| Chuyện tản mạn trong bài này là
một phần kỷ niệm của tôi trong 21 năm quân ngũ. Tuy quê
hương chúng ta đang bị cai trị bởi chế độ cộng sản độc
tài, nhưng quê hương vẫn mãi mãi trong lòng chúng ta, trong
lòng những người Việt Nam sống và phụng sự quốc gia dân
tộc. Tuy quân đội mà tôi là một thành viên nhỏ bé li ti
trong đó, đã bị vị Tổng Thống cuối cùng khai tử, nhưng
quân đội đó vẫn mãi mãi trong tôi với tất cả niềm hảnh
diện của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, cho dù là người
lính thua trận cuối cùng của một giai đoạn chiến chinh.
Tôi nhập ngũ ngày 12 tháng 5 năm
1954, nhưng mãi đến thượng tuần tháng 6 (1954) mới chuyển
đến Trường Võ Khoa Thủ Đức. Vì cơ sở trường không còn
khả năng tiếp nhận, nên hơn trăm "lính mới" được gởi
lên Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Tôi có mặt trong số
này. Tại đây đã có hơn trăm bạn từ Hà Nội vào trước
và tổ chức thành Đại Đội 7 với các Trung Đội 25, 26,
27, 28. Anh em chúng tôi từ Thủ Đức lên, tổ chức thành Đại
Đội 8 với các Trung Đội 29, 30, 31, 32. Vậy là 2 đại đội
chúng tôi thuộc "khóa 5 sinh viên sĩ quan trừ bị Thủ Đức"
nhưng học nhờ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Cuối khóa,
2 Đại Đội chúng tôi về Thủ Đức để cùng cả khóa hơn
1.000 sinh viên dự lễ tốt nghiệp tại thủ đô Sài Gòn.
1. Trường Võ Khoa Thủ Đức với
một ngày chủ nhật.
Trường Thủ Đức cho tôi kỷ niệm
đầu đời quân ngũ thật khó mà quên được, như thể mối
tình đầu chẳng mấy ai quên vậy.
Chuyện thế này. Cơ sở trường
hết khả năng, chúng tôi đến sau phải ở trong các lều vải
thẳng hàng ngang dọc trên sân cỏ. Bình thường đã nóng,
trong lều vải càng nóng hơn. Chỉ có đêm mới nằm trên giường,
còn ban ngày phải nằm trên cỏ và dưới gầm giường mà
nhìn các Trung Đội sinh viên cắp sách đi học, hoặc tập
cơ bản thao diễn ở võ đình trường. Sức nóng như giảm
bớt phần nào nhờ có tấm nệm bên trên. Trong cái nhàn rỗi
đó, thôi thì chúng tôi kể cho nhau nghe những chuyện trên
trời dưới biển, toàn là chuyện nghe qua rồi bỏ không hà.
Rồi trông đến chủ nhật, ......
Đây là chân dung một sáng chủ
nhật. Từng nhóm thân nhân mà nổi nhất là những thiếu nữ
trong những chiếc áo dài tha thướt trong gió, đẹp ơi là
đẹp, vào thăm anh em hoặc người yêu vì các sinh viên còn
trong giai đoạn 1, chưa được chính thức công nhận là sinh
viên nên chưa được về phép cuối tuần. Các chàng sinh viên
oai dũng của chúng tôi -nhưng không phải chúng tôi- trong bộ
quân phục số 2 tức bộ ka-ki vàng, thắt cà vạt đen, chiếc
bê-rê màu tím than trên mái tóc mà sợi dài nhất không quá
3 phân tây, nghiêng nghiêng về bên trái trông rất dễ thương.
Với đôi giày da thấp cổ, thật bóng, cũng màu đen. Các sinh
viên ngồi tản mác dọc đường từ cổng chánh vào, chờ
đón thân nhân. "Cư dân thị trấn lều vải" chúng tôi, người
có quân trang người thì chưa nên áo quần trông chẳng giống
ai hết trơn. Ấy thế mà cũng ráng hòa vào "hàng ngũ sinh viên"
để hy vọng có ai đó đến thăm, hay ít ra cũng tránh được
những giờ phải nhìn cái gầm giường màu xanh ô liu với
những chấm rỉ sét, cho dù không muốn nhìn cũng không được.
Bỗng, trông thấy một cô tách ra khỏi nhóm, bước nhanh vào,
cùng lúc ấy anh sinh viên đi ra thật nhanh. Và rồi, hai người
choàng tay nhau thật là thắm thiết. Cô nàng tròn trịa trắng
trẻo lần lượt chìa hai bên má cho anh chàng hôn. Đến cô
thứ nhì cũng vậy, làm cả bọn chúng tôi trố mắt há mồm
muốn méo luôn. Hỏi ra mới biết các bạn trẻ đó là anh
em với nhau. Trời đất ơi, năm 1954 mà như vậy là "tây" lắm,
phải không các bạn?
2. Trường Võ Bị Liên Quân Đà
Lạt cuối giai đoạn 1.
Thuở chúng tôi học, suốt khóa
chia làm 2 giai đoạn. Trong giai đoạn 1, chúng tôi "học làm
lính", hay nói cho đúng là học phần căn bản của người
lính để thấu hiểu những khó khăn của người dưới quyền
chỉ huy của mình trong tương lai mà giao nhiệm vụ thích hợp
với khả năng, phương tiện, và thời gian thi hành. Cuối giai
đoạn này, chúng tôi phải hoàn tất chuyến di hành trước
khi thi giai đoạn 1. Nếu đủ điểm, lúc ấy mới được công
nhận là "sinh viên sĩ quan" trong buổi lễ truyền thống được
tổ chức ban đêm. Và tiếp tục giai đoạn 2. Nếu thiếu điểm,
sẽ chuyển đến thụ huấn tại trường Hạ sĩ quan thuộc
Quân khu đã trình diện.
