- một -
Tóm lược Việt
Nam 1858-1975.
*****
Việt Nam 1858-1954.
Vua Tự Ðức năm thứ 14, đó
là năm 1858, bị thực dân Pháp dùng Hải Quân đánh chiếm
Ðà Nẳng. Thiết lập được bàn đạp trên đất liền, từ
đó Pháp đánh chiếm nhiều nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam.
Ðến năm 1867, sáu tỉnh miền Nam là Biên Hòa, Gia Ðịnh, Ðịnh
Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, trở thành thuộc địa
của Pháp. Lần lượt họ đánh chiếm toàn cõi Việt Nam bằng
những phương thức thích hợp. Năm 1883, Việt Nam bị Pháp
chia làm 3 Kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, với 3 chế độ
cai trị khác nhau về cách dùng chữ, nhưng thực chất đều
là thuộc địa.
Năm 1939, Phát xít Ðức tấn
công chiếm đóng Ba Lan (Poland), mở màn cuộc chiến tranh thế
giới lần thứ hai trên vùng đất Châu Âu. Ngày 7 tháng 12
năm 1941, Nhật Bản tấn công Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ tại quần
đảo Hawaii, mở màn cuộc chiến tranh vùng Châu Á-Thái Bình
Dương. Ngày hôm sau, Hoa Kỳ chánh thức tuyên chiến với Nhật
Bản. Nhật Bản yêu cầu Pháp cho mượn lãnh thổ Việt Nam
để thiết lập những căn cứ quân sự trong chiến lược
đánh chiếm các quốc gia khu vực Nam và Tây Nam Việt Nam. Do
yếu thế, chánh phủ Pháp chấp nhận lời yêu cầu có tính
cách cưỡng bách của Nhật Bản. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân
Nhật đảo chánh Pháp, và chánh phủ Trần Trọng Kim ra đời
với mô hình chánh phủ phương Tây.
Ngày 6 tháng 6 năm 1944, quân
đội Ðồng Minh mà Hoa Kỳ là lực lượng chánh, đổ bộ
lên bờ biển Normandy phản công chiếm lại nước Pháp. Từ
bàn đạp đó, quân đội Ðồng Minh tiến đánh quân phát xít
Ðức & Ý. Với cuộc tiến quân như vũ bão, quân đội
Ðồng Minh nhanh chóng chiến thắng khắp nơi, và cuối cùng
đánh bại quân phát xít Ðức. Ông Hitler, lãnh tụ phát xít
Ðức, tự sát trong hầm chỉ huy dưới lòng thủ đô Ðức
quốc. Và chiến tranh vùng Châu Âu chấm dứt.
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật
Bản đầu hàng Hoa Kỳ sau khi hai thành phố Hiroshima và Nagasaki
bị bom nguyên tử, và chiến tranh vùng Châu Á-Thái Bình Dương
chấm dứt từ đó.
Chánh phủ Trần Trọng Kim với
các đảng chính trị khuynh hướng quốc gia, tổ chức mít
tinh mừng độc lập, nhưng với bản chất dối trá xảo quyệt
của cộng sản, ông Hồ Chí Minh biến cuộc mít tinh đó trở
thành của đảng cộng sản tổ chức. Ông Hồ mời gọi các
đảng chính trị nói trên tham gia chánh phủ liên hiệp, và
uy hiếp vua Bảo Ðại thoái vị. Khi đứng vững, ông Hồ đã
lần lượt loại trừ các đảng chính trị đó, để chỉ
còn lại đảng duy nhất cầm quyền là đảng cộng sản Việt
Nam.
Ðồng Minh cử quân đội Trung
Hoa (thời Tổng Thống Tưởng Giới Thạch), cùng với quân
đội Anh và Ấn Ðộ, đến Việt Nam thi hành nhiệm vụ giải
giới quân Nhật. Quân Trung Hoa phụ trách từ vĩ tuyến 16 trở
lên Bắc, quân Anh với Ấn Ðộ phụ trách từ vĩ tuyến 16
trở xuống Nam. Quân Pháp đã theo chân cánh quân của Anh với
Ấn Ðộ, trở lại chiếm đóng Việt Nam.
