|
- chín -
Những Ngày Cuối Cùng.
(ngày 21/4 đến 28/4/1975)
*****
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đã
thu ngắn theo chiều Bắc Nam!
Trong chính trị, không thiếu những
cái khôi hài, nhưng khôi hài trong cái gọi là Hoa Kỳ vẫn
tiếp tục viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa vào cái
lúc mà chính Hoa Kỳ muốn "con bệnh Việt Nam mau được tẩn
liệm", quả là khôi hài đến rơi nước mắt!
Ðó là những ngày hạ tuần tháng
4 năm 1975, có những chuyến phi cơ vận tải C.130 và C.141 lác
đác đáp phi trường Tân Sơn Nhất, mang theo một số đại
bác 105 ly đã dùng rồi, một số mũ sắt không đồng bộ,
nghĩa là chỉ có mũ nhựa bên trong mà không có mũ sắt bên
ngoài, vài trăm túi cứu thương cá nhân,..... mà báo chí gọi
là Hoa Kỳ vẫn viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa! Thật là
tội nghiệp cho chữ nghĩa! Thật ra, đó chỉ là những chuyến
phi cơ đến Sài Gòn với nhiệm vụ chính là chuyên chở những
tài liệu và máy móc quan trọng của Hoa Kỳ rời khỏi Việt
Nam.
Trong khi Việt Nam cần ngay trước
mắt 300.000.000,00 mỹ kim bổ sung nhu cầu duy trì khả năng
chiến đấu, thì phái đoàn này rồi phái đoàn khác của Hoa
Kỳ lần lượt đến Việt Nam gọi là cứu xét để viện
trợ, nhưng dường như họ muốn đến tận xứ sở bất hạnh
này để xem chương chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản
với tự do bao giờ thì bắt đầu xếp vào quá khứ, khi họ
đặt những câu hỏi chẳng thiện cảm chút nào trong lúc họ
xem "trưng bày" tại võ đình trường Bộ Tổng Tham Mưu, một
số vũ khí tịch thu của quân cộng sản. Mà thật ra các giới
chức Việt Nam cũng thừa hiểu là họ không có ý tích cực
nào trong mục đích nghiên cứu thời sự cho vấn đề viện
trợ bổ sung cả, nên Bộ Tổng Tham Mưu cũng chỉ trưng bày
một số vũ khí tịch thu của quân cộng sản từ những chiến
trường trước chớ không phải từ chiến trường nóng hổi
mới đây. Xin nói thêm rằng, trong tài khóa 1974-1975, Hoa Kỳ
viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa 700.000.000,00 mỹ
kim, và đây là lần đầu tiên họ cho biết số ngân khoản
viện trợ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời họ
yêu cầu cung cấp cho họ kế hoạch nhận viện, gồm những
loại quân dụng nào? Loại đạn nào? Bao nhiêu? ..v..v.. Và
Tổng Cục Tiếp Vận đã cung cấp kế hoạch đó cho họ.
Nhớ lại hồi trung tuần tháng 1
năm 1975, tức sau ngày toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng
sản, một phiên họp mật được tổ chức tại phòng họp
số 2 của Bộ Tổng Tham Mưu, thường gọi là phòng họp "Tân
Sinh Nông Thôn". Tham dự, về phía Việt Nam có:
- Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên,
Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng
Tổng Cục Tiếp Vận.
- Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ,
Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, với 5 sĩ quan tham mưu của
Phòng 3.
- Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục
Phó Tổng Cục Tiếp Vận.
- Tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, và 3 sĩ quan nữa của bộ
tham mưu chúng tôi.
Phía Hoa Kỳ tham dự, có:
- Thiếu Tướng Smith, Trưởng Văn
Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam.
- Ðại Tá Pelosky, Phụ Tá Thiếu
Tướng Smith về Tiếp Vận, và 2 sĩ quan tham mưu của họ.
Mục đích buổi họp là Văn phòng
Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ -chớ không phải do Bộ Tổng Tham
Mưu- trình bày kế hoạch tái tổ chức Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa (!)với quân số 472.000 người, và Hoa Kỳ dự trù
viện trợ duy trì đội quân này mỗi năm là 600.000.000,00 mỹ
kim. Họ yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa nghiên cứu lại các bảng cấp số của từng loại đơn
vị để quân số tham gia tác chiến được 65%. Tất nhiên
là buổi họp còn thảo luận nhiều chi tiết nữa.
Xin được nhấn mạnh là họ đã
có kế hoạch rút chân ra khỏi Việt Nam trước một tình hình
cực kỳ nguy hiểm -bằng chứng là lời của Thiếu Tướng
Smith đã nói trong bữa ăn tối nhân Giáng Sinh năm 1974- mà
họ lại ra cái điều vẫn quan tâm đến tương lai Việt Nam
khi họ đưa ra kế hoạch tái tổ chức quân đội, nghiên cứu
kế hoạch viện trợ bổ sung. Ngôn ngữ chính trị là như
vậy đó! Nói vậy, nhưng không nhất thiết là như vậy đâu,
mà tùy thuộc nhiều yếu tố khác nhau để hiểu loại ngôn
ngữ này.
Ðành rằng, những đòi hỏi cấp
bách trong nội bộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ kết thúc sự
can dự của Hoa Kỳ vào chiến tranh chống cộng sản tại Việt
Nam, cho nên từ lời nói ngoại giao đến hành động cũng ngoại
giao của Hoa Kỳ, chỉ là chuyện đầu môi chót lưỡi của
những nhà chính trị cũng như quân sự thôi. Thủ đoạn của
những nhà chính trị là điều cần thiết trong phòng thủ
hay tấn công đối phương, thậm chí sử dụng ngay cả các
quốc gia đồng minh nữa, nhưng thủ đoạn mà Hoa Kỳ sử dụng
đối với Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, một quốc gia mà Hoa
Kỳ thừa nhận là tuyến đầu chống cộng sản quốc tế
tại Ðông Nam Á Châu, quả là thiếu liêm sỉ trong lãnh đạo!
Tôi nghĩ, đây là bài học lãnh
đạo mà thế hệ chúng ta không bao giờ quên, bởi vì nó cay
đắng quá, bi thảm quá! Và những thế hệ sau chúng ta, nên
gìn giữ bài học chứa đựng quá nhiều xương máu của dân
tộc trong hành trang vào đời, để nghiền ngẫm mà phục vụ
nguyện vọng toàn dân dù ở bất cứ cương vị nào trong xã
hội.
Xin mời quí vị quí bạn rời khỏi
cái phòng họp gần suốt buổi sáng, nơi ẩn chứa một không
khí đầy dối trá trong chính trị lẫn quân sự từ một cường
quốc "đồng minh", để nhìn vào một thực tại bi thảm của
chúng ta!
Với những cuộc rút lui hỗn loạn
của Quân Ðoàn I, Quân Ðoàn II, và phần lớn của Quân Ðoàn
III, trong khi toàn lãnh thổ Quân Ðoàn IV gồm 16 tỉnh vùng
đồng bằng sông Cửu Long, chưa có những trận đánh quan trọng
nào, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV,
đã ra lệnh báo động cho Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, Sư Ðoàn 9 Bộ
Binh, Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Sư Ðoàn 4 Không Quân, cùng với Hải
Quân, và các đơn vị tác chiến khác -kể cả Ðịa Phương
Quân Nghĩa Quân- sẵn sàng chống trả các cuộc tấn công của
quân cộng sản. Và cũng đến lúc này (20/4/1975), chưa thấy
chỉ dấu nào về một thảm trạng rút lui hay bỏ chạy trong
phạm vi Quân Ðoàn IV cả. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vốn
dĩ là mẫu người hiền hòa nhưng rất cương quyết. Ông rất
quan tâm và chăm sóc đời sống của quân nhân thuộc quyền.
Tư cách và uy tín của ông, hoàn toàn chinh phục được những
vị Tướng Lãnh và quân nhân thuộc quyền.
Tổ Quốc đang trong cảnh mất mát
suy tàn, với vô vàn đau thương cho tất cả các tầng lớp
trong xã hội, nhất là đối với những gia đình từ các tỉnh
Cao Nguyên và Duyên Hải miền Trung, đã bỏ của chạy lấy
người vào sống nhờ sống tạm trên phần đất mong manh còn
lại này, thì tình hình chính trị nội bộ lại lung lay tận
gốc rễ. Những tin đồn đoán nào là Ðại Tướng Dương
Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh,
nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ chức,
..v..v.. được truyền đi từ người này sang người khác,
nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin đó xuất
phát từ đâu cả. Thông thường thì những loại tin như vậy
cũng không phải hoàn toàn vô căn cứ, nếu nó xảy ra thì
trở thành sự thật nhưng nếu nó không xảy ra thì xếp vào
loại câu chuyện làm quà hoặc câu chuyện lúc trà dư tửu
hậu để tỏ ra mình nắm vững thời cuộc.
Trong loạt tin đồn đoán lần này,
có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa
và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng Hòa,
tuyên bố từ chức vào tối 21 tháng 4 năm 1975, sau khi ông
mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam (!) Và
ông cũng tuyên bố đại ý rằng, "... quân đội sẽ có thêm
một chiến hữu cầm súng chiến đấu ..." Ý nói là Trung Tướng
(Thiệu) sẽ tiếp tục phục vụ trong hàng ngũ quân đội.
Hơn hai tuần trước đó, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đã
bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn,
đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện.
Lúc bấy giờ có dư luận cho rằng,
Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đang được quân đội ủng
hộ để trong một tình huống nào đó sẽ thay thế Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu, vì quân đội đang bị Tổng Thống Thiệu
đưa chính trị vào "cướp quyền" lãnh đạo của các cấp
chỉ huy, và đó là lý do Tổng Thống Thiệu cách chức Thủ
Tướng Trần Thiện Khiêm. Về phần tôi, tôi không thu thập
được gì trong các cơ quan sở tại Bộ Tổng Tham Mưu về
điều đồn đoán này, nhưng tôi tin là có điều gì đó tựa
như "cơm không lành canh không ngọt" giữa Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.