Hôm đó là buổi chiều, Đại Đội
8 chúng tôi -Đại Đội Trưởng là Trung Úy Phạm Ngọc Thiệp-
được quân xa nhà trường đưa lên Suối Vàng (còn gọi là
Ankroet), căng lều cá nhân ngủ qua đêm. Nơi đây là triền
đồi thoai thoải. Ánh trăng lưỡi liềm không đủ sáng giữa
bầu trời lấp lánh những vì sao. Gối đầu lên cái túi đeo
lưng đầy ấp các thứ linh tinh lỉnh kỉnh bên trong, nhìn
những áng mây trôi lơ lững, lắng nghe tiếng thông reo vi vu
trên đỉnh đồi, chen lẫn vào âm thanh dòng suối vỗ đều
vào thành đá. Ôi chao! Êm đềm biết bao! Thơ mộng biết bao!
Đâu phải "người lính mới" chỉ biết có bài học vũ khí
hay địa hình, cơ bản thao diễn hay quân phong quân kỷ, mà
một góc trong tâm hồn chúng tôi vẫn nguyên vẹn phần thưởng
thức nét đẹp nét thơ giữa cảnh trí thiên nhiên, với đôi
chút lãng mạn của tuổi trẻ.
Nửa đêm, một bạn trong phiên gác
giật hỏa châu cầm tay chiếu sáng một góc đồi thông và
thung lũng Ankroet. Hỏa châu trôi lơ lững theo làn gíó nhẹ,
trông cũng hay hay. Nhưng, bỗng chốc hỏa châu sà lên mái đồn
trên đỉnh đồi. Và bốc cháy. Thiếu Úy Phạm Văn Phúc, Trung
Đội Trưởng của tôi, vực chúng tôi dậy và cùng nhau lên
đồi chữa cháy. Lên đến nơi, cái đồn chỉ còn lại vài
thân gỗ với đống tro của mái lợp vì "thần lửa" lướt
qua là thiêu rụi hết trơn. Sau khi thương lượng với trưởng
đồn, mỗi người chúng tôi -những chàng chuẩn sinh viên sĩ
quan trừ bị- chung góp 50 đồng gọi là bồi thường thiệt
hại.
Mờ sáng, chúng tôi điểm tâm với
ổ bánh mì, trái chuối già, cùng miếng phó-mát hiệu "con
bò cái cười" mang theo từ trưa qua. Thu dọn xong là bắt đầu
chuyến di hành băng rừng. Màn sương dày đặc, che áng tầm
nhìn người sau với lưng người đi trước. Vì vậy mà đi
rất chậm. Lối đi là đường mòn trong cánh rừng rậm toàn
những hàng cây cao vút, quanh co khúc khuỷu, không thể sử
dụng địa bàn được. Có lẽ nhà trường đã có kinh nghiệm
nên mướn người thiểu số địa phương dẫn đường. Đến
trưa, chúng tôi đến làng Pantheng. Rãi rác cạnh các gốc cây,
chúng tôi moi ra từ trong túi đeo lưng, ổ bánh mì cuối cùng
với hộp cá mòi cũng là cuối cùng. Quai hàm làm việc một
lúc là mọi thứ sạch nhẵn. Mệt thì có mệt, nhưng nhờ
cái lạnh quanh năm của Đà Lạt nên ngồi nghỉ một lúc là
hồi phục ngay. Và rồi lại lên đường vì Trung Úy Thiệp
muốn Đại Đội đến làng Teurnumm trước lúc mặt trời lặn.
Đoạn đường khá nhiều dốc cao, cũng đến 5-6 chục độ
chớ không ít. Leo lên trượt xuống, có bạn phải vài lần
mới lên được đầu dốc, tức là lên đường đỉnh. Khi
ánh mặt trời xuống gần các đỉnh núi xa xa thì Đại Đội
chúng tôi đến "mục tiêu". Các Trung Đội dựng lều ngủ
đêm cách làng độ trăm thước.
Ba anh em chúng tôi -Nguyễn Ngọc
Nam, Trần Văn Lan, và tôi- ăn chung và ngủ chung lều. Cơm chiều
xong là bốc thăm các phiên gác đêm. Mỗi phiên 2 tiếng đồng
hồ, bắt đầu lúc 7 giờ. Trần Văn Lan gác phiên đầu, tôi
phiên kế tiếp, và Nguyễn Ngọc Nam sau tôi. Tôi vào lều một
lúc thì nghe tiếng hô đúng như bài học lính gác giặc:
"Ai đó. Đứng lại. Không thì tôi
bắn".
Anh chàng Nam hô 3 lần. Và sau lần
thứ 3 là "đoành" 1 phát súng trường MAS 36. Cả Trung Đội
bật dậy. Ra khỏi lều. Súng cầm tay cứ như sắp xung trận
đến nơi vậy. Chưa kịp biết việc gì xảy ra, chúng tôi
liền cười vang bởi tiếng oẳn oẳn của con chó xa dần theo
hướng vào làng. Chẳng là con chó trong làng mò ra tìm thức
ăn thừa, hắn đi sột soạt từ đám cỏ này sang đám cỏ
kia làm anh "lính gác giặc" của Trung Đội chúng tôi hoảng
quá, cứ tưởng "quân địch" sắp nổ súng nên anh thi hành
đúng "tiêu lệnh". Kết quả là con chó què 1 chân. (Anh Trần
Văn Lan đã chết khi phục vụ tại Tiểu Đoàn 1 Việt Nam năm
1955. Anh Nguyễn Ngọc Nam, thương binh, năm 1997 định cư tại
Nebraska).
Sáng hôm sau, di hành về ngã thác
Cam Ly. Từ đây phải đi đều bước và hát vang trời cho bà
con Đà Lạt nghe. Chẳng biết bà con hai bên đường dài khoảng
5 cây số có nghe hay không, nhưng Đại Đội muốn quẹo giò
và hụt hơi luôn. Đến trường, tắm giặt và cơm nước xong
là chạy sang phòng thi ngay. Không có được một phút để
ôn bài, cho nên bạn nào không "gò bài" trước chuyến di hành
thì lắm nỗi hồi hộp.