Sau những lần thương thuyết
thất bại, chiến tranh giữa Việt Minh cộng sản với thực
dân Pháp bắt đầu từ 19 tháng 12 năm 1946. Ông Hồ và lực
lượng của ông rút vào rừng núi Bắc Việt. Như vậy, thành
thị, một phần miền Trung và toàn bộ miền Nam do Pháp kiểm
soát, còn rừng núi Bắc Việt với vài tỉnh miền Trung do
Việt Minh cộng sản kiểm soát.
Khi quân Pháp sa lầy, Quốc
Hội Pháp thông qua đạo luật vào tháng 5 năm 1950, thành lập
quân đội Việt Nam với 60.000 quân, dưới danh xưng "Quân Ðội
Quốc Gia Việt Nam" trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Ðến ngày
1 tháng 5 năm 1952, Bộ Tổng Tham Mưu được thành lập, và
văn kiện do Quốc Trưởng Bảo Ðại ký. Vị Tổng Tham Mưu
Trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh.
Căn cứ quan trọng bậc nhất
của quân Liên Hiệp Pháp tại Ðiện Biên Phủ với hơn 12.000
quân trú phòng, thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, dẫn đến
Hiệp Ðịnh Ðình Chiến ngày 20 tháng 7 năm 1954 ký tại thành
phố Genève, Thụy Sĩ. Theo đó, vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cai trị, vĩ
tuyến 17 trở xuống Nam là nước Việt Nam theo chế độ tự
do. Biểu thị vĩ tuyến 17 trên thực tế là sông Bến Hải
với cầu Hiền Lương. Lúc ấy, Quốc Trưởng Việt Nam là
cựu Hoàng Bảo Ðại. Trước đó hai tuần, ngày 7 tháng 7 năm
1954, ông Ngô Ðình Diệm trình diện nội các với quốc dân
đồng bào và ngoại giao đoàn. Cũng theo Hiệp Ðịnh Ðình
Chiến, quân đội và cán bộ cộng sản từ dưới vĩ tuyến
17 chuyển ra Bắc, quân đội Pháp và quân đội Việt Nam từ
trên vĩ tuyến 17 chuyển vào Nam. Cùng lúc, gần một triệu
đồng bào miền Bắc không chấp nhận chế độ cộng sản,
đã bằng mọi cách với biết bao gian khổ và hiểm nguy thoát
chạy vào Nam xây dựng cuộc sống mới.
Việt Nam 1955-1975.
Kết quả cuộc "trưng cầu
dân ý" ngày 23 tháng 10 năm 1955, Quốc Trưởng Bảo Ðại bị
truất phế, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm trở thành Tổng Thống
từ ngày 26 tháng 10 năm 1955. Quốc Hội Lập Hiến được bầu
ra để soạn thảo Hiến Pháp. Sau khi ban hành Hiến Pháp, khai
sinh nền đệ nhất Cộng Hòa, các cơ cấu bộ máy hành chánh
từ trung ương đến địa phương được hình thành. Việt
Nam theo chế độ Cộng Hòa, và trên các công văn chánh phủ
có tiêu đề "Việt Nam Cộng Hòa".
Ðể chuẩn bị chống lại
cuộc chiến tranh từ phía cộng sản, với sự hỗ trợ của
Hoa Kỳ, Việt Nam đã cải tổ quân đội về tổ chức, trang
bị, và huấn luyện. Từ cấp Tiểu Ðoàn tổ chức thành Trung
Ðoàn, Sư Ðoàn, và Quân Ðoàn. Từ trang bị vũ khí cũ kỹ
hầu hết do Pháp sản xuất, được trang bị vũ khí do Hoa
Kỳ sản xuất. Từ huấn luyện chiến thuật cấp Tiểu Ðoàn,
nay huấn luyện tác chiến cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, phối
hợp tác chiến với các quân chủng binh chủng.