Xin nhắc lại. Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm lưu vong từ ngày 7 tuần tháng 10 năm 1964, sau đó
giữ chức Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển
sang nhiệm sở tại Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) tháng 10 năm
1965. Ðến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng
Nội Vụ. Ðầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến
đầu tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức
vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị
cách chức Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương
Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, thì Ðại Tướng Trần Thiện
Khiêm kiêm nhiệm thêm chức vụ này.
Trong những năm chiến tranh chưa
đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng
Thống, Thủ Tướng, sát cánh với quân đội và toàn dân chiến
đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc thật sự lâm nguy
thì hai vị lãnh đạo cao nhất nước, đã kế tiếp nhau chuyển
giao chức vụ cho hai vị khác trước cơn dầu sôi lửa bỏng
của đất nước nhỏ bé và bất hạnh triền miên này! Sau
đó, hai vị đã âm thầm bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí
vị được sinh ra và lớn lên. Quí vị bỏ quân đội Việt
Nam, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh
quyền uy danh vọng. Và quí vị bỏ gần 20 triệu đồng bào
mà chính Họ đã từng bỏ phiếu bầu một trong hai vị vào
chức vụ Tổng Thống trong hai nhiệm kỳ để lo bảo vệ nước,
lo chăm sóc dân. Nói chung là quí vị bỏ lại đằng sau tất
cả, để rồi quí vị lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm
tối trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài
cai trị! Còn gì để nói đây!
Nếu sau này quí vị có nói gì với
dân tộc Viết Nam khốn khổ này, thì xin quí vị đừng nói
rằng: quí vị từ chức chỉ vì Hoa Kỳ không còn viện trợ
nên không đủ phương tiện để tiếp tục chống cộng sản
nữa! Tôi nghĩ, quí vị đừng nói gì cả thì vấn đề sẽ
không tệ thêm!
Theo đúng Hiến Pháp, Phó Tổng Thống
Trần Văn Hương đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống hai
ngày sau đó. Và trên làn sóng đài phát thanh Hà Nội, cộng
sản nêu yêu sách và có vẻ như Hoa Kỳ đồng lõa với họ
để gây áp lực buộc tân Tổng Thống Trần Văn Hương giao
chức vụ này cho nhân vật không dự liệu trong Hiến Pháp
1967. Ðó là Ðại Tướng Dương Văn Minh. Và điều lạ là
Ðại Tướng Minh sẵn sàng nhận chức Tổng Thống không hợp
hiến từ tay Tổng Thống hợp hiến Trần Văn Hương.
Tân Tổng Thống Trần Văn Hương
là một nhà giáo mẫu mực, liêm khiết, một nhà chính trị
với tất cả nhiệt tình vì quốc gia dân tộc, và là một
nhà lãnh đạo rất bình tĩnh thận trọng. Ông yêu cầu triệu
tập Quốc Hội để có quyết định và ông sẽ tôn trọng
quyết định đó. Ðiều này cho thấy Tổng Thống Trần Văn
Hương không tham quyền cố vị, nhưng ông không thể tự mình
chuyển giao chức vụ như vậy được, vì Hiến Pháp không
dự liệu điều khoản nào cho trường hợp tương tự.
Ðêm 27 tháng 4 năm 1975, trong khi
đường phố thủ đô đông nghẹt đồng bào bồng bế di tản
về đây từ các tỉnh đã vào tay cộng sản, Quốc Hội lưỡng
viện đã họp và quyết định Tổng Thống Trần Văn Hương
bàn giao chức vụ này cho Ðại Tướng Dương Văn Minh. Quyết
định này hẳn là hợp "khẩu vị chính trị" nên các vị
lãnh đạo quyền uy thi hành ngay. Hoa Kỳ cũng không có ý kiến
gì khác.
Nước Pháp đã thua trận trước
đối thủ Việt Minh cộng sản được đánh dấu bởi Hiệp
Ðịnh Ðình Chiến ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại thành phố
Genève, Thụy Sĩ. Sau đó đoàn cố vấn Hoa Kỳ vào Việt Nam
thì quân đội Pháp triệt thoái toàn bộ khỏi Việt Nam trong
những tháng đầu năm 1956. Ðến đầu năm 1964, quí vị Tướng
Lãnh Việt Nam có khuynh hướng thân Pháp đều bị gạt khỏi
vai trò lãnh đạo quân đội từ sau cuộc đảo chánh ngày
1 tháng 11 năm 1963 thành công. Và bây giờ, trong tình thế Hoa
Kỳ đang như "thua trận" trước đối thủ Việt Nam cộng sản,
nước Pháp muốn đưa ảnh hưởng của họ trở lại chính
trường Việt Nam với bước đầu là đảm nhiệm "vai trò
con thoi" giữa tân Tổng Thống sắp nhận chức Dương Văn Minh
với cộng sản Hà Nội. Người thay mặt nước Pháp tại Việt
Nam Cộng Hòa trong vai trò đi tìm một giải pháp chính trị
khả dĩ hai bên có thể chấp nhận được là Ông Ðại sứ
Mérillon. Nhưng đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, mới vỡ lẽ
rằng, nước Pháp đã bị cộng sản Hà Nội lừa, vì họ
nhất quyết đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chớ không nhằm
mục đích tìm giải pháp gì cả. Những toan tính đầu môi
của Hà Nội là loại chính sách "ngoại giao hàng tôm hàng
cá" mà họ thường áp dụng trong bang giao quốc tế, ấy vậy
mà nước Pháp -một trong những cường quốc Âu Châu- bị
họ qua mặt dễ dàng. Ðó là "một cái tát đau" mà cộng sản
Việt Nam tặng Pháp quốc. Liệu có nên chia xẻ "cái đau" ấy
với cường quốc Âu Châu này đã hơn 80 năm đô hộ Việt
Nam mình hay không?
Chiều 28 tháng 4 năm 1975, buổi lễ
giao và nhận chức Tổng Thống giữa giáo sư và là nhà chính
trị lão thành Trần Văn Hương với Ðại Tướng Dương Văn
Minh, diễn ra trong không khí hỗn loạn trên đường phố thủ
đô và không khí trầm lắng ngay trong Phủ Tổng Thống. Vị
Tổng Thống 7 ngày Trần Văn Hương giới thiệu tân Tổng Thống
Dương Văn Minh như là một người rất can đảm khi nhận chức
vụ này, trong khi tân Tổng Thống Dương Văn Minh rất thận
trọng chưa dám hứa là sẽ làm được gì, nhưng ông tin là
ông có khả năng thương thuyết với Chánh Phủ Lâm Thời Cộng
Hòa Miền Nam để thành lập chánh phủ liên hiệp, đem lại
hòa bình cho quốc gia dân tộc. "Chánh phủ liên hiệp" được
hiểu là chánh phủ quốc gia và cộng sản". Tổng Thống Dương
Văn Minh không nói đến nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội,
mà ông chỉ nói là sẽ thương thuyết với Mặt trận Dân
Tộc Giải Phóng Miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm
Chủ Tịch. Tôi nghĩ, đó là cách dùng chữ của Tổng Thống
Dương Văn Minh, nhưng bất cứ người dân nào cũng hiểu rằng,
ông Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ hay Thủ Tướng Huỳnh Tấn
Phát của cái Mặt Trận đó cũng chỉ là những cái loa của
cộng sản Hà Nội thôi. Cho nên Cộng Hòa Miền Nam hay Cộng
Sản Miền Bắc, cũng là cộng sản.
Cũng trong lễ bàn giao này, cựu
Tổng Thống Trần Văn Hương đã nói một cách dõng dạc và
rõ ràng rằng, "... nếu như trời hại mất nước thì ông
quyết ở lại với mọi người chớ không bỏ quê hương tổ
quốc...". Vị giáo sư mẫu mực và là nhà chính trị lão thành
Trần Văn Hương, đã giữ đúng lời nói của mình. Vì sau
cùng, ông đã chết ngay trên quê hương Việt Nam giữa muôn
vàn đau khổ của đồng bào dưới chế độ cộng sản độc
tài nghiệt ngã! Vị giáo sư già đó: ông Trần Văn Hương,
xứng đáng được chúng ta ngả mũ cúi chào một cách trân
trọng. Từ nơi hải ngoại nửa vòng trái đất xa xôi, xin
gởi về một nén hương nhờ cắm trước mộ Giáo Sư Trần
Văn Hương, với lời nguyện hương linh Ông siêu thoát nhẹ
nhàng . . .
Về lời nói đầu tiên của tân
Tổng Thống Dương Văn Minh, thì bất cứ người dân bình thường
nào cũng hiểu rằng, kế hoạch hòa bình của ông nếu được
cộng sản Hà Nội chấp nhận, chẳng qua là họ chấp nhận
đầu hàng theo từng bước. Bước đầu là hòa giải hòa hợp
và chỉ cần bước kế tiếp là toàn cõi Việt Nam trở thành
cộng sản thôi. Nhưng nói đi cũng nên nghĩ lại, là biết
đâu, nếu như "thời cơ" của ông đến thì ông cũng làm nên
chuyện vĩ đại lắm chớ.
Nhận xét và suy nghĩ của tôi, Ðại
Tướng Dương Văn Minh là một nhân vật dễ tạo cảm tình
với nhiều người nhiều giới, nhưng là nhân vật không thích
hợp với vai trò lãnh đạo chính trị, lại càng không thích
hợp với một tình thế như vậy, vì ông không phải là người
tháo vát, nhanh nhẹn, và dũng lược.