3. Trà Ôn với "cá cháy".
Năm 1955, sau lễ tốt nghiệp tổ
chức tại đại lộ Trần Hưng Đạo ngã ba đường Nguyễn
Thái Học do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chủ tọa, tôi được
lệnh thuyên chuyển đến Tiểu Đoàn Khinh Quân 510, đồn trú
tại Vỉnh Long. Lúc bấy giờ, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu
Tá Đỗ Kiến Nhiểu (năm 1975 là Chuẩn Tướng, Đô Trưởng
Sài Gòn. Ông đã từ trần năm 1998 tại Hoa Kỳ). Chức vụ
đầu tiên của tôi là Trung Đội Trưởng thuộc Đại Đội
2, đồn trú tại quận lỵ Trà Ôn. Quận Trưởng là Đại
Úy Tạ Văn Kiệt. Quận lỵ nằm bên bờ bắc Sông Hậu (còn
gọi là Hậu Giang) ngay đầu vàm sông Mang Thít. Những thương
thuyền vận chuyển lúa gạo, cá, khô, heo, gà, than củi, ...
từ các tỉnh bờ nam Sông Hậu như :An Xuyên (Cà Mau), Ba Xuyên
(Sóc Trăng), Phong Dinh (Cần Thơ), Chương Thiện (Vị Thanh),
dùng sông Mang Thít để sang Sông Tiền (còn gọi là Tiền Giang)
đến Mỹ Tho, hay lên Sài Gòn, và ngược lại. (Năm 1967, Thủ
Tướng Nguyễn Cao Kỳ ví sông Mang Thít nối liền Sông Hậu
với Sông Tiền, như kinh Suez nối liền Địa Trung Hải với
Hồng Hải vậy).
Trà Ôn có loại cá rất đặc biệt,
với tên gọi "cá cháy" (có thể tôi viết không đúng chữ).
Cá có bộ trứng nặng hơn thân mình nó. Ăn khoái khẩu lắm,
nhưng trường hợp bộ máy tiêu hóa không được tốt thì
dễ bị "tào tháo" đuổi à nghe. Các bà nội trợ nơi đây
thường nấu canh mẵn ăn với bún là tuyệt. Thịt cá ngọt
lạ thường nhưng phải cái tội là xương quá nhiều, nhất
là "xương cháng ba" mắc vào cổ là gay lắm, phải nhờ bạn
nào khi chào đời "ngược ngạo" quào cổ mới xong. Cách ăn
ngon thứ hai là kho, nhưng phải kho đặc biệt một chút chớ
không phải kho thông thường. Cây mía lau hoặc mía thường
ăn, chẻ làm đôi lót ở đáy nồi, từng con cá (để nguyên)
ướp xong đem xếp từng lớp, cứ hai lớp cá lót một lớp
mía. Cuối cùng, cho nước vào ngang lớp cá bên trên, kho liên
tục khoảng 12 tiếng đồng hồ (còn tùy lửa) hoặc khi xương
cá mềm như bột, là lúc dọn lên bàn. Cá và xương cá sẽ
cho vị ngòn ngọt mằn mặn không giống bất cứ loại cá
kho nào trong thực đơn thường ngày cả. Theo lời Bà Bảy
-chủ tiệm cà phê bên hông chợ Trà Ôn- nơi tôi ăn cơm tháng,
thì người đánh lưới chỉ bắt được cá này trong khoảng
tháng hai âm lịch, và nơi đánh bắt là Sông Hậu từ Trà
Ôn xuống đến phía dưới Đại Ngãi (quận Kế Sách, tỉnh
Ba Xuyên) một chút. Những vùng khác không có loại cá này.
Hai tháng sau ngày tôi trình diện
đơn vị, Đại Đội Trưởng của tôi tử thương bởi một
mảnh đạn súng cối 60 ly bằng đầu ngón tay út xuyên vào
tim chết tức khắc, trong lúc hoạt động vùng Sóc Tro (quận
Trà Ôn). Đó là Trung Úy Nguyễn Văn Thảo, quê Chợ Lách, tỉnh
Vĩnh Long.
Cuối năm 1955, Tiểu Đoàn Khinh Quân
510 chúng tôi, cùng Tiểu Đoàn Khinh Quân 507, Tiểu Đoàn Khinh
Quân 527, và Đại Đội Trọng Pháo, di chuyển lên Cheo Reo "đèo
heo gió hú" thuộc tỉnh Plei Ku, tổ chức thành Trung Đoàn 35
thuộc Sư Đoàn Khinh Chiến 12. Vùng hoạt động là Plei Ku và
Kon Tum.
4. Cheo Reo với những bầy thỏ
đêm trăng.
Cheo Reo là một thung lũng có dòng
Sông Ba chảy ngang, ngay giao lộ liên tỉnh số 7 nối liền
thành phố Plei Ku ở hướng tây bắc với thị trấn Tuy Hòa
hướng đông nam, và liên tỉnh 1 nối quốc lộ 14 từ tây
nam với thị trấn An Khê ở đông bắc. Cư dân nơi đây hầu
hết là người thiểu số miền núi. Lúc này, Tiểu Đoàn Khinh
Quân chúng tôi đổi phiên hiệu thành Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn
35/Sư Đoàn Khinh Chiến 12. Vì các đơn vị yểm trợ hành chánh
tài chánh và yểm trợ tiếp liệu bảo trì đều đồn trú
ở Plei Ku, nên các đơn vị của Trung Đoàn 35 thường xuyên
có những chuyến liên lạc với các đơn vị đó. Cheo Reo -
Plei Ku, cách nhau khoảng 90 cây số. Rời đơn vị bằng xe dodge
4x4 từ mờ sáng, có chạy việc suông sẻ cũng phải nửa đêm
mới về đến Tiểu Đoàn, vì đoạn từ Cheo Reo đến ngã
ba Mỹ Thạch hư hỏng nhiều. Còn đoạn quốc lộ 14 từ Mỹ
Thạch đến Plei Ku, tuy không tráng nhựa nhưng được xem là
tốt lúc bấy giờ. Cả Trung Đoàn ở trong những dãy nhà xây
cất theo kiểu nhà sàn người thiểu số, đi đầu này đầu
kia nghe soạt soạt. Trung Đoàn chỉ có nhiệm vụ tổ chức
đơn vị và phối trí nhân viên, nên ban đêm thường rủ nhau
đi bắn nai.