Tuyên Cáo của Việt Nam Cộng
Hòa với đồng bào và thế giới, nêu rõ, do không ký vào
Hiệp Ðịnh Ðình Chiến Genève, nên không bị ràng buộc cuộc
tổng tuyển cử dự liệu trong Hiệp Ðịnh, vì đó là mưu
đồ của cộng sản Việt Nam được cộng sản Nga và cộng
sản Trung Hoa hỗ trợ mạnh mẽ tại hội nghị. Bằng chứng
rõ rệt là cộng sản Việt Nam, trong khi tập trung mà họ gọi
là tập kết lực lượng dưới vĩ tuyến 17 chuyển ra Bắc,
đã cài lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hằng chục
ngàn cán bộ đảng viên. Sự kiện này đủ chứng minh là
lãnh đạo cộng sản Việt Nam, đã chuẩn bị đánh chiếm
Việt Nam Cộng Hòa từ trước khi thật sự đình chiến.
Năm 1957, cán bộ đảng viên
cộng sản do ông Hồ cài lại miền Nam, bắt đầu gây chiến
với Việt Nam Cộng Hòa sau thời gian xây dựng hạ tầng cơ
sở, với những hoạt động thu thuế trong vùng xa xôi hẻo
lánh, tổ chức những cuộc biểu tình gây rối trật tự xã
hội, bắt giết các viên chức Xã, Ấp. Giết cả những vị
lãnh đạo tôn giáo những vùng nông thôn hay rừng núi xa xôi.
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, cuộc
"Ðảo Chánh" quân sự do Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi, Lữ Ðoàn
Trưởng Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, thực hiện lật đổ Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm nhưng thất bại. Ðại Tá Thi và bộ tham mưu
đảo chánh lấy chiếc C47 của Không Quân Việt Nam bay sang
Nam Vang, thủ đô Hoàng Gia Cam Bốt, xin tị nạn chính trị.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một
số vị Tướng Lãnh Việt Nam do Trung Tướng Dương Văn Minh
lãnh đạo "Ðảo Chánh" lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm,
khi cuộc chống đối của Phật Giáo đòi chánh phủ hủy bỏ
lệnh cấm treo cờ Phật Giáo lên cao độ. Hoa Kỳ đứng sau
lưng cuộc đảo chánh này ngang qua ông Conein, tình báo Hoa Kỳ,
có mặt trong nhóm quí vị Tướng Lãnh Việt Nam lãnh đạo
đảo chánh. Sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, bị giết chết trong chiếc
Thiết Vận Xa M113, sau khi Tổng Thống yêu cầu Hội Ðồng
Tướng Lãnh đảo chánh đưa xe đến đón tại nhà thờ Cha
Tam ở Quận 5 thủ đô Sài Gòn, đến Bộ Tổng Tham Mưu, nơi
đặt bản doanh của Hội Ðồng Tướng Lãnh đảo chánh. Sự
kiện Tổng Thống điện thoại yêu cầu đưa xe đến đón
ông, có thể hiểu là Tổng Thống chấp nhận đầu hàng, cũng
có thể hiểu là Tổng Thống hành động như một Tổng Thống
đương quyền. Cuộc đảo chánh thành công, và Trung Tướng
Dương Văn Minh với chức vụ Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân
Cách Mạng, hành sử chức năng Quốc Trưởng.
Ngày 30 tháng 1 năm 1964, lại
một cuộc "Ðảo Chánh" xảy ra do Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 tại Sài Gòn, Trung Tướng Nguyễn
Khánh, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 tại Ðà Nẳng, và Ðại Tá Cao
Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù tại Sài Gòn thực hiện,
nhưng gọi là Chỉnh Lý. Ðảo chánh thành công sau khi bắt
giữ 5 vị Tướng Lãnh thân cận của Trung Tướng Dương Văn
Minh, và Trung Tướng Nguyễn Khánh đương nhiên giữ chức Chủ
Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, cũng là Quốc Trưởng.
Lúc ấy, Trung Tướng Dương Văn Minh nhận chức Cố Vấn. Cũng
là Hoa Kỳ đứng sau lưng ngang qua sự có mặt của một người
tình báo Hoa Kỳ trong nhóm quí vị đảo chánh. Cuộc đảo
chánh này, trong một mức độ nào đó, có thể hiểu là quí
vị Tướng Lãnh thân Mỹ gạt quí vị Tướng Lãnh thân Pháp
ra khỏi chính trường Việt Nam.