Di tản!
Tối 23 tháng 4 năm 1975, Ðại Tá
Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận, điện
thoại đến nhà tôi, ông nói:
"Ðại Tá Pelosky, yêu cầu các sĩ
quan Tổng Cục đưa tên gia đình sang bên đó (tức Văn Phòng
Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ=DAO) để ghi vào danh sách chuyến
bay, và gia đình có thể rời Việt Nam vào tối mai hoặc đêm
sau đó. Sĩ quan sẽ đi sau. Vậy anh liên lạc đưa danh sách
gia đình ngay trong đêm nay cho tôi hoặc đưa thẳng cho Ðại
Tá Pelosky cũng được".
Tuy đã biết về lời của Tướng
Smith, cùng theo dõi chặt chẽ tình hình chiến sự và tình
hình chính trị quốc nội quốc ngoại, nhưng tôi vẫn cảm
thấy tin này quá đột ngột, tôi đáp:
"Ðây là vấn đề rất quan trọng
đối với cuộc sống gia đình tôi và ảnh hưởng đến thân
quyến tôi nữa, nên tôi cần thảo luận với gia đình mới
quyết định được anh à. Nghĩa là tôi chưa thể trả lời
trong đêm nay, và dù sao thì tôi cũng cám ơn anh".
Thế là từ đêm hôm sau, những
gia đình của các sĩ quan trong ngành lần lượt lên phi cơ
Hoa Kỳ rời Sài Gòn để đến đảo Guam tạm trú, chờ làm
thủ tục và cũng là chờ người thân đến trước khi vào
lục địa Hoa Kỳ định cư. Tôi xin nói thêm rằng, không phải
gia đình của tất cả sĩ quan trong ngành Tiếp Vận đều ra
đi, vì lệnh này không được phổ biến cho nên sĩ quan nào
biết thì liên lạc với các sĩ quan trách nhiệm của Tổng
Cục Tiếp Vận, các vị này giới thiệu với Ðại Tá Pelosky
và được ghi vào danh sách lên phi cơ rời Việt Nam vào đêm
sau đó.
Sáng 24 tháng 4 năm 1975, tôi lên
văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, ông nói:
"Gia đình tôi không đi mặc dù danh
sách đã đưa cho Ðại Tá Pelosky rồi".
"Sao vậy Trung Tướng?
"Anh nghĩ coi, gia đình tôi đâu có
tiền, sang bên đó làm sao mà sống. Với lại tình hình quốc
gia như thế này mà lại tính chuyện ra đi thì còn mặt mũi
gì nữa!
Ngưng một lúc, ông tiếp:
"Mất nước đến nơi mà các ông
cứ tranh nhau chức vụ quyền hành (ý nói đến chức vụ Tổng
Thống!) Buồn quá!
"Tôi thì chưa tính gì, nhưng nếu
Trung Tướng có tính đi thì nên cho gia đình đi ngay kẻo muộn,
vì gia đình các anh đơn vị trưởng và các anh Chánh Sở tại
Tổng Cục Tiếp Vận mình đã đi rồi".
"Tôi cũng chưa dứt khoát". Lời
của Trung Tướng Khuyên.
Nói thì nói vậy, nhưng đêm sau
đó -25 tháng 4 năm 1975- gia đình của Trung Tướng Ðồng Văn
Khuyên cũng lên đường đi Guam. Theo lời Trung Tướng Khuyên
thì Thiếu Tướng Smith thúc giục ông đưa gia đình đi càng
sớm càng tốt.
Thật ra thì hành khách trên các
phi cơ C130 và C141 rời phi trường Tân Sơn Nhất vào mỗi tối
kể từ 24 tháng 4 năm 1975, không phải chỉ có gia đình sĩ
quan mà còn có mặt của nhiều người nhiều giới trong xã
hội nữa, vì bất cứ ai có bạn bè quen biết với Ðại Tá
Pelosky, thì họ giới thiệu hay gởi gắm không có gì khó khăn
cả.
Từ ngày bắt đầu di tản với
những chuyến bay đêm, thì mỗi sáng tôi đều lên văn phòng
Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, thảo luận về chiến sự và
thời sự trong tính cách tâm tình hơn là ra lệnh và nhận
lệnh giữa Tổng Cục Trưởng với Tham Mưu Trưởng Tổng Cục.
Tấm bản đồ trên vách trái bàn giấy của ông, những ước
hiệu hình dáng như cái phong bì màu đỏ tượng trưng đơn
vị cộng sản bao quanh Sài Gòn, và tương tự như vậy nhưng
màu xanh lá cây tượng trưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phòng
thủ thủ đô, thì màu đỏ nhiều hơn màu xanh. Thật ra đó
chưa chắc là thực lực của quân cộng sản đến như thế,
bởi chúng thường ngụy tạo bằng các sóng truyền tin loại
trang bị cho đại đơn vị đặt ở đâu đó, để các sóng
tình báo kỹ thuật của mình ghi nhận và ghi lên bản đồ
vị trí các đại đơn vị của chúng. Trong số lực lượng
cộng sản do Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu ghi nhận trên bản đồ,
có thể một số là có thật, số khác rất có thể là chúng
ngụy tạo thêm. Tôi nhận định như vậy, vì phi đoàn tình
báo kỹ thuật của Phòng 7/Bộ Tổng Tham Mưu đã từng ghi
nhận và phát giác sự kiện này.
Lệnh di tản không cho phổ biến
đã gây nhiều phẫn nộ ngay trong hàng sĩ quan cao cấp đang
phục vụ trong Quân Trấn Sài Gòn, và nhiều vị trong số này
đều cho là Bộ Tổng Tham Mưu tắc trách, hoặc có ý gì khác.
Tắc trách thì chắc chắn là không, nhưng có ý gì khác hay
không thì tôi không rõ, nhưng hiển nhiên là có lời nặng
tiếng nhẹ đối với Tổng Cục Tiếp Vận. Chẳng hạn như
Y Sĩ Ðại Tá Hoàng Cơ Lân, Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y
là trường hợp điển hình khi ông đẩy cửa thật mạnh và
sừng sững trước mặt tôi:
"Tại sao Ðại Tá không thông báo
cho chúng tôi biết kế hoạch di tản? Như vậy là ý gì?
"Anh đừng nóng, tôi trả lời anh
đây. Chúng tôi không thông báo cho bất cứ ai, vì đó là lệnh
mà chúng tôi cũng chỉ là cấp thừa hành thôi. Ngoài ra, không
có ý gì hết. Bây giờ xin anh cho biết là anh cần gì?
"Tôi cần đưa gia đình di tản".
"Có gì khó đâu mà anh phải to tiếng.
Mời anh sang gặp Ðại Tá Tổng Cục Phó để cung cấp danh
sách, và tối mai là gia đình anh đi thôi".
Trong tuần lễ cuối cùng của tháng
4 năm 1975, trên đường về nhà dùng cơm chiều để rồi vào
ngủ đêm trong Tổng Cục Tiếp Vận, tôi sử dụng đường
Cách Mạng 1/11, chuyển sang đường Hiền Vương và thẳng đường
Trần Quốc Toản về cư xá Bắc Hải (cũng gọi là cư xá
sĩ quan Chí Hòa). Nhìn đường phố thủ đô chưa đến nỗi
gọi là hỗn loạn nhưng cũng không xa ý nghĩa đó bao nhiêu.
Tiếng động cơ và tiếng còi inh ỏi của các loại xe, chen
lẫn trong âm thanh của những đoàn người ngược xuôi giữa
khói mù thải ra từ các xe lớn nhỏ, hòa vào bụi bậm phố
phường, đã tạo nên một hình ảnh bi thảm của chiến tranh!
Trong những đoàn người từ các tỉnh chạy về đây, người
thì tìm nơi cư trú, kẻ tìm phương tiện chạy xa thêm nữa.
Các đơn vị quân đội cũng tán loạn, dân không hẳn là dân
mà lính cũng không hoàn toàn là lính. Quân phục không nghiêm
chỉnh, súng đạn thì kẻ còn người mất, không biết cấp
chỉ huy ở đâu mà tìm. Mặt khác, còn phải tìm thân nhân
thất lạc sau cuộc di tản đầy hiểm nguy gian khổ! Trông
nét thảm thương của các đồng đội, tôi mới thấy tôi
còn nhiều may mắn hơn các bạn ấy. Nhưng tôi không làm được
gì cả!
Vào phi trường Tân Sơn Nhất để
tìm giúp gia đình người bạn và trao bức thư vì anh ấy không
vào được, tôi lại chứng kiến cảnh tượng chia tay chưa
biết ngày gặp lại thật là xót xa thương cảm! Ðó là những
người chờ lên phi cơ mà hầu hết là phụ nữ và trẻ con.
Tiếng trẻ con khóc đòi ăn, la đòi bú, những đứa khác thì
chạy nhảy rất ngây thơ đến tội nghiệp! Người lớn thì
kẻ ngồi người đứng, ưu tư, lo lắng, thậm chí đôi mắt
đỏ hoe, và chốc chốc nhìn ra hướng cổng phi trường như
mong ngóng người thân trong những giờ còn lại trên phần
đất quê hương trước khi "di tản" sang Hoa Kỳ, một đất
nước xa xôi đến nửa vòng trái đất! Bên cạnh hình ảnh
đau thương đó, nhiều xe du lịch đậu sát lề đường hay
trên sân cỏ, và trong số đó có những chiếc xe có sẵn chìa
khóa cùng với thẻ chủ quyền có kèm theo mảnh giấy của
chủ nhân: "Tặng xe này cho bạn nào ngồi vào tay lái. Xin chào".