Đi bắn nai là kỷ niệm trong cảm
giác mạnh khó quên dẫu rằng đêm có đêm không, nhưng đáng
nhớ nhất là bắt thỏ trên đường từ Plei Ku về lại Tiểu
Đoàn. Bao giờ cũng là về tối, thậm chí là nửa đêm. Ngang
những khu rừng tranh, chạy chầm chậm, mở đèn pha thật sáng,
thế là từng bầy thỏ nhảy ra đường ngồi ngắm ánh đèn.
Ngừng xe lại, để đèn. Hai bạn xuống xe, nhè nhẹ luồn
vào đám tranh hai bên đường, tiến sát nơi thỏ ngồi, nhảy
ra, mỗi bạn chụp một con dễ dàng. Những đêm có trăng thì
rất nhiều thỏ ra đường nhảy múa tứ tung, có ánh đèn
xe là chúng tranh nhau ngồi nhìn, càng dễ bắt hơn. Ăn
món "thỏ nấu rượu chát" đến phát chán, cũng là vừa lúc
cả Trung Đoàn 35 lại chuyển đến nơi đồn trú mới ở cạnh
đồn điền trà Catecka, cách thành phố Plei Ku hơn chục cây
số. Không biết quí vị ở Tổng Tham Mưu nghiên cứu ra sao
mà cả Trung Đoàn chúng tôi, từ Vĩnh Long Vĩnh Bình di chuyển
đến quận "khỉ ho cò gáy" Cheo Reo chưa đầy 3 tháng,
lại di chuyển ra Catecka, cũng là nơi "cò gáy khỉ ho" khác.
5. Plei Ku với nắng bụi mưa trơn
và biển hồ xanh biếc.
Plei ku là một thành phố nhỏ. Nói
cho đúng chỉ là một thị trấn trên dãy Trường Sơn. Cư
dân thưa thớt, nhưng về mặt quân sự thì đây là vị
trí quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ Cao Nguyên, nơi được
các nhà quân sự Pháp xem là "mái nhà" của Việt Nam khi nhìn
xuống duyên hải phía đông. Chung quanh toàn đồi trọc, đất
đỏ ba-dan, hết gió bụi mù là mưa rả rích suốt ngày này
sang ngày khác, và lê thê đến hai ba tuần là chuyện rất
thường. Bùn đất quện vào giày vào chân mà từ ngữ thân
thương "dân ka ki" chúng ta thường dùng là "đất Plei Ku mến
khách". Mà Plei Ku mến khách thật, vì khi đến đây là phục
vụ nơi đây, có sớm lắm cũng phải sau hai năm mới làm đơn
xin chuyển đến nơi khác, còn bao giờ được thuyên chuyển
phải tùy thuộc vào nhu cầu các đơn vị ở nơi mình xin thuyên
chuyển đến.
Năm 1956-1957, người thiểu số nơi
đây chưa ra khỏi thời kỳ man khai. Họ đem gà ra chợ Plei
Ku bán, cứ mỗi con là 10 đồng không phân biệt lớn nhỏ
gì cả. Ai mua trước lựa con lớn, và cứ thế cho đến người
mua cuối cùng khỏi phải lựa nữa, và đó là con nhỏ nhất.
Món mà họ thường mua ở chợ là muối, những món khác là
thứ yếu đối với cuộc sống quá đơn giản của họ. Từng
vài chục gia đình là một quần cư. Họ đốn cây phá rừng
dọn sạch những triền đồi để trồng lúa khô và các hoa
màu phụ, như: khoai, bắp, đậu, cây ăn trái như mít, chuối,
... Trái mít là thực phẩm cho heo. Cuộc sống của họ, theo
nét nhìn của mình thì họ rất vất vả khổ cực, nhưng với
họ chắc là bình thường thôi. Trang phục của họ quá ư
đơn giản, nam mặc chiếc khố và nữ mặc chiếc váy, mình
trần. Muốn có đất trồng trọt, trước hết phải đốn
cây để thật khô, gom lại từng đống rồi đốt. Sau đốt
là thu dọn những cây thành than và đào gốc, nghĩa là họ
dọn sạch như cánh đồng nông thôn đồng bằng sông Cửu
Long mình khi sẳn sàng để cấy lúa vậy. Ấy thế mà họ
chỉ canh tác trong khoảng 5 năm là cả quần cư đó dọn đến
khu rừng khác, và bắt đầu tạo nên bản làng mới. Họ chuyển
cư vì đất cằn cỗi, hoặc khi trong bản làng có bệnh dịch
chết người mà họ cho là thần linh không còn giúp họ nữa.
Trong gia đình có người chết, tất cả những gì là tài sản
trong nhà đem chia đều cho người còn sống lẫn người đã
chết, và tài sản người chết ngổn ngang quanh mộ, nhưng
tuyệt nhiên không bao giờ bị mất cắp. Nếp sống xã hội
của họ theo chế độ "mẫu hệ", và người mẹ là chủ gia
đình
Plei Ku có quốc lộ 14 từ Sài Gòn
và Ban Mê Thuột lên, quốc lộ 19 về phía đông xuống Qui
Nhơn. Trên quốc lộ này, khi qua khỏi thị trấn An Khê (tính
từ Plei Ku xuống), chúng ta sẽ đến Đèo Mang vừa quanh co
khúc khuỷu vừa xuống dốc rất nguy hiểm. Nhưng chúng ta sẽ
nhìn thấy bóng dáng thành phố Qui Nhơn với bờ biển mờ
mờ ảo ảo lúc bình minh dần đến hay đang lúc hoàng hôn.
