSVN tịch thu hằng chục năm hoặc nhiều chục
năm trước, và họ đã chuyển nhượng nhiều lần nhất là
thời gian ngay trước và sau khi cộng sản sụp đổ, vì vậy
giữa cơ quan với người chủ hợp pháp cần phải cộng tác
nhau để giải quyết trên căn bản đồng thuận, nhưng phải
chịu mọi chế tài của luật pháp nếu có gian dối khi bị
phát hiện. Cũng cần thận trọng về phía viên chức phụ
trách, vì đây là vấn đề nhạy cảm dễ gây tai tiếng không
tốt ảnh hưởng đến chính sách.
Houston, ngày 10 tháng
3 năm 2007
Nhật tu ngày 20 tháng
10 năm 2008.
Chủ Tịch Ủy Ban Thường
Trực
Alpha Phạm Bá Hoa
(khóa 5) |