Tôi đã nhìn vào một chiếc xe như vậy. Trong khi bên ngoài
cổng, một dòng xe xếp hàng từ cổng phi trường dài gần
đến cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Từng gia đình tụm năm tụm
bảy trên chiếc chiếu nhỏ hoặc tấm vải trắng dưới cái
nắng gay gắt của Sài Gòn tháng tư, và bên cạnh là những
thức ăn nước uống ngổn nga, đó là cảnh chạy trốn thảm
họa cộng sản!
Xuống bến Bạch Ðằng, nơi có
những thương thuyền ngoại quốc lẫn thương thuyền Việt
Nam sắp sửa kéo neo, cũng cái cảnh nhốn nháo, vội vã, tiếng
gọi ơi ới với tiếng la tiếng khóc của trẻ con, và cả
tiếng gào thét giữa người đi kẻ ở, ai ai cũng vội vã,
cũng hấp tấp, sao mà bi thảm đến như vậy!
Trong thế kỷ 20 này, người dân
sinh sống miền Bắc đã một lần chạy trốn thảm họa cộng
sản hồi năm 1954-1955. Giờ đây -20 năm sau- lại một lần
nữa, hằng chục ngàn người trong số đó cùng với nhiều
chục ngàn người sinh sống miền Nam, đã và đang tìm cách
chạy khỏi vòng tay cai trị của cộng sản. Nhưng lần này,
họ phải chạy đến một nơi ngôn ngữ bất đồng, văn hóa
khác biệt, phong tục tập quán hoàn toàn xa lạ. Nói chung là
rất nhiều nỗi lo chồng chất phía trước, nhưng vấn đề
cấp bách là phải chạy khỏi nơi đây rồi mọi việc sẽ
bắt đầu . . .
Tổ quốc tôi, đất nước tôi,
dân tộc tôi, đến thời mạt vận rồi sao!
Sau ngày cựu Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lên phi cơ
sang Ðài Bắc (Ðài Loan), đến Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng
Tham Mưu Trưởng một quân đội hơn 1.000.000 người, cũng lên
phi cơ rời bỏ Việt Nam! Ông ra đi trong khi Chuẩn Tướng Lê
Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, đang quần thảo với
khoảng 2 Sư Ðoàn quân cộng sản tại Xuân Lộc và chung quanh.
Với những tổn thất nặng nề nhưng quân cộng sản không
hạ nỗi Sư Ðoàn 18, nên chúng rời chiến trường Xuân Lộc
để chuyển quân xuống tấn công căn cứ Sư Ðoàn 3 Không
Quân tại Biên Hòa. Các đơn vị thuộc Sư Ðoàn 1 Không Quân
từ Ðà Nẳng, Sư Ðoàn 2 Không Quân từ Plei Ku, Sư Ðoàn 6
Không Quân từ Qui Nhơn và Nha Trang, tập trung về căn cứ Không
Quân Biên Hòa, lại chuyển xuống Sư Ðoàn 4 Không Quân ở
Cần Thơ, sau khi tham gia đánh chận lực lượng bộ binh và
phòng không của địch.
Chiều 28 tháng 4 năm 1975. Từ cửa
sổ văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, tôi đứng nhìn
toàn cảnh khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, theo con đường chánh về phía phải là ra cổng
số 1 tại giao lộ Võ Tánh nối dài với đường Cách Mạng
1/11, về phía trái là cổng số 3 ra đường Võ Di Nguy. Ngay
trước tòa nhà chánh là võ đình trường rộng lớn, uy nghi,
chính giữa là cột cờ cao vời vợi với lá quốc kỳ nền
vàng ba sọc đỏ đang tung bay trong gió. Vẫn những tòa nhà
2 tầng khang trang với dáng vấp kiến trúc Châu Âu, dùng làm
văn phòng cho các Tổng Cục và Phòng Sở của Bộ Tổng Tham
Mưu. Vẫn những hàng cây trang điểm màu xanh, cũng là buồng
phổi của căn cứ quân sự đầu não mà tôi nhìn thấy gần
như liên tục hơn 12 năm qua. Vẫn những chiếc quân xa trên
những con đường ngang dọc đầy bóng mát. Và vẫn thấp thoáng
những quân nhân qua lại giữa các tòa nhà, nhưng tôi tưởng
như mình đang trơ trọi giữa khoảng trống mênh mông của
một nghĩa trang chiến tranh nào đó! Vì rằng những vị Tướng
Lãnh cùng nhiều sĩ quan cao cấp của cơ quan đầu não này
đã ra đi, số còn lại cũng đang nói chuyện ra đi, chẳng
còn ai nói đến chuyện chiến đấu nữa! Cho đến lúc này
thì hầu hết những vị đầy quyền lực của chúng tôi nơi
đây, đã cao bay (trực thăng) xa chạy (ra Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ)
hết rồi!
Phải chăng, đây là giờ hấp
hối của Bộ Tổng Tham Mưu, cơ quan đầu não của Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa?
Ôi! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
một quân lực vì lý tưởng tự do mà chiến đấu, nhưng lại
bất hạnh bởi những vị lãnh đạo quyền lực đã không
thi hành trách nhiệm khi tổ quốc thật sự lâm nguy!
- mười -
Giờ Thứ 25
*****
Từ sau ngày Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu từ chức, hằng ngày, trước đầu giờ và sau cuối
giờ làm việc, tôi thường lên văn phòng Trung Tướng Ðồng
Văn Khuyên để theo dõi và trao đổi tình hình. Qua câu chuyện
trao đổi mang tính cách tâm tình với nhau hơn là Tham Mưu Trưởng/Bộ
Tổng Tham Mưu ra lệnh cho Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp
Vận.
Xin mời quí vị quí bạn vui lòng
trở lại ngày 27 tháng 4 năm 1975 trước khi vào giờ thứ 25.
Tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, đã hết giờ làm việc
buổi chiều từ lâu, tôi vẫn còn ngồi trong văn phòng Trung
Tướng Ðồng Văn Khuyên, nghe ông tâm sự:
"Anh biết không, Thiếu Tướng Smith
nói với tôi là cấp chỉ huy của ông ta từ Pentagon (lầu
năm góc, tức Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) nói ổng đang ủng hộ
một Trung Tướng cộng sản ngay tại Sài Gòn".
"Ông ta muốn ám chỉ Trung Tướng
phải không?
"Tôi cũng nghĩ vậy".
"Trung Tướng có nói gì không?
"Không".
"Ðến lúc này, Trung Tướng có quyết
định ra đi chưa?
Tôi hỏi như vậy là vì lúc sáng,
Y Sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y,
lên hỏi thăm tình hình, Trung Tướng Khuyên yêu cầu Chuẩn
Tướng Thanh cho ông 2 chai thuốc độc, và tôi cũng xin 2 chai
(1 chai để trong túi và 1 chai trong cặp xách tay). Khi ông xin
thuốc độc, điều đó cho thấy có thể là ông không bỏ
chạy, hoặc xin thì xin nhưng chạy vẫn chạy. Nhưng tôi nghĩ,
ít ra thì Trung Tướng Khuyên đang có hai giải pháp trong đầu.
Im lặng một lúc, chừng như ông đang xúc động nên lời nói
của ông thật nhỏ:
"Tôi đã hứa với ổng (tức Thiếu
Tướng Smith), vì tôi cảm thấy sẽ không an toàn nếu như
tôi khước từ di tản".
"Thiếu Tướng Smith có nói bao giờ
thì đi không, thưa Trung Tướng?
"Ổng được lệnh từ Pentagon là
sẽ đưa tôi đi".
"Thiếu Tướng Smith có nói là sẽ
đi vào lúc nào không Trung Tướng?
Trung Tướng Khuyên buông thõng:
"Giờ thứ 25".
"Ổng có nói với Trung Tướng giờ
đó là giờ nào không?
"Giờ đó sẽ được quyết định
từ Pentagon".
Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng
Thống Dương Văn Minh cho phổ biến bản tuyên bố trên đài
phát thanh Sài Gòn, theo đó thì Tổng Thống yêu cầu Hoa Kỳ
lập tức rút toàn bộ các cơ quan và nhân viên Hoa Kỳ ra khỏi
Việt Nam Cộng Hòa.
Ngay sau bản tin ngắn ngủi nhưng
rất quan trọng đó, từng đoàn trực thăng của Hải Quân
Hoa Kỳ vào Sài Gòn, chuyên chở những người "di tản" ra Hạm
Ðội 7 ngoài khơi Vũng Tàu. Bãi đáp chính của trực thăng
là khu vực Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ ở Tân Sơn
Nhất, và bãi đáp trên sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ,
tọa lạc bên trái đại lộ Thống Nhất (từ Dinh Ðộc Lập
nhìn về hướng Thảo Cầm Viên).
Tôi xin dừng ở đây để thuật
tiếp phần cuối của câu chuyện ngắn (phần đầu tôi đã
thuật trong cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963) do cựu
Ðại Tá Nguyễn Linh Chiêu kể cho các bạn trong bữa ăn tại
nhà ông ở Orange County, Nam California, vào ngày 15 tháng 11 năm
1991. Hôm ấy, tôi là một thực khách trong số đó. Chuyện
mà cựu Ðại Tá Chiêu kể lại là nhân chuyến ông sang Paris
đầu năm 1991, ông có mời cựu Tổng Thống Dương Văn Minh
và cựu Trung Tướng Trần Văn Ðôn dùng cơm, để giúp giải
tỏa mối bất hòa giữa hai vị mà cả hai vị đều là bạn
thâm giao của cựu Ðại Tá Chiêu. Trong toàn bộ câu chuyện
ngắn đó có đoạn cựu Ðại Tá Chiêu hỏi cựu Tổng Thống
Dương Văn Minh:
"Tại sao anh mới nhận chức Tổng
Thống mà anh ra lệnh đuổi Mỹ về nước?