Một Thông Ðiệp của Trung
Tướng Nguyễn Khánh, kêu gọi các quốc gia Ðồng Minh hỗ
trợ Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc xâm lăng từ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đang ngày càng gia tăng chiến
trận khắp nơi cả về mức độ lẫn cường độ. Từ năm
1965, Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam cùng tác chiến chống quân
cộng sản. Rồi lần lượt quân đội của Ðại Hàn Dân Quốc
(South Korea), Thái Lan, Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan, cũng đưa
quân đến hỗ trợ Việt Nam chống lại cộng sản.
Ngày 15 tháng 7 năm 1964, tại
Vũng Tàu, Trung Tướng Nguyễn Khánh ban hành bản Hiến Chương,
qui định vị đứng đầu quốc gia là Chủ Tịch với nhiều
quyền hành. Và ông được Ðại Hội Ðồng Quân Lực bầu
vào chức Chủ Tịch nước. Ngay sau ngày ban hành Hiến Chương
mà báo chí gọi là "Hiến Chương Vũng Tàu", những cuộc mít
tinh biểu tình gần như liên tục hằng ngày, đòi hỏi Trung
Tướng Khánh hủy bỏ bản Hiến Chương độc tài, đồng thời
đòi ông từ chức.
Ngày 13 tháng 9 năm 1964, Trung
Tướng Dương Văn Ðức, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 tại Cần Thơ,
lãnh đạo cuộc "Biểu Dương Lực Lượng", mà theo lời ông
là cảnh cáo Trung Tướng Nguyễn Khánh đang có hành động
độc tài. Cũng có Hoa Kỳ đứng sau lưng ngang qua viên chức
tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ, mà Trung Tá Tạ Thành Long
-Tham Mưu Phó Hành Quân/Quân Ðoàn 4- tiếp xúc nhận lệnh.
Sau khi viên tình báo Hoa Kỳ buộc Trung Tướng Ðức rút quân,
Trung Tướng Nguyễn Khánh tạm thời không cho Ðại Tướng
Trần Thiện Khiêm trở về Sài Gòn bởi ông nghi ngờ Ðại
Tướng Khiêm đứng sau lưng biến động quân sự này. Lúc
ấy Ðại Tướng Khiêm và gia đình lên Ðà Lạt và dự trù
trở về Sài Gòn trong ngày. Một tuần sau, Trung Tướng Khánh
cho Ðại Tướng Khiêm về Sài Gòn, nhưng buộc Ðại Tướng
Khiêm lưu vong từ ngày 7 tháng 10 năm 1964. Tháng 12 cùng năm,
đến lượt Trung Tướng Dương Văn Minh, cũng bị Trung Tướng
Nguyễn Khánh buộc lưu vong.
Trung Tướng Nguyễn Khánh bị
cáo buộc độc tài, vì ông nắm giữ hầu hết các chức vụ
lãnh đạo cấp quốc gia: Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách
Mạng tức Quốc Trưởng và Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Thủ Tướng,
Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội. Ngày 1
tháng 11 năm 1964, ông cử kỹ sư Phan Khắc Sửu vào chức Quốc
Trưởng, và giáo sư Trần Văn Hương vào chức Thủ Tướng.
Ngày 16 tháng 2 năm 1965, Trung
Tướng Khánh lại cử chánh phủ Phan Huy Quát thay thế chánh
phủ Trần Văn Hương, vì ông tự xem chức Chủ Tịch Hội
Ðồng Quân Nhân Cách Mạng trên chức Quốc Trưởng.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965, Thiếu
Tướng Lâm Văn Phát, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 (?),lãnh đạo cuộc
"Ðảo Chánh" lật đổ Trung Tướng Nguyễn Khánh nhưng thất
bại, vì không được sự ủng hộ của các vị Tư Lệnh đại
đơn vị, và Hội Ðồng Quân Lực ra lệnh rút về căn cứ.
Sau đó, Hội Ðồng Quân Lực quyết định loại Trung Tướng
Nguyễn Khánh ra khỏi Hội Ðồng này, và buộc ông lưu vong
từ ngày 25 tháng 2 năm 1965.