Từ lưng chừng đèo nhìn xuống, cảnh trí nơi đây vừa bao
la vừa nhỏ bé, vừa hùng tráng vừa lãng mạn, vừa sợ lại
vừa thích. Nói chung, là một cảnh trí thật đẹp cho người
lính chúng ta khi một thoáng lãng mạn vượt lên những hiểm
nguy bất trắc. Đầu năm 1957, chúng tôi có 2 ngày nghỉ và
dùng xe dodge 4x4 đi dạo Qui Nhơn. Rời Catecka khoảng 5 giờ
chiều, chạy suốt đêm mới đến Qui Nhơn khi mặt trời vừa
lên ở chân trời xa thẳm. Nhiều đoạn đường hư hỏng,
chạy rất chậm, nhất là lần đầu tiên đổ dốc Đèo Mang
trong đêm tối, nên càng thận trọng hơn. Buổi chiều về
đến Phú Phong, nhìn vào rặng núi xa xa dưới ánh sáng nhạt
dần lúc hoàng hôn, chẳng khác một bức tranh của một họa
sĩ tài hoa nào đó.
Quốc lộ 19 có đoạn nối dài (thường
gọi là 19 bis) từ ngã ba núi Hàm Rồng (cách Plei Ku khoảng
8 cây số) đến biên giới Cambodia. Trên đoạn đường này
có đồn điền trà Catecka của người Pháp khai thác từ đầu
những năm 1930, họ sản xuất trà xanh và tiêu thụ ở Pháp
nhiều hơn thị trường nội địa. Đến gần biên giới, có
nhiều cánh rừng toàn là bông mai vàng. Những ngày cuối năm
âm lịch, vào cánh rừng rực rỡ màu vàng của bông mai 5 cánh
này, chúng ta cảm nhận được niềm vui nào đó lâng lâng
trong lòng mà tưởng như mình đang bên cạnh những người
thân thương khi Xuân đến. Nhưng chỉ tiếng hót của chim,
cũng đủ đưa ta vào thực tại để thấy mình vẫn đang chốn
xa xôi!
Plei Ku còn có Biển Hồ, đích thật
là một thắng cảnh, không chỉ riêng của Plei Ku mà được
xếp vào danh lam thắng cảnh quốc gia nữa. Người dân lâu
năm vùng này nói rằng, thuở xa xưa nào đó, nơi đây là miệng
núi lửa khi chìm xuống đã để lại cái hố vừa lớn vừa
sâu, và trở thành hồ nước. Đúng hay sai thì không có gì
xác định vì không thấy tài liệu lịch sử nào nói như vậy,
nhưng rõ ràng là Biển Hồ rất đẹp. Nước trong xanh như
nước biển, nhưng ngọt như nước suối. Từ trên cao nhìn
xuống mặt hồ cũng hơi rợn người, nếu chẳng may trượt
chân lăn xuống là rất nguy hiểm. Đêm cuối năm 1957, một
nhóm anh em chúng tôi thuộc Tiểu Đoàn 2/35/12, cắm trại bên
bờ hồ phía dốc cao để đón giờ đầu năm 1958. Trong cái
tĩnh mịch của núi rừng Plei Ku, Biển Hồ đã cho chúng tôi
trọn vẹn cảm giác thanh thản, cái thanh thản của những
chàng trai xa nhà vì bổn phận công dân đối với quốc gia
dân tộc.
6. Kon Tum với cát trắng, bắp
vàng, và mưa lũ.
Những tháng đầu năm 1958, toàn
Trung Đoàn 35 lại di chuyển lên Kon Tum, thành phố cuối cùng
về phía bắc trên dãy Trường Sơn. Kon Tum cách Plei Ku khoảng
40 cây số theo đoạn cuối của quốc lộ 14. Không hiểu sao
mà vùng này lại toàn cát trắng, nói cho đúng là cát của
đá dăm chớ không phải cát biển. Nhờ vậy mà thành phố
này rất sạch, trái ngược với Plei Ku nhầy nhụa khi những
cơn mưa kéo dài. Phía đông và nam thị trấn (quá nhỏ nên
dùng chữ thị trấn cho vừa kích thước) được bao bọc bởi
dòng sông Dakbla uốn khúc lượn vòng, tạo cho thị trấn cực
bắc này một dáng vẻ êm đềm, pha đôi chút mộng mơ. Dakbla,
gọi là sông cũng được vì bề ngang rộng lắm, mà gọi là
suối cũng không sai vì dòng nước một chiều từ thượng
nguồn đổ xuống. Trước khi đổ vào sông Sprépok bên Cambodia
là thác Ya Ly nổi tiếng của cao nguyên miền Trung. Thác cao
khoảng 15 thước hay hơn chút ít. Đến năm 1958, bên bờ thác
phía tay phải, có 2 cây thánh giá nghe nói là mộ bia của 2
người ngoại quốc (không rõ quốc tịch) đã ngã xuống nơi
đây.
Kon Tum, chỉ cần 1 tiếng đồng
hồ bách bộ là hết phố. Thị trấn này vào năm 1958 đang
là vị trí đóng quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Khinh Chiến
12 cùng các đơn vị chuyên môn yểm trợ, Trung Đoàn 35 và
Trung Đoàn 34. Còn Trung Đoàn 36 đồn trú ở Dak To, một quận
của tỉnh Kon Tum. Thời gian này, tôi thuyên chuyển từ Tiểu
Đoàn 2 lên bộ chỉ huy Trung Đoàn 35, phụ trách Ban 3.