"Moa" không đuổi Mỹ. Bản văn đuổi
Mỹ là do Ðại Sứ Martin (Hoa Kỳ) đưa cho "Moi" và yêu cầu
"Moi" phổ biến".
Phần cuối câu chuyện chỉ có thế,
nhưng nó cho thấy là Hoa Kỳ đã "an bài chiến tranh chống
cộng của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta" đến tận cùng chi tiết.
Vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn "đuổi Mỹ"
vừa phát đi trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn, thì từng
đoàn trực thăng Hoa Kỳ thuộc Hạm Ðội 7 của họ từ ngoài
khơi Thái Bình Dương, ào ào vào Sài Gòn, cứ như các trực
thăng đó túc trực ứng chiến trên đường bay của Hàng Không
Mẫu Hạm vậy. Thậm chí đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa
Kỳ đã có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất và tòa đại
sứ từ nửa đêm 28 rạng 29 tháng 4 năm 1975, để bảo vệ
cuộc vận chuyển di tản. Các sự kiện đó đã xác định
rõ ràng chớ không phải ngẫu nhiên. Ngôn ngữ chính trị là
như vậy mà. Nghe vậy, nhưng không phải vậy, mà đôi khi cũng
có thể là như vậy.
Vẫn sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975,
như những ngày trước đó, tôi lên văn phòng Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên, để theo dời tình hình, vẫn chưa nghe ông
nói gì về giờ thứ 25 mặc dù Tổng Thống đã chánh thức
yêu cầu Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 48 tiếng
đồng hồ!
Trở về văn phòng, đứng ở lan
can ngay trước văn phòng tôi, nhìn sang bãi đáp bên kia hàng
rào kẽm gai ngăn cách giữa khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu với
một góc của khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất. Từng chiếc
trực thăng hạ cánh rồi cất cánh với đầy người chen chúc
bên trong, một vài chiếc có cả người còn tòn teng ở càng
chân trực thăng chớ chưa vào được bên trong. Lúc ấy tôi
liên tưởng đến tấm ảnh với ghi chú ngắn trên những nhật
báo phát hành tại Sài Gòn ngày 18 và 19 tháng 4 năm 1975. Tấm
ảnh đó chụp lúc những giới chức của quốc gia Cam Bốt,
đang chen lấn lên trực thăng Hoa Kỳ để di tản khỏi quê
hương của họ, vì quân cộng sản đang tiến chiếm thủ đô
Nam Vang (Phnom Penh). Nghĩa là họ thua trận trước Việt Nam
Cộng Hòa, nhưng họ hơn ta ở điểm là họ còn chống giữ
thủ đô Nam Vang được vài tuần. Câu ghi chú rằng: "Những
người Cao Miên đứng bên ngoài rào, trông họ rất thản nhiên
khi nhìn cái cảnh trốn chạy của những người từng lãnh
đạo đất nước họ ...". Thật lòng mà nói, lúc ấy tôi
không biết tôi đang nghĩ gì và phải làm gì khi trông thấy
cảnh tượng như vậy diễn ra ngay trước mắt! Có vẻ như
tôi chưa sẵn sàng chấp nhận hình ảnh đó là sự thật trong
cuộc đời, mặc dù nó đang xảy ra trước mắt tôi!
Không biết có phải là khi một
người có những suy tư lo nghĩ trong một mức độ nào đó
thì họ còn kiểm soát được, có nghĩa là họ vẫn còn suy
tư lo nghĩ, nhưng khi điều suy tư lo nghĩ vượt quá mức kiểm
soát thì họ trở nên bình thản trước sự việc chăng? Nếu
trong khoa tâm lý và khoa dịch lý có nói đến trường hợp
như vậy, thì tôi đang trong tình trạng vượt quá mức kiểm
soát đó. Ðứng nhìn cấp trên tôi và các đồng đội tôi
đang bỏ chạy mà tôi không biết tôi đang nghĩ gì và phải
làm gì nữa!
Trong khi cảnh di tản bằng trực
thăng trong khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất ở phần đối
diện với khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu vẫn diễn tiến, Trung
Tướng Ðồng Văn Khuyên đẩy cửa vào phòng tôi, nhưng tôi
bận điện thoại cung cấp nhiên liệu cho Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh
đã từ Biên Hòa rút về Gò Vấp. Thấy tôi bận, ông quay
trở ra và sang phòng vệ sinh. Ðiện thoại xong, tôi ra đứng
cạnh lan can chờ ông. Dĩ nhiên là khi trở ra, Trung Tướng
Khuyên trông thấy tôi, ông đi ngang tôi, rồi đi thẳng đến
xe Jeep cách tôi chừng 5 bước. Ông lên xe, nhìn thẳng phía
trước, và im lặng. Chưa bao giờ tôi thấy thái độ của
ông như vậy, do vậy mà tôi nghĩ: "Phải chăng giờ thứ 25
bắt đầu?".
Ông không nói một tiếng nào trong
khoảng 5 phút. Ông ra hiệu bằng tay, anh Hạ Sĩ Quan tài xế
cho xe lăn bánh. Tôi đứng thẳng người, đưa tay lên trán,
chào ông, rồi khoa tay từ biệt để ông hiểu là tôi đoán
được chuyện gì đang xảy ra. Nếu tôi không lầm, thì Trung
Tướng Khuyên sẽ rất xúc động nếu như ông nói với tôi
bất cứ lời nào, vì vậy mà tôi không chút phiền muộn đối
với Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên cho dù ông đã không một
lời từ biệt, một lời từ biệt với biết bao nguy hiểm
cho người đi lẫn người chưa đi!
Lúc đó là 11 giờ 30 phút sáng ngày
29 tháng 4 năm 1975, và tôi xem đây là giây đầu tiên trong
3.600 giây của Giờ Thứ 25!
Khoảng hai tiếng đồng hồ sau đó,
Thiếu Tá Tấn, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Ðồng Văn
Khuyên, điện thoại tôi:
"Trình Ðại Tá, Trung Tướng đã
vào gặp Thiếu Tướng Smith rồi".
"Anh đang ở đâu vậy?
"Tôi đang ở nhà tôi".
"Ủa, anh không đi sao?
"Dạ không Ðại Tá".
"Anh có thể cho tôi biết là sau
khi rời chỗ tôi thì Trung Tướng đi những đâu không?
"Rời văn phòng Ðại Tá, Trung Tướng
hướng dẫn tài xế lái xe trên nhiều con đường trong Tổng
Tham Mưu, rồi ra cổng số 3 (cổng số 3 ra đường Vờ di Nguy)
và quanh vào cổng sau phi trường. Tại đây có sĩ quan tùy
viên của Thiếu Tướng Smith đón và hướng dẫn vào. Ði được
một khoảng thì lính gác Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gọi
tôi lại, bảo tôi tháo khẩu súng lục để lại cổng. Ði
bộ vào đến Văn phòng Tùy Viên Quốc Phòng thì Thiếu Tướng
Smith đứng chờ ở đó, cả hai ông vào văn phòng, tôi chào
Trung Tướng rồi trở về nhà".
"Anh trông thấy nhiều người trong
đó chớ?
"Ðông lắm Ðại Tá ơi! Ðông nghẹt
người lận".
"Cám ơn anh, và mong là anh em mình
còn liên lạc nhau được ngày nào mừng ngày ấy thôi. Chào
anh nhé".
Vậy là, quí vị lãnh đạo vừa
bàn giao chức vụ lãnh đạo quốc gia lẫn quí vị đương
kiêm chức vụ lãnh đạo quân đội, đã lần lượt "rời
bỏ Việt Nam" gần như theo hệ thống quân giai cho dù là hệ
thống quân giai ngẫu nhiên cũng vậy:
- Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu,
vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ
"bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận
chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Ðội, lên
phi cơ đi ngoại quốc!
- Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm,
hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc
Phòng, lên phi cơ đi ngoại quốc!
- Rồi Ðại Tướng Cao Văn Viên,
vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ
ngày 15 tháng 10 năm 1965, lên phi cơ đi ngoại quốc!
- Ðầu giờ thứ 25, Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, cũng lên phi cơ đi ngoại
quốc!
Và khi vị Tổng Tham Mưu Trưởng
và Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, rời bỏ chức vụ để
"đi ngoại quốc", thì quí vị Tướng Lãnh cùng nhiều vị
Trưởng Phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, cũng ra đi!
Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa lúc 12 giờ trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, không
còn một vị nào có thẩm quyền quyết định bất cứ vấn
đề gì hết, ngay cả công tác phòng thủ trại Trần Hưng
Ðạo -tức Bộ Tổng Tham Mưu- cũng không ai trách nhiệm nữa.
Quân nhân và công chức quốc phòng của Bộ Tổng Tham Mưu
trên dưới 2.000 người, không còn cấp chỉ huy, nên họ đành
phải quyết định: Tự động tan hàng!
Tôi điện thoại cho Ðại Tá Nguyễn
Hồng Ðài (con rể của Tổng Thống Dương Văn Minh), nguyên
là Chánh Sở Kế Hoạch/ Tổng Cục Tiếp Vận biệt phái về
Phủ Tổng Thống:
"Anh Ðài. Anh vui lòng trình với
Tổng Thống là cho đến lúc này, trong Bộ Tổng Tham Mưu không
còn vị Tướng Lãnh nào hết, cũng không ai trách nhiệm bảo
vệ bản doanh Tổng Tham Mưu nữa. Tôi trình xin Tổng Thống
cử người vào chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Cục
Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Nếu hôm nay không có vị nào
vào đây thì bộ tham mưu nhẹ của Tổng Cục Tiếp Vận chúng
tôi sẽ sang Biệt Khu Thủ Ðô làm việc, vì khách hàng mà
tôi yểm trợ chỉ còn Biệt Khu Thủ Ðô và một phần lực
lượng của Quân Ðoàn III thôi".