Quốc Trưởng với Thủ Tướng
không đồng quan điểm về thay đổi vài chức vụ trong chánh
phủ, Quốc Trưởng từ chức, Thủ Tướng cũng phải từ chức
theo. Do yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát, Hội Ðồng
Quân Lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia. Chủ Tịch
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu,
và Thủ Tướng -lúc ấy gọi là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp
Trung Ương- là Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, ra mắt quốc dân
đồng bào và ngoại giao đoàn ngày 19 tháng 6 năm 1965.
Ngày 9 tháng 3 năm 1966, Ủy
Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp, cách chức Trung Tướng Nguyễn
Chánh Thi trong chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 kiêm Ðại Biểu
Chánh Phủ miền Trung. Hệ lụy sau đó là những cuộc mít
tinh biểu tình chống đối chánh phủ, diễn ra tại miền Trung
và vài tỉnh miền Nam. Bước thứ nhất đòi phục chức cho
Trung Tướng Thi. Bước thứ hai đòi Trung Tướng Thiệu, Thiếu
Tướng Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng Trưởng
Quốc Phòng, từ chức. Bước thứ ba đòi thực hiện dân chủ
bằng cách bầu Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo Hiến
Pháp mới. Cuộc khủng hoảng kéo dài đến ngày 15 tháng 5
thì kết thúc. Ủy ban Lãnh Ðạo Quốc Gia tổ chức bầu Quốc
Hội Lập Hiến vào tháng 9 năm 1966. Và bản Hiến Pháp công
bố ngày 1 tháng 4 năm 1967. Những tháng còn lại của năm 1967,
các cơ cấu dân cử mà Hiến Pháp qui định được thực hiện
đầy đủ. Lần đầu tiên, Việt Nam có Quốc Hội lưỡng
viện. Liên danh Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với Thiếu Tướng
Nguyễn Cao Kỳ đắc cử Tổng Thống với Phó Tổng Thống
tháng 9 năm 1967.
Ngày cuối tháng 1 năm 1968,
đêm Giao Thừa Tết Nguyên Ðán năm Mậu Thân, quân cộng sản
đồng loạt tấn công nhiều tỉnh lỵ miền Trung, đêm hôm
sau tấn công các tỉnh lỵ miền Nam. Tuy bất ngờ, vì hai bên
có công bố tự ý "hưu chiến trong 3 ngày Tết", để đồng
bào và quân đội hai bên mừng Năm Mới, nhưng quân lực Việt
Nam Cộng Hòa đã phản công chiếm lại tất cả các thành
phố thị trấn trong thời gian ngắn nhất, chỉ riêng thành
nội Huế phải hơn một tháng chiến đấu mãnh liệt mới
đánh bật hoàn toàn quân cộng sản. Trong trận chiến tại
Huế, quân cộng sản đã vô cùng tàn nhẫn khi chúng bắt Dân
lẫn Quân đem giết bằng mọi cách, kể cả trói chặt và
chôn sống! Mãi mấy tháng sau, mới khám phá nhiều mồ chôn
tập thể với hơn 2.800 bộ xương đếm được! Nhưng vẫn
còn hằng ngàn người bị ghi là mất tích, vì không tìm thấy
xác. Các cơ quan truyền thông thế giới ghi nhận những hình
ảnh bi thương của Việt Nam nói chung, và người dân Huế
nói riêng, với nỗi ngậm ngùi của những người từng ghi
nhận những cuộc tàn sát trong chiến tranh trên thế giới!
Cuối năm đó, hội nghị tại
Paris, Pháp quốc, bắt đầu với những bên tham gia gồm: Hoa
Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và một
tổ chức có cái tên dài ngoằng là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng
Hòa Miền Nam Việt Nam do cộng sản Hà Nội thành lập cuối
năm 1960 tại vùng biên giới Việt Nam-Cam Bốt, để làm bình
phong cho họ. Trong khi hội nghị diễn tiến rất chậm chạp
thì chiến trường trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa càng khốc
liệt, và không quân chiến lược lẫn chiến thuật Hoa Kỳ,
liên tiếp oanh tạc các cơ sở Tiếp Vận trên lãnh thổ Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và dọc đường Trường Sơn, nơi mà
những đoàn xe chuyển vận quân đội cùng súng đạn của
quân cộng sản vào chiến trường Việt Nam Cộng Hòa.
