nội dung
| Lời trần tình |
4 |
| Lời nói đầu |
6 |
| Một.
Ðảo Chánh ngày 1/11/1963 |
8 |
| Hai.
Ðảo Chánh ngày 30/1/1964 |
41 |
| Ba. Biểu
Dương Lực Lượng ngày 13/9/1964 |
69 |
| Bốn.
Ðảo Chánh ngày 19/2/1965 |
82 |
| Năm.
Quân Ðội Lãnh Ðạo Quốc Gia ngày 19/6/1965 |
91 |
| Sáu. Khủng
Hoảng Chính Trị ngày 9/3/1966 |
104 |
| Bảy.
Vài Sự Kiện Quan Trọng 1967-1974 |
125 |
Tám.
Những Tháng Cuối Cùng (tháng 1- 4/1975)
-
Tỉnh Phước Long thất thủ
-
Tỉnh Darlac (Ban Mê Thuột) thất thủ
-
Rút bỏ Cao Nguyên
-
Lãnh thổ thu ngắn theo chiều Bắc-Nam |
136
|
| Chín.
Những Ngày Cuối Cùng (21/4 - 29/4/1975) |
161 |
| Mười.
Giờ Thứ 25 (11.30G ngày 29/4 - 10.15G ngày 30/4/1975) |
169 |
| Thay Lời
Kết |
180 |
Các phụ
bản:
A: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
B: Chân dung Người Lính Việt Nam
Cộng Hòa.
C: Chân dung Người Vợ Lính Việt
Nam Cộng Hòa.
D: Nhận xét của một số độc
giả.
E: Ðôi nét binh nghiệp của tác
giả. |
. |
Lời trần tình
*****
Kính thưa quí vị,
Trước khi bắt đầu tôi rất đắn
đo, vì muốn ghi lại sự kiện trung thực ít nhất cũng là
trung thực với tôi về những gì mà tôi biết và những gì
mà tôi làm, tất nhiên là khó tránh khỏi những đụng chạm
đến quí vị, đặc biệt là với cựu Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm, cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên, và cựu Ðại
Tướng Nguyễn Khánh.
Riêng với cựu Ðại Tướng Khiêm
và cựu Ðại Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ
nghĩa ân. Tôi không có một thân nhân hay một bạn bè nào
quen biết khi vào quân ngũ tháng 5 năm 1954. Tháng 11 năm 1961,
đang trong trách nhiệm Trưởng Ban hành quân/Phòng 3 Sư Ðoàn
21 Bộ Binh, tôi được Ðại Tá Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh,
kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang, cử giữ chức Chánh
Văn Phòng. Tháng 10 năm 1965, tôi được Thiếu Tướng Cao Văn
Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cử
giữ chức Chánh Văn Phòng. Nhờ vậy mà tôi có nhiều cơ hội
tiếp xúc với nhiều vị Tướng Lãnh, nhiều giới chức trong
các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, học hỏi được
những căn bản trong tổ chức và quản trị.
Tôi biết có những vị gần như
mai danh ẩn tích từ khi đến Hoa Kỳ sau ngày đất nước vào
tay cộng sản 30 tháng 4 năm 1975, nhưng tôi xin phép được
nhắc đến quí vị trong tập sách, và tôi chỉ nói đến quí
vị ở khía cạnh quí vị là những vị lãnh đạo Quốc Gia,
lãnh đạo Quân Lực, chớ tôi không nói đến những riêng
tư của quí vị. Tôi xin tôn trọng phần riêng tư đó. Về
những gì tôi viết vào đây, có thể có sự kiện nào đó
mà quí vị cho là không chính xác, nhưng theo tôi, tôi thấy
đã đủ thận trọng trong cách nhìn của tôi khi viết những
trang sách nhỏ này. Biết đâu, có những điều mà tôi nói
lên được sự thật liên quan đến quí vị mà nhiều chục
năm qua chính quí vị cũng chưa biết đến, và cũng có thể
tôi làm sáng tỏ được điều gì đó đối với dư luận
dù rằng quí vị cho là có hay không có cũng chẳng sao.