Nơi xây cất doanh trại Trung Đoàn
35 là khu rừng toàn cây trắc. Cây trắc là loại cây quí hiếm.
Khi dọn đến, cây trắc còn ngổn ngang trong khu vực, chỉ
tiếc là chúng chưa đến tuổi khai thác để chúng được
trở thành những sản phẩm có trị giá cao, như: bàn, ghế,
tủ, giường, ... và vì họ nhà trắc còn quá trẻ nên gia
đình quân nhân Trung Đoàn 35 cho chúng vào lò hầm than. Thật
là tội nghiệp. Không phải quân nhân Trung Đoàn phí phạm
cây rừng, mà vì chúng đã bị cơ quan xây dựng đốn ngã
hết rồi, nếu không sử dụng hầm than thì chúng cũng đổi
tên là củi thôi.
Kon Tum không có những cánh mai vàng
rực rỡ như Plei Ku khi tiết trời se lạnh, nhưng bắp vàng
dọc bờ sông Dakbla vào mùa hanh nắng là không thể chê vào
đâu được. Bắp rất dễ trồng. Cứ xới đất lên, soi lỗ
mà không cần cho phân gì cả, mỗi lỗ cho xuống 3 hột bắp
giống, vậy là mấy tháng sau chúng ta có những trái bắp tròn
trịa cho ta thưởng thức một đặc sản của Trường Sơn.
Chẳng biết là do giống hay do đất hoặc cả hai, nhưng bắp
vùng đồng bằng sông Cửu Long không thể so sánh được. Những
khu rừng chung quanh Kon Tum, nhất là khu rừng hai bên bờ sông
Dakbla, rất nhiều lan. Hầu như sau những buổi huấn luyện
về, thể nào tôi và các bạn cũng có một nhánh lan cho màu
sắc lẫn hương thơm. Lan bám trên những cành cây, càng trên
cao là những nhánh lan càng nhiều hoa đẹp và thời gian hoa
nở càng lâu. Trong gian nhà bé xíu của tôi, rất nhiều nhánh
lan, nhiều đến nỗi không có thì giờ "trang trí" vào những
mảnh gỗ mà cứ mang về là treo lên vách thôi.
Vào mùa mưa, chỉ sau một buổi
mưa như trút thì mực nước sông Dakbla dâng cao và nhanh không
thể tưởng được. Một hôm, chiếc xe dodge 4x4 của Trung Đoàn
35, bắt đầu lên cầu phía Kon Tum thì mực nước lé đé mặt
cầu, nhưng xe đến giữa cầu thì nước ngập đến nửa bánh
xe và anh tài xế không thấy đường chạy nữa. Trong chốc
lát, anh tài xế không thể dò cầu thoát thân đành thả trôi
theo dòng nước như thác đổ, còn chiếc xe sau đó bị nước
cuốn mất luôn. Trong những ngày cầu bị chìm sâu dưới nước,
Ty Công chánh dùng phà đưa người và xe sang sông. Phà ở đây
không giống phà Mỹ Thuận hay phà Cần Thơ hoặc Vàm Cống.
Phà không có động cơ mà dùng dây cáp căng từ bờ sông bên
này sang bờ sông bên kia, căng thẳng nhờ hai trụ sắt hai
bên bờ. Cứ xoay được mũi phà ra sông, lái phà phía
trong bờ, dùng tay lái nhờ dòng nước đẩy phà sang bờ bên
kia, và ngược lại. Trông dễ dàng lắm. Về sau, cây cầu
được Công binh xất cất cao ngang bằng mặt đường, nên
không bị cảnh cầu chìm nữa.
Sư Đoàn12, sau thời gian huấn luyện
là mùa hành quân thao dượt. Dưới cơn mưa dài ngày làm cho
xe lớn xe bé trơn trượt trên các đường nhầy nhụa đất
đỏ khi gần đến Plei Ku. Toàn bộ Sư Đoàn 12 Khinh Chiến
đang thực hiện cuộc hành quân thao dượt trì hoản chiến
từ Kon Tum xuống Plei Ku, trong một tình hình giả tưởng là
bị quân cộng sản từ lãnh thổ Cambodia tấn công vào Kon
Tum, thì được lệnh chuẩn bị hành quân đến biên giới
Việt Nam-Cambodia, vì quân Cambodia đã tự ý chuyển trụ mốc
biên giới vào sâu trong nội địa Việt Nam, tức là họ chiếm
một phần lãnh thổ chúng ta. Lúc ấy, anh em chúng tôi hăng
lắm, phen này quyết hạ quân của ông Hoàng Sihanouk trên đất
Việt Nam cho biết tay. Nhưng rồi lệnh hủy bỏ vì được
giải quyết bằng hành động ngoại giao.
Xa lên phía bắc là thị trấn Dak
To, bao bọc bởi những cánh rừng già dày đặc, là một phần
trong kế hoạch của Sư Đoàn 12 Khinh Chiến bảo vệ "mái
nhà Việt Nam".
Phục vụ nơi xa xôi cao ngất Trường
Sơn này muốn về Sài Gòn hay đồng bằng Cửu Long thăm người
thân mà chưa có phép hằng năm, thì cách hay nhất là khai bệnh
răng nướu. Đơn vị quân y Sư Đoàn chưa được trang bị
y cụ chữa răng nên bác sĩ (Trung Úy Quang) cấp giấy xuống
quân y viện Ban Mê Thuột chữa trị. Đến nơi đâu cần vào
quân y viện, cứ ngồi xe đò suốt đêm là về đến Sài Gòn
và về tỉnh luôn nếu cần. Trung Úy bác sĩ thừa biết sự
kiện ấy nhưng ông xem như không nghe không biết gì cả. Bà
con ka-ki chúng tôi cám ơn ông lắm. Về sau, ông là Trung Tá
Giám Đốc Quốc Gia Nghĩa Tử Cuộc.
7. Miền tây với biển cá Đồng
Tháp và Mũi Cà Mau thân thương.