"Ðược rồi, tôi trình "Ông Già"
ngay và sau đó sẽ điện thoại anh".
Một lúc sau, Ðại Tá Ðài gọi
tôi:
"Ông Già" cho biết, lúc 3 giờ chiều
nay sẽ có phái đoàn Tướng Lãnh vào nhận chức trong Bộ
Tổng Tham Mưu. Anh yên tâm".
Lúc 2 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975,
tôi mời các vị Cục Trưởng Cục Phó, Trung Tâm Tiếp Liệu
Lục Quân, Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận, Chỉ Huy Trưởng
Trường Tiếp Vận, đến họp gấp. Kiểm điểm lại chỉ
còn Cục Trưởng Cục Quân Y (Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh),
Cục Trưởng Cục Quân Vận (Ðại Tá Nguyễn Tử Khanh), Cục
Phó Cục Quân Nhu, Cục Phó Cục Công Binh, Cục Phó Cục Quân
Cụ, Cục Phó Cục Truyền Tin, Cục Phó Cục Quân Tiếp Vụ,
và Cục Phó Cục Mãi Dịch. Tôi vào đề ngay:
"Trong trách nhiệm Tham Mưu Trưởng/Tổng
Cục Tiếp Vận, tôi xin thông báo đến quí vị và các bạn
về tình hình chung và tình hình nội bộ Tiếp Vận của mình.
Về tình hình chung, hiện nay theo Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu
thì có khoảng 10 sư đoàn quân cộng sản bao quanh Sài Gòn
và chúng đang áp sát ven ngoại ô. Ðiều đó cho phép dự đoán
là chúng có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào mà chúng
cho là thuận lợi. Về lực lượng phòng thủ của ta thì không
có đơn vị nào nguyên vẹn, kể cả Nhẩy Dù và Thủy Quân
Lục Chiến. Ngay cả Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân mới thành
lập với Ðại Tá Nguyễn Văn Lộc giữ chức Tư Lệnh, Ðại
Tá Vũ Phi Hùng làm Tư Lệnh Phó, và Ðại Tá Cao Văn Ủy làm
Tham Mưu Trưởng, cũng chỉ là sự kết hợp gấp rút các Liên
Ðoàn Biệt Ðộng Quân cùng với vài đơn vị Pháo Binh và
Thiết Giáp còn lại thôi. Về nội bộ Tiếp Vận, thì Trung
Tướng Tổng Cục Trưởng và gần hết các sĩ quan cao cấp
trong Tổng Cục Tiếp Vận, đã tự động rời khỏi nhiệm
sở rồi. Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân và
Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận, cũng thế.
Còn tại các Cục, tôi nghĩ là các bạn biết rõ hơn tôi.
Thông báo một tình hình như vậy, tôi muốn quí vị và các
bạn tùy nghi vì tôi không có thẩm quyền về bất cứ vấn
đề gì vượt quá trách nhiệm và quyền hạn của người
Tham Mưu Trưởng Tổng Cục. Tôi có bấy nhiêu lời, và nếu
không có điều gì cần hỏi, tôi xin chào quí vị, chào các
bạn, vì trong chúng ta không ai biết được những gì sẽ chợt
đến với mình trong những ngày tháng sắp tới -
Sở dĩ phải nói lời chào ngay vì
tôi thấy Ðại Tá Nguyễn Tử Khanh có vẻ như muốn rời phòng
họp. Quả thật, hơn tiếng đồng hồ sau đó, Ðại Tá Cao
Văn Phước, Cục Phó Cục Quân Vận cho tôi biết là Ðại
Tá Khanh đã vội vã xuống Giang Ðoàn Vận Tải và đi rồi.
Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4
năm 1975, Trung Tướng Vĩnh Lộc -đã một thời là Tư Lệnh
Quân Ðoàn II, rồi Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Ðẳng Quốc
Phòng- vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn
Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng
Tham Mưu. Và một vài Ðại Tá nhận chức Trưởng Phòng. Ðại
Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham
Mưu Trưởng.
Ðại Tá Tuân gọi tôi lên trình
diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng:
"Chào Trung Tướng".
"Chào anh. Những vị Tướng cầm
quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau
cố gắng nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút
lâm nguy này mới thấy được giá trị của mỗi người như
thế nào đối với Tổ Quốc".
"Thưa Trung Tướng, giờ này tôi
có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng, trong khi các
cấp chỉ huy trên tôi đã rời khỏi nhiệm sở, và các cấp
chỉ huy dưới tôi cũng vậy, có nghĩa là tôi vẫn tiếp tục
trách nhiệm của tôi, thưa Trung Tướng".
"Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận
cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy vào anh".
"Vâng. Tôi đã và đang làm tất
cả những gì thuộc về trách nhiệm của tôi, và tôi vẫn
tiếp tục như vậy. Và nếu không có vị nào khác thì xin
Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ
Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì tôi được biết
Chuẩn Tướng Chức sẵn sàng nhận chức vụ này, thưa Trung
Tướng".
"Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng
ngay hôm nay".
"Vâng. Chào Trung Tướng".
Lúc 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975,
Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục Trưởng Cục
Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc
trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng
Tổng Cục Tiếp Vận. Một chức vụ mà Chuẩn Tướng Chức
đã hơn một lần tự ông đề nghị thẳng với Trung Tướng
Khuyên đề nghị lên cấp trên bổ nhậm ông vào đó. Chuẩn
Tướng Chức, trong thời gian sinh hoạt trong "Nhóm Ðời Mới"
-tôi cũng là một thành viên trong Nhóm- của cụ Trần Văn
Ân, có lần nói với tôi rằng "lên đến Tướng là phải
hoạt động chính trị và ông cũng nói thẳng là ông muốn
nắm giữ chức vụ cao hơn là Cục Trưởng nếu vẫn phục
vụ trong quân đội, vì ông tự thấy khả năng của ông như
vậy, và đó mới là tương lai sự nghiệp của ông. Chuẩn
Tướng Chức là người rất hoạt động, khi ông tham gia công
tác với đơn vị Công Binh của ông thì ông làm nhiệt tình
như bất cứ người lính Công Binh nào, và trong những trường
hợp như vậy ông rất thích được phóng viên báo chí tiếp
xúc. Chuẩn Tướng Chức là mẫu người rất nhiệt tình trong
trách nhiệm, và ông cũng rất muốn được xuất hiện trong
sinh hoạt chính trường.
Tôi trình bày tình hình chung và
tình hình riêng của ngành Tiếp Vận như đã cung cấp cho các
vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ,
và tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị chiến đấu.
Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Ðại Tá Trần
Văn Lễ (đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận) trở
lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị Cục
Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các vị Cục Phó giữ
chức Quyền Cục Trưởng.
"Bây giờ xin phép anh tôi về nhà
dùng cơm rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn
vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện thoại cho tôi
và tôi giải quyết".
"Ðược rồi, anh về đi. Anh có
cần xe mở đường không vì đường phố đông nghẹt người
với xe cộ đó?
"Cám ơn anh. Không cần đâu anh".
Không chỉ là đường phố đông
nghẹt người mà là hỗn loạn chưa từng thấy! Áng chừng
6 cây số mà phải gần 2 tiếng đồng hồ tôi mới về đến
nhà. Dọc đường, tiếng gọi nhau chạy loạn vang vang cả
một quãng dài, đúng là "loạn thì lạc!". Trời tối hẳn,
những chiếc trực thăng Hoa Kỳ thả "hỏa châu" chiếu sáng
liên tục, để từng đoàn trực thăng phụ trách "di tản"
thi hành nhiệm vụ. Nhiều phi tuần khu trục phản lực cũng
của Hoa Kỳ, gào thét trên không phận thủ đô để sẵn sàng
tấn công các đơn vị cộng sản nếu như trực thăng vận
tải của họ bị bắn hạ, trong khi đạn phòng không của
cộng sản tua tủa vọt lên khoảng không gian bé nhỏ vừa
tối lại vừa sáng!
Trong những năm chiến tranh dữ dội,
nhất là trong trận chiến "mùa hè đỏ lửa năm 1972", ngày
cũng như đêm, người dân Sài Gòn rất quen với tiếng động
cơ phản lực chiến đấu, từng đôi từng đoàn, xé không
gian lên đường đánh địch bằng hỏa lực mãnh liệt mà
nó được các nhà chế tạo Hoa Kỳ nghiên cứu trang bị, và
quen đến mức nếu như vắng âm thanh đó thì họ cho là chuyện
không bình thường. Bẵng đi một thời gian khá lâu, đêm nay,
âm thanh đó trở lại, nhưng là trở lại để đánh dấu một
tình huống bi thảm của dân tộc Việt Nam sau hai thập niên
chiến đấu vì Dân Chủ Tự Do!
Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10
giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến Thành mặc
dù chỉ cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi
người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống vậy!
Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối người là
người mới trở vào được trong khu cư xá do các thanh niên
trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của
cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi điện thoại
sang Tổng Cục Tiếp Vận:
"Chào anh Chức, Hoa đây anh. Bây
giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được vì hỗn loạn
đến mức không sao tưởng tượng nỗi. Anh cho phép tôi ở
nhà, tất cả điện thoại về nhu cầu Tiếp Vận anh chuyển
sang cho tôi và tôi giải quyết ngay. Công việc của Tổng Cục
mình bây giờ thu gọn lắm rồi anh. Hàng tiếp liệu cho các
đơn vị chỉ gồm nhiên liệu và đạn dược, tôi cho lên
xe sẵn sàng tại các kho để cung cấp thật nhanh theo yêu cầu.
Anh an tâm".
"Ðược rồi. Có gì tôi gọi anh".