Thế hệ chúng ta đã học nhiều
bài học quí báu từ trong lịch sử, và vận dụng vào bổn
phận công dân trong trách nhiệm bảo vệ quốc gia. Rồi đây,
những thế hệ sau chúng ta, cũng cần đến lịch sử mà thế
hệ chúng ta sẽ là một phần quan trọng trong đó, và quí
vị là thành phần quan trọng hơn hết trong giai đoạn lịch
sử 1954 - 1975.
Lịch sử một dân tộc không thể
tự nhiên mà có. Muốn có được lịch sử, tôi nghĩ, sau chặng
đường phục vụ quốc gia dân tộc, mỗi người trong bất
cứ lãnh vực nào của xã hội, cần viết lại trên giấy
trắng mực đen về những hiểu biết xác thực của mình trong
từng phạm vi trách nhiệm lúc đương thời, và viết với
một trạng thái tâm hồn thật bình thản. Từ đó, những
nhà viết sử gom góp lại, chọn lọc, phân tách, đánh giá,
và tạo nên những dòng sử qua từng giai đoạn thăng trầm
của đất nước. "Tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục
lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian", không phải
người này tạo cho người kia, hay ngược lại, mà mỗi người
trong xã hội tự tạo cho chính mình qua những nghĩ suy, những
phương tiện diễn đạt, và trong những môi trường hành động.
Tôi không dám nghĩ đây là một
sử liệu, nhưng tôi cố gắng ghi chép đúng theo trí nhớ của
tôi, để các sử gia may ra tham khảo được đôi điều trong
khoảng thời gian nghiêng ngả của đất nước, mà thuở đó,
quyền lực nằm trong tay quí vị. So với ấn bản lần 1, lần
2, và lần 3, ấn bản lần 4 này có vài sắp xếp lại về
cách trình bày và bổ túc thêm một số chi tiết, vì 1.600
trang giấy học trò mà tôi lén lút viết lại trong thời gian
bị giam ở trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc, lén lút
gởi về gia đình cất giữ, và khi đoàn tụ với gia đình
tôi vẫn tiếp tục viết, đến nay tôi đã nhận đầy đủ
từ Việt Nam gởi sang. Cùng với những sự kiện mà cựu Ðại
Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ năm 1970 đến năm
1975, và cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1965 đến năm 1975, hai
vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia
hồi đầu tháng 9 năm 2003, thăm hai vị và gia đình, và trong
những năm sau đó.
Xin quí vị vui lòng, và trân trọng
kính chào quí vị.
Houston, Texas, Hoa Kỳ, tháng 8 năm
1994,
Viết xong ngày 15 tháng 8 năm 1994.
Bổ túc lần 1, mùa Thu năm 1995.
Bổ túc lần 2, mùa Thu năm 1998.
Bổ túc lần 3, mùa Ðông năm 2001-2002.
Bổ túc lần 4, mùa Ðông năm 2003-2004.
Bổ túc lần 5, mùa Ðông năm 2005-2006.
Bổ túc lần 6, mùa Xuân năm 2007.
Cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa
Lời nói đầu
*****
Trong bối cảnh quốc tế sau thế
chiến thứ hai 1939-1945, do ảnh hưởng lớn lao của hai siêu
cường Hoa Kỳ với Liên Xô, đã tạo thành khối các quốc
gia Tự Do và khối các quốc gia Cộng Sản. Bên cạnh đó là
những quốc gia nhỏ về thế lẫn lực, cố ngồi lại với
nhau và hình thành khối thứ ba thường gọi là khối Trung
Lập.
Trong khung cảnh gia đình, mức thu
nhập hằng tháng hằng năm không đủ chi tiêu dù là tối thiểu,
phải nhờ đến sự giúp đỡ của thân nhân thân quyến hay
bạn bè bằng hữu. Mà khi nhờ vả thì ít hay nhiều cũng phải
chịu ảnh hưởng của người ấy về mặt này mặt khác.