Tháng 3.1959, Sư Đoàn 12 Khinh Chiến
giải thể và sáp nhập vào Sư Đoàn 14 Khinh Chiến, để tổ
chức thành Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Tôi được chuyển đến Sư
Đoàn 15 Khinh Chiến ở Dục Mỹ (Khánh Hòa), đang được Sư
Đoàn 16 Khinh Chiến giải thể sáp nhập vào để tổ chức
thành Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Đến nơi, Đại Úy Nguyễn Văn Ứng,
Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn cho biết là Bộ Tổng Tham Mưu đính
chánh cho tôi thuyên chuyển đến Sư Đoàn 11 Khinh Chiến ở
Sa Đéc theo đơn xin của tôi hồi năm 1958. Thế là tôi
lên xe lửa về Sài Gòn, rồi Sa Đéc, và trình diện Bộ Tư
Lệnh Sư Đoàn 11 Khinh Chiến, lúc ấy Trung Tá Nguyễn Bảo
Trị, Tư Lệnh Sư Đoàn. Tháng 6.1959, Sư Đoàn 11 Khinh Chến
chuyển lên Tây Ninh, tiếp nhận Sư Đoàn 13 Khinh Chiến giải
thể
để tổ chức thành Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Lúc bấy giờ, tôi
phục vụ Phòng 3 Sư Đoàn với trách nhiệm Trưởng Ban hành
quân.
Đầu năm 1960, tôi (và sĩ quan Phòng
2) tháp tùng Trung Tá Trần Thanh Chiêu, Tư Lệnh Sư Đoàn, đi
thăm Trung Đoàn 31 hoạt động vùng cực nam đồng bằng Cửu
Long, và Trung Đoàn 33 hoạt động vùng Đồng Tháp. Nhiệm vụ
chính của Trung Đoàn 33 là bảo vệ 2 chiếc xáng đào kinh
Đồng Tiến, từ Gãy Cờ Đen đến An Long, bờ bắc Sông Tiền.
Kinh này có tên là "kinh xáng An Long", khi hoàn tất sẽ cắt
đôi Đồng Tháp Mười, tháo nước phèn ra Sông Tiền để
trồng trọt canh tác.
Đồng Tháp Mười với hơn 70.000
mẫu tây thường là chìm sâu dưới nước , có nơi ngập quá
đầu người, tưởng chừng như đang trên chiếc thuyền con
giữa biển khơi vậy. Toàn bộ Trung Đoàn đều "đồn trú"
trên nhiều trăm chiếc xuồng, tam bản, và ghe cở vừa. Bộ
Chỉ Huy trên chiếc ghe và nhiều tam bản. Các Tiểu Đoàn sử
dụng tam bản và nhiều xuồng. Từng tiểu đội trung đội
dùng xuồng trong mọi nhu cầu di chuyển, vừa hoạt động bảo
vệ an ninh đơn vị và an ninh xa cho Trung Đoàn, cũng vừa giăng
câu bắt cá. Đây là nét đặc thù trong chiến tranh Việt Nam
chúng ta, nó là một loại chiến thuật mà tôi nghĩ, chưa có
trường quân sự nào trên thế giới dạy cả. Giăng câu bắt
cá, bởi vì Đồng Tháp Mười như một biển cạn với
vô số các loại cá đồng, như: cá lóc, cá bông, cá trê,
cá rô, cá sặc, .... mà toàn là cá lớn không hà, vì cá nhiều
mà ít người đánh bắt nên "tuổi thọ" của chúng khá cao.
Bắt cá phơi khô, khi gia đình đến thăm mang về để ăn dài
ngày, nhiều người đem bán vì ăn không hết. "Phái đoàn"
của ông Tư Lệnh và bộ chỉ huy Trung Đoàn, ngồi trên 2 chiếc
ghe lắc lư ăn toàn cá lóc "nướng trui", mỗi người phải
thanh toán 1 con lớn bằng bắp chân với đầy đủ rau dưa
gia vị, và nước ngọt lẫn bia. Hai loại nước uống này
cho vào thùng, thả xuống "đáy biển cạn" chừng 2 tiếng đồng
hồ, đem lên uống chẳng khác vừa đem chúng ra từ trong tủ
lạnh vậy.
Lần xuống Cà Mau -tỉnh lỵ của
tỉnh An Xuyên- cực nam của Việt Nam Cộng Hòa để thăm Trung
Đoàn 31. Từ Cà Mau, theo tỉnh lộ vừa đất vừa đá mới
tân trang bằng những phương tiện thô sơ, nên lồi lõm gồ
ghề quá mức. Tôi lái xe, trưởng xe là Trung Tá Tư Lệnh.
Sương mù sáng sớm che áng tầm nhìn nên phải thò đầu ra
ngoài và lái rất chậm. Đến quận lỵ Cái Nước, được
Trung Úy Quận Trưởng mời bữa ăn trưa ngon như chưa từng
có bữa nào ngon như vậy cả, có lẽ phần thì đói phần
thì món rùa xé phay mới thưởng thức lần đầu. Tiếp tục
hành trình, ngang qua cầu trên sông Bảy Háp (trên bản đồ
ghi là Bảy Háp nhưng cư dân vùng này gọi là Bảy Hạp) mới
hoàn thành. Xế chiều đến quận lỵ Năm Căn, quận cực nam
của tỉnh. Lần đầu tiên tôi trông thấy thịt khỉ bày bán
tại đây. Khỉ làm xong để nguyên con, treo lủng lẳng trên
các quầy chợ, mình trắng toát, có con xám ngoẹt, tay chân
dài ngoằn, trông chẳng hấp dẫn chút nào nếu không nói là
dễ sợ.