Vài trái đạn đại bác của quân
cộng sản đã nổ bên ngoài khuôn viên cư xá nhưng chưa gây
thiệt hại quan trọng nào. Phi trường Tân Sơn Nhất chắc
là bị pháo kích nhiều, vì tôi nghe tiếng đại bác nổ liên
hồi ở hướng đó. Trong cư xá có 1 đại đội Nhẩy Dù từ
trên căn cứ Hoàng Hoa Thám (đầu phi trường Tân Sơn Nhất
phía Hóc Môn) rút về đây, và cư dân an lòng đôi chút vì
có lực lượng phòng thủ.
Gần nửa đêm, Ðại Tá Trương
Ðình Liệu, Chỉ Huy Trưởng Tổng Kho Long Bình, điện thoại
tôi:
"Trình anh là tôi đã cho triệt thoái
toàn bộ về đây rồi. Chờ lệnh Tổng Cục hoài không thấy,
đến khi các đơn vị trong căn cứ Long Bình rút lui, tôi liền
cho anh em theo họ".
"Anh hành động đúng thôi. Chuẩn
Tướng Chức nhận chức Tổng Cục Trưởng lúc chiều, ông
ấy không ra lệnh thì tôi làm gì được. Về yểm trợ thì
tôi lo được, nhưng ra lệnh rút lui thì tôi đâu có thẩm
quyền. Anh hiểu tôi rồi hén".
Khoảng 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng
4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Trung Tướng Lộc đây anh. Lúc nãy,
Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết
là họ liên lạc với anh chưa?
"Chuẩn Tướng (Lê Trung Tường)
Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn III có gọi tôi, và tôi đã cung
cấp rồi, thưa Trung Tướng".
"Cố gắng nghe anh Hoa".
"Vâng. Tôi đã trình bày với Trung
Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ của tôi
cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được nữa, thưa
Trung Tướng".
Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng
4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng Tổng Cục
Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng,
từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi:
"Thưa Ðại Tá, Chuẩn Tướng Chức
đã lên xe đi rồi".
"Chuẩn Tướng đi một mình hay đi
với ai vậy anh?
"Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng
đi mà không xách cái cặp theo, và cũng không cho xe hộ tống
(xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến) theo nữa".
"Thôi được. Sáng sáng một chút,
tôi tìm cách đến Tổng Cục hẵng hay".
Tiếp đó điện thoại lại reo:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Ðài đây anh (Ðại Tá Nguyễn Hồng
Ðài). Lúc 10 giờ sáng nay (tức 30/4/1975) "Ông Già" sẽ công
bố giải pháp chính trị, anh theo dõi trên đài phát thanh Sài
Gòn nghe".
"Nhưng mà nội dung giải pháp là
gì?
"Trung lập, như tôi nói với anh
đó".
"Vậy là tôi chuẩn bị. Cám ơn
anh".
Ðến đây tôi xin mở ngoặc để
nói đến 2 điều cho vấn đề được rờ thêm.
Ðiều thứ nhất. Khoảng năm
1998, tôi có dịp gặp anh Nguyễn Hồng Ðài tại thành phố
Houston, tiểu bang Texas. Sau khi thăm hỏi nhau, anh xác nhận lời
anh đã nói với tôi là đúng như trong quyển Ðôi Dòng Ghi
Nhớ, nhưng về thời gian thì sai. Anh nói không phải rạng
sáng 30 tháng 4 mà là rạng sáng 29 tháng 4, vì tối 29 tháng
4 anh đang trên tàu ra biển. Trí nhớ của tôi vẫn ghi nhận
lời anh nói vào rạng sáng 30 tháng 4, vì đây là đêm đầu
tiên tôi "bị" ngủ tại nhà sau 3 tuần cắm trại ngủ tại
văn phòng tôi (Tổng Cục Tiếp Vận) trong khuôn viên Bộ Tổng
Tham Mưu, và tôi tiếp chuyện điện thoại với anh lúc tôi
từ cửa sổ nhà tôi nhìn lên bầu trời với những âm thanh
gào thét của những chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bao vùng yểm
trợ cho trực thăng đưa người di tản. Vì vậy tôi vẫn viết
lại đây theo trí nhớ của tôi.
Và điều thứ hai. Khi tôi
nói "tôi chuẩn bị", tức là tôi chuẩn bị rời khỏi Việt
Nam ngay sau khi Tổng Thống Minh tuyên bố trung lập. Nghĩa là
tôi và gia đình dự trù rời khỏi Việt Nam nhưng không đi
trước khi có giải pháp chính trị, mà ra đi trong lúc giao
thời dù chỉ trong ngắn ngủi. Chúng tôi dự trù 6 gia đình,
trong số này có 2 gia đình thuộc phi hành đoàn C130, dùng chiếc
C130 sang Singapore để đi Australia, vì tôi được sự giúp đỡ
của người bạn gốc Trung Hoa trong công ty INTRACO tại Singapore,
nối liên lạc với cơ quan ngoại giao Australia tại đó và
đã được đồng ý. Xin đóng ngoặc.
Vừa mờ sáng là tôi lên xe.
Hướng ngã tư Bảy Hiền -nơi trở thành tiền tuyến- có nhiều
tiếng súng trường và tiểu liên, nên không có người đi
lại bao nhiêu, và tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi rẽ
sang Võ Tánh nối dài. Quân cộng sản chưa xuống đến ngã
tư Bảy Hiền, và tôi an toàn đến Tổng Tham Mưu. Ðến, nhưng
không được phép vào.
Chuyện như thế này: Trung Tá Tòng,
Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tham Mưu đã tháp
tùng Ðại Tướng Cao Văn Viên đi ngoại quốc từ mấy ngày
trước, và Trung Tướng Vĩnh Lộc cử Ðại Tá Trần Văn Thăng
-sĩ quan An ninh quân đội- giữ chức Chỉ Huy Trưởng Tổng
Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đang khuyết. Ðại Tá Thăng ra lệnh
cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không
cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ quan an ninh
Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp. Tôi có thẻ, nhưng không
bao giờ mang trên túi áo mà là để trong cặp xách tay, và
cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở văn phòng.
Tôi làm như vậy là vì tất cả những quân nhân trách nhiệm
ở cổng gác này, không ai là xa lạ với tôi cả. Sĩ quan Quân
Cảnh nói:
"Ðại Tá thông cảm, vì lệnh của
Ðại Tá Thăng như vậy nên tôi phải thi hành".
"Tôi hiểu. Bây giờ Ðại Tá Thăng
ở đâu vậy anh?
"Dạ Ðại Tá Thăng dường như lên
văn phòng Trung Tướng rồi Ðại Tá".
"Thôi được. Chốc nữa Ðại Tá
Thăng về lại văn phòng, anh nói là tôi không có mang theo thẻ
an ninh nên không vào được, và tôi sang Biệt Khu Thủ Ðô
làm việc ở đó. Cám ơn anh nghe".
"Ðại Tá thông cảm cho tôi nghe
Ðại Tá".
"Nếu tôi là anh, tôi cũng vậy thôi
mà. Anh đừng bận tâm. Tôi đi đây".
Ðạn đại bác của quân cộng sản
nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên
Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ
quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép vào thân cây trước văn
phòng Tổng Hành Dinh.
Sang trại Lê văn Duyệt, tôi ngồi
tạm trong văn phòng Ðại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng
Biệt Khu Thủ Ðô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng bên Tổng
Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh chuyển tất
cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi.
Trung Tướng Vĩnh Lộc điện thoại
cho tôi, ông đồng ý tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Ðô điều
hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông
phải xuống dinh Ðộc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ
lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh
Lộc cũng bỏ chạy như những vị Tướng đã bỏ chạy, mà
chiều hôm qua, khi ông ra lệnh cho tôi ráng lo về Tiếp Vận,
ông đã khá nặng lời với các vị ấy. Nhưng nghĩ cho cùng,
Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng
vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ
cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày -tôi nghĩ-
ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng có trách nhiệm
về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000
người!
Tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ
Ðô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (có biệt danh là Minh đờn),
Tư Lệnh, đã bỏ chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát -người
đảo chánh Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 thất
bại- được Tổng Thống Dương Văn Minh cử giữ chức Tư
Lệnh Biệt Khu. Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh
Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan
sát tình hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không
Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng
sản đang quanh quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư
Bảy Hiền lên đến Hóc Môn. Vị Tư Lệnh Không Quân lúc bấy
giờ là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần
Văn Minh (không phải là Trung Tướng Minh đã giữ chức Quyền
Tổng Tư Lệnh quân lực sau khi Ðại Tướng Nguyễn Khánh lưu
vong), Tư Lệnh Không Quân đã cao bay xa chạy rồi. Và Bộ Tư
Lệnh Không Quân cùng các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư
Ðoàn 5 Không Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Ðoàn 3 Không
Quân Biên Hòa, rút xuống căn cứ Sư Ðoàn 4 Không Quân tại
Trà Nóc, cách Cần Thơ khoảng 7 cây số. Tôi nói "các phi đoàn
còn lại", là vì đã có nhiều phi công lái hằng trăm phi cơ
các loại bay qua căn cứ Utapao của không quân Hoa Kỳ, về
phía đông nam thủ đô Bangkok của Vương quốc Thái Lan, di
tản.
Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa
đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo
Ðại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm trên
tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông bay quan sát và
hướng dẫn các phi tuần khu trục tấn công các đơn vị địch.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, chiếc trực thăng trở
về nhưng không có Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi ngay:
"Chuẩn Tướng Thân đâu rồi các
bạn?-
"Chuẩn Tướng bảo tôi đáp xuống
Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi".
"Vậy là Chuẩn Tướng Thân cũng
chạy rồi".