Với hình ảnh đó ở cấp bậc quốc gia cũng vậy, còn cộng
thêm những phức tạp về chính trị quốc gia quốc tế nữa.
Xin nhớ rằng, trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình
cảm mà chỉ có vấn đề quyền lợi quốc gia là trên hết.
Vì vậy, khi đã vay mượn hay xin xỏ của nước nào, phải
chịu ảnh hưởng về những sinh hoạt của nước đó đối
với quốc gia mình, thậm chí có những chính sách của họ
không liên hệ đến mình mà mình vẫn phải ủng hộ, và khi
đã chịu ảnh hưởng thì ý nghĩa của Trung Lập không còn
nữa.
Khi nhìn nhận như vậy, rõ ràng
là các quốc gia trong khối thứ ba nói trên không có khả năng
Trung Lập. Do đó mà sự hình thành của khối thứ ba này chẳng
qua là gượng ép, nếu không nói là do sức ép từ thế lực
bên ngoài để tăng thêm thế chính trị cho họ. Tôi muốn
nói đến một thế đứng chính trị: "hoặc khối Tự Do hoặc
khối Cộng Sản". Còn tuyên bố Trung Lập mà quốc gia chỉ
trông vào viện trợ hay trợ giúp nhân đạo để tồn tại,
đó là tính chất dối trá trong lãnh đạo đối với đồng
bào, và khi lãnh đạo dối trá thì không xứng đáng lãnh đạo
đồng bào của họ nữa. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam là
một trong những nhóm lãnh đạo đó.
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đứng
hẳn vào khối Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo. Ðó không phải
là cách chọn lựa lý tưởng, nhưng khi phải chọn lựa giữa
hai điều xấu, ta phải chọn điều xấu ít. Nhưng chịu ảnh
hưởng những chính sách của Hoa Kỳ là một việc, mà bản
lãnh chính trị của những vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa
trong việc tận dụng tối đa những chính sách đó vào mục
đích tăng thêm hay ít ra cũng phải bảo vệ quyền lực và
lợi ích quốc gia, lại là việc khác. Ðó là cốt lõi của
lãnh đạo.
Lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta kể từ giữa năm 1954, đã lần lượt trong tay các vị:
Ông Ngô Ðình Diệm, Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng
Nguyễn Khánh, Kỹ sư Phan Khắc Sửu, Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Giáo sư Trần Văn Hương, và Ðại Tướng Dương Văn
Minh (lần hai). Nhiệt tình của những vị lãnh đạo trên đây
đối với quốc gia dân tộc dù nhiệm kỳ của hai vị sau
cùng cộng lại chỉ hơn một tuần lễ, đều đáng được
ca ngợi, nhưng vị nào đã để lại tiếng thơm muôn đời
hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân
gian, xin tùy quí vị quí bạn. Xa hơn nữa là phán xét của
lịch sử.
Với quyển sách này, tôi xin ghi
lại những lệnh mà tôi nhận, những việc mà tôi làm, và
những gì mà tôi nghĩ, qua những lệnh và những việc làm
đó trong các biến cố chính trị từ năm 1963 đến cuối năm
1966. Rồi năm cuối cùng của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ
quốc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà lãnh đạo nước
cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm trọn Việt Nam
Cộng Hòa chúng ta, ký ức và tài liệu mà tôi ghi chép lúc
đương nhiệm, còn lưu giữ được đôi điều. Vì giới hạn
trong phạm vi trách nhiệm nên không có được tính cách tròn
vẹn của mỗi biến cố, nhưng hy vọng là nội dung này có
khả năng giúp quí vị quí bạn nhận ra những nét trung thực
khi lần theo mỗi sự kiện trong từng biến cố.
Cũng xin nói thêm rằng, tôi chưa
từng viết văn, cũng không biết viết văn, nên văn chương
ở đây rất luộm thuộm. Kính mong quí vị quí bạn vui lòng
xem nội dung quyển sách này như là một chuyện kể, nhớ đâu
kể đó.
Và bây giờ kính mời quí vị quí
bạn vào chuyện kể . . .
(Bắt đầu
Chương một)
|