Quận Năm Căn toàn rừng đước,
một loại cây quanh năm ngập nước, thịt rất chắc, vì vậy
mà cư dân nơi đây đấu giá khai thác hầm than. "Than đước"
là loạt chất đốt mà thị dân các tỉnh lẫn Sài Gòn rất
ưa thích. Những tấn than khi đến tận tay thị dân Sài Gòn,
phải qua những gian nan của người sản xuất, chuyên chở,
và buôn bán. Khi thành than, phải chuyển lên Cà Mau, dùng những
đoàn ghe loại lớn có gắn máy đẩy hoặc do tàu kéo, di chuyển
trên kinh Quan Lộ-Phụng Hiệp dưới sự bảo vệ an ninh của
các Giang Đoàn Hải Quân lên Sông Hậu. Rồi theo sông Mang Thít
qua Sông Tiền, dùng kinh Kỳ Hôn qua sông Vàm Cỏ để lên Sài
Gòn. Nguồn lợi thứ hai của Năm Căn cũng như của các quận
ven biển là cá. Cá ở ven Biển Đông và cá ở cửa ngõ Vịnh
Thái Lan nhiều vô kể. Vì vậy mà ngư phủ Thái Lan lẫn Singapore
thường sang đánh trộm. Cửa Sông Ông Đốc là nơi hội tụ
nhiều ngư dân sinh sống, tuy ít nhiều gian khổ và thiếu thốn
tiện nghi, nhưng được thiên nhiên ưu đãi với những mùa
cá đem lại khá tiền.
Ngày hôm sau, tôi dùng ca-nô của
quận đến tận Mũi Cà Mau, phần đất liền cuối cùng của
tổ quốc. Từ trên ca-nô, thò chân chạm mặt đất. Phần
đất loang loáng mặt nước này chính là phần đất thiêng
liêng của tổ quốc, mà tổ tiên ta cùng những anh hùng và
toàn dân trong lịch sử, đã đổ biết bao máu xương, công
sức, vừa mở mang vừa xây dựng vừa bảo vệ cho sự sống
còn của những thế hệ mai sau, và mai sau nữa. Nói chung là
cho cả dân tộc, con cháu của tổ tiên. Sự gìn giữ và phát
triển giang sơn gấm vóc này là trách nhiệm của mọi người
Việt Nam chúng ta, để cùng nhau chung sống trong khung cảnh
thanh bình, no ấm, với tất cả quyền làm người trong một
thế giới văn minh trên nền tảng đạo nghĩa, mà chúng ta
là những thành viên trong đó. Lúc ấy tôi có cảm giác là
mình đang hưởng niềm vui với đôi chút hảnh diện bởi nếp
sống quân ngũ cho tôi cảm giác hôm nay, và tôi cũng hơi rợn
người. Rợn người không phải do sợ hãi, mà rợn người
vì niềm vui bởi bản thân là một thành viên nhỏ bé 1i ti
trong một quân đội trách nhiệm nối tiếp dòng lịch sử
Việt Nam trong thời chinh chiến!
8. Bến Hải với cầu Hiền Lương.
Được đặt chân trên đất Mũi
Cà Mau, tôi chợt nhớ đến cảm giác tương tự khi đặt chân
lên cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải. Đó là giữa năm
1958, khi tôi là thành viên trong toán sĩ quan Sư Đoàn 12 Khinh
Chiến, dùng đường bộ từ Kon Tum đến Quảng Trị tham gia
đoàn quan sát (kết hợp từ các Sư Đoàn) cuộc hành quân
thao dượt của Sư Đoàn 16 Khinh Chiến, lúc đó Trung Tá Nguyễn
Hữu Có là Tư Lệnh Sư Đoàn này. Trước ngày Sư Đoàn 16
xuất phát hành quân thao dượt, tôi tháp tùng một nhóm sĩ
quan Tổng tham Mưu, từ chỗ đóng quân là An Lổ ra Quảng Trị,
xin phép ông Tỉnh Trưởng cho thăm Bến Hải. Chúng tôi mặc
thường phục (vì là khu phi quân sự) và được khuyên là
không nên đi trên cầu để tránh những rắc rối chính trị
có thể xảy ra.
Cầu Hiền Lương, đã Hiền lại
Lương, cái tên nghe thật dịu dàng và thật tình cảm, nhưng
người ta đã biến nó thành biểu tượng lằn ranh chia đôi
đất nước bằng một điều khoản trong Hiệp Định Genève
ngày 20 tháng 7 năm 1954. Nửa cầu bờ bắc là quốc gia cộng
sản độc tài, nửa cầu bờ nam là quốc gia dân chủ tự
do.
Cả nhóm anh em chúng tôi chỉ đặt
chân lên đầu cầu, để yên khoảng vài phút, và quay về
theo lời nhắc của sĩ quan hướng dẫn. Chỉ trong vài phút
mong manh chân chạm mặt cầu, cũng đủ cho chúng tôi có cùng
cảm giác hận thù với các nhóm lãnh đạo cộng sản nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cùng với nỗi ngậm ngùi cho sự
bất hạnh của dân tộc. Tưởng được thoát khỏi chính sách
cai trị của thực dân Pháp, nào ngờ, một nửa quê hương
với hơn hai chục triệu người bị dìm trong chế độ cộng
sản độc tài nghiệt ngã hơn ngoại xâm!
Sông Bến Hải với cầu Hiền Lương
xa dần phía sau. Chúng tôi, không ai nói lời nào, chừng như
tên cầu và tên sông đó vừa làm sâu thêm và đậm thêm vết
hằn vốn dĩ đã có trong trái tim Người Lính Việt Nam Cộng
Hòa, phụng sự cho quốc gia dân tộc. Riêng tôi, tôi có một
thoáng lâng lâng với niềm hảnh diện được đặt chân trên
điểm cực bắc tạm thời của tổ quốc Việt Nam.
Quê hương, trường tồn với dân
tộc.
Dân tộc, ngàn đời trong hạnh
phúc.
Và hạnh phúc, mãi mãi của chúng
ta.
Phạm Bá Hoa
Houston, mùa xuân 1996 |