(Sáu tháng sau đó, tôi gặp lại
Chuẩn Tướng Thân trong cùng trại tập trung Tam Hiệp, Biên
Hòa, trại này người địa phương còn gọi là trại Suối
Máu nữa)
Ðại Tá Ngô Văn Minh từ trong Trung
Tâm Hành Quân gọi tôi:
"Anh Hoa, anh nói chuyện với Lê Minh
Ðảo không? Hắn đang ở đầu máy bên kia nè".
Ðó là Thiếu Tướng (mới thăng
cấp chưa kịp tổ chức lễ gắn cấp hiệu 2 sao) Lê Minh Ðảo,
Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, đã quần thảo với 2 sư đoàn
quân cộng sản ở Xuân Lộc và gây cho chúng tổn thất rất
nặng. Vì áp lực của chúng quá mạnh, nên Quân Ðoàn III cho
lệnh lui về căn cứ Long Bình.
"Chào anh Ðảo, Hoa đây. Anh đang
ở đâu vậy?
"Tôi ở chỗ "nhà máy xi măng Hà
Tiên" và đang tìm xuồng qua sông. Tụi cộng sản nó đuổi
theo sau lưng tôi nè. Hết rồi anh ơi!
"Dù gì thì anh đã đánh nhau với
tụi nó một trận ngon lành, anh oai hơn nhiều vị Tư Lệnh
khác mà".
"Sao anh ở chỗ anh Minh?
"(Tôi mượn câu của anh để trả
lời anh) "Hết rồi anh ơi"! Vì chỉ còn yểm trợ cho Biệt
Khu thôi, và giờ này thì còn đơn vị nào nữa đâu. Thôi,
chúc anh may mắn nghe, và mong rằng chúng mình vẫn còn gặp
lại nhau là mừng rồi".
Sau đó -tức sau giờ Tổng Thống
Dương Văn Minh tuyên bố buông súng và bàn giao- Thiếu Tướng
Lê Minh Ðảo dùng giấy tờ giả xuống Rạch Giá để hy vọng
vượt thoát ra Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ, nhưng anh đã không thực
hiện được và trở về nhà trong cùng cư xá với tôi. Sau
này, có những năm chúng tôi ở tù chung trong một trại nhưng
khác buồng giam.
Lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4 năm
1975, từ máy thu thanh trong phòng Ðại Tá Ngô Văn Minh, có âm
thanh "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một
giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..." Và đại
ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh
đối với quân đội ".... các đơn vị không được nổ súng,
ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...".
Ðối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ súng và
ông hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự.
Tôi xem đây là giây thứ 3.600, giây
cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ
7.583, và là ngày cuối cùng của một giai đoạn chiến đấu
bảo vệ tự do dân chủ!
Thế là hết !!!
Tôi lặng lẽ rời nơi đây, theo
đường Lê Văn Duyệt, rẽ sang đường Trần Quốc Toản, ép
bên phải để ghé vào Cục Mãi Dịch, chào các cộng sự viên
cũ của tôi. Trung Tá Nguyễn Văn Thình, Cục Phó, hỏi tôi
cách bàn giao ra sao? Tôi bảo:
"Không bàn giao gì cả, các bạn
nào muốn lấy gì thì lấy rồi thản nhiên ra về, ai muốn
vào đây làm gì mặc họ".
Dọc đường về nhà, những nơi
mà tôi vừa đi qua, có biết bao bộ đồ trận -những bộ
quân phục từng là biểu tượng quân phong quân kỷ của quân
nhân- những mũ những giày, vất vưởng ngổn ngang trên đường
phố. Trong dòng người ngược xuôi vội vã, có rất nhiều
người quần đùi áo lót mà tôi tin đó là những đồng đội
của tôi tạm thời lẩn tránh bọn cộng sản. (Hình ảnh này
là một phần trong bản nhạc ''Như Lá Chết Cành Khô'' do cựu
Ðại Tá Phan Văn Minh -đã một thời là Ðổng Lý Văn Phòng
của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ- sáng tác trong thời gian
bị giam ở trại tập trung Hà Tây, tỉnh Hà Sơn Bình).
Quân cộng sản chưa thật sự có
mặt trong thành phố, nhưng những tốp thanh niên nam nữ đeo
băng tay đỏ với súng M16 trên tay và ngồi xe jeep chạy đó
đây trong trên đường phố Sài Gòn. Ðó là những bọn mà
chúng tôi gọi là "cộng sản 30 tháng 4". Dù trong một tầm
nhìn hạn hẹp đó, tưởng cũng đủ nói lên một cảnh tượng
trong biết bao cảnh tượng đau thương ngập tràn trái tim
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vì chưa tròn trách nhiệm
với dân với nước!
Chốc chốc tôi sờ vào chai độc
dược trong túi, dự định của tôi khi xin Y sĩ Chuẩn Tướng
Phạm Hà Thanh là tôi sẽ sử dụng nếu như tôi bị cộng
sản bắt hoặc chưa bắt nhưng chúng sỉ nhục tôi. Nhưng,
chiều hôm ấy, tôi đã ném nó vào thùng rác và với khẩu
súng lục 9 ly (do ông Johnson, trưởng toán tình báo vùng đồng
bằng Cửu Long tặng tôi tại Cần Thơ năm 1968) vào cái giếng
ngay sau nhà cô tôi ở đường Thành Thái, sau khi vợ tôi ngồi
dưới chân tôi vừa khóc vừa nói như van lơn:
"Anh ơi, trong mọi trường hợp,
anh đừng bỏ em và các con nghe anh!".
Tôi tin là vợ tôi không biết gì
về chai độc dược trong túi tôi, nhưng có lẽ do cảm tính
đặc biệt của người vợ thấu hiểu tính chồng trong hoàn
cảnh nghiệt ngã mà nói với chồng bằng cả tâm hồn người
vợ người mẹ!
Hơn một tiếng đồng hồ sau lời
tuyên bố đầu hàng (không nổ súng có nghĩa là đầu hàng
rồi!) của Tổng Thống Dương Văn Minh, đơn vị Thiết Giáp
đầu tiên của cộng sản mới vào dinh Ðộc Lập. Và từ
giờ đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị nhà cầm quyền nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cai trị!
Trong lúc trên dưới 200.000 quân
của Quân Ðoàn IV, chưa một trận đánh quan trọng nào, cũng
chưa một vị Tư Lệnh nào bỏ chạy, đã phải buông súng
đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống Dương văn Minh!
Trước đó, khi cuộc chiến chưa
ngừng tiếng súng, có những vị Tướng đầy quyền lực,
đã thật sự bỏ chạy ra nước ngoài. Và giờ đây, cuộc
chiến thật sự đã tàn, và tàn trong ý nghĩa thua trận, bại
trận, hay đầu hàng, hiểu thế nào cũng thế thôi. Nhưng trong
cảnh bại trận này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta,
xuất hiện Những Vị Tướng Thật Sự Là Những Anh Hùng
không kém những vị Anh Hùng trong lịch sử đã tuẫn tiết
khi thành thất thủ. Ðó là hành động tự sát ngay nơi nhiệm
sở chớ không chấp nhận đầu hàng, của:
- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư
Lệnh Quân Ðoàn IV. (Cần Thơ)
- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư
Lệnh Phó Quân Ðoàn IV. Chuẩn Tướng Hưng đã được vinh
danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường
An Lộc, tỉnh Bình Long.
- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư
Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình Dương)
- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư
Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh. (Mỹ Tho)
- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư
Lệnh Quân Ðoàn II, tự tử tại nhà vì tên tuổi Quân Ðoàn
II đã bị chôn theo những nấm mồ vô danh trên đường liên
tỉnh số 7 từ giữa tháng 3 năm 1975 rồi.
Ngoài ra, còn biết bao Quân Nhân
thuộc các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh Sát, Viên
Chức Hành Chánh các ngành, đã tuẫn tiết! Ðó là
"Những
Anh Hùng Vô Danh" rất đáng cho chúng ta trân trọng.
Vào những ngày 30 tháng 4, tôi
nghĩ, chúng ta nên dành vài chục giây đồng hồ, đứng hay
ngồi ở đâu đó cũng được, cúi đầu, im lặng, để tưởng
nhớ những vị Anh Hùng của chúng ta, những người đã cùng
chúng ta cầm súng chống quân cộng sản xâm lược, nhưng vào
giờ phút kết thúc bi thảm cuộc chiến đấu của chúng ta,
thì những vị đó đã can đảm thực hiện tròn vẹn lời
thề trước bàn thờ Tổ Quốc trong ngày tốt nghiệp trường
võ bị: "... Quyết hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ Quốc
Dân Tộc ..."
Và theo tôi, Thiếu Tướng Lê Minh
Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, là người rất xứng đáng
được vinh danh "Anh Hùng Xuân Lộc" trong trận đánh sau cùng.
Thiếu Tướng Ðảo, dù bản doanh kế cận thủ đô Sài Gòn
nhưng không bỏ chạy, mà trái lại, ông là vị Tư Lệnh duy
nhất trong 3 Quân Ðoàn, đã chống trả mãnh liệt và gây tổn
thất nặng nề cho 2 Sư Ðoàn quân cộng sản tấn công Xuân
Lộc (thuộc tỉnh Long Khánh). Và Sư Ðoàn 18 Bộ Binh chỉ rút
lui khi có lệnh của Quân Ðoàn III.
Một giai đoạn lịch sử do Tổng
Thống Dương Văn Minh -vị Tổng Thống có nhiệm kỳ chỉ hơn
40 tiếng đồng hồ- vừa sang trang!
Dân Tộc Việt Nam, từ nay dưới
sự thống trị của cộng sản độc tài nghiệt ngã!
Quê hương Việt Nam chúng ta,
dân tộc Việt Nam chúng
ta,
sao mà bi thảm đến như
vậy!
sao mà bất hạnh đến
như vậy!
(Tiếp
theo Chương mười)
|