Trận chiến "Mùa Hè năm 1972",
hằng chục Sư Ðoàn quân cộng sản từ miền Bắc tràn qua
vĩ tuyến 17 tấn công trực diện vào các căn cứ ở tỉnh
Quảng Trị, và luồn theo đường Trường Sơn trên đất Lào
tấn công tỉnh Kon Tum, và từ bên trong biên giới đông bắc
Cam Bốt tấn công sang tỉnh Bình Long. Tại mặt trận Quảng
Trị, đại đa số đồng bào bồng bế gồng gánh theo quốc
lộ 1 chạy về hướng Huế, có đến hằng ngàn người già
trẻ lớn bé chết đầy đường do đạn pháo binh và hỏa
tiễn của quân cộng sản bắn xối xả! Xác người ngổn
ngang đến mức báo chí quốc tế gọi là "đại lộ kinh hoàng",
trong khi đoàn người chạy giặc cộng sản vẫn phải thoát
chạy ngoài tầm tay cộng sản! Kết quả, cộng sản Việt
Nam bị thất bại như đã thất bại trong cuộc tấn công đầu
năm 1968 mà họ gọi là tổng công kích.
Do quyền lợi của Hoa Kỳ,
nhất là sau khi Hoa Kỳ bắt tay với Trung Hoa cộng sản (năm
1972), "Hiệp Ðịnh Chấm Dứt Chiến Tranh & Tái Lập Hòa
Bình Việt Nam" ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, thủ đô
nước Pháp, với những lợi thế về phía cộng sản. Hoa Kỳ
và Ðồng Minh rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Việt Nam, trong
khi cộng sản Việt Nam vẫn được hỗ trợ mạnh mẽ từ
cộng sản Nga và cộng sản Trung Hoa.
Ngay sau khi Hiệp Ðịnh có hiệu
lực, quân cộng sản mở cuộc bao vây và tấn công căn cứ
Tống Lê Chân, khu vực ranh tỉnh Tây Ninh với Bình Dương.
Không thấy quân đội Hoa Kỳ can thiệp, cộng sản xem như
được khuyến khích tham vọng của chúng. Thế là bọn chúng
tung các Sư Ðoàn chính qui từ miền Bắc tràn qua vĩ tuyến
17, và luồn theo đường Trường Sơn, tấn công Việt Nam Cộng
Hòa khắp mọi nơi, như chưa hề biết Hiệp Ðịnh Paris là
gì cả.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
vừa nhanh chóng phát triển lực lượng để lấp vào khoảng
trống do quân Ðồng Minh rút về nước, vừa quyết liệt chống
trả quân cộng sản.
Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn
tỉnh Phước Long thất thủ trước sự bao vây và tấn công
của khoảng 2 Sư Ðoàn quân cộng sản. Ngày 13 tháng 3 năm
1975, tỉnh Darlac (Ban Mê Thuột) lọt vào tay quân cộng sản.
Ngày 17 tháng 3 năm 1975, theo lệnh của Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn
2, rút bỏ Cao Nguyên Miền Trung để đem quân phản công lấy
lại Darlac. Nhưng cuộc hành quân lui binh trên đường liên
tỉnh số 7 xuống Tuy Hòa (Plei Ku-Tuy Hòa), bị thất bại nặng
nề chưa từng thấy trong chiến tranh Việt Nam đến lúc ấy.
Ðoàn quân bại trận đến mức không thể phản công Ban Mê
Thuột như kế hoạch. Từ thất bại kinh hoàng đó, những
cuộc lui binh của các đại đơn vị và đơn vị địa phương
-nói cho đúng là tháo chạy hỗn loạn- từ Quảng Trị (19/3/1975),
Thừa Thiên/Huế (23/3/1975), Quảng Nam/Ðà Nẳng (29/3/75), Quảng
Tín, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa (1/4/1975),
Cam Ranh, Phan Thiết (19/4/1975), đến Bình Tuy, rồi Vũng Tàu.
Chỉ có Sư Ðoàn 18 Bộ Binh là chấp nhận đánh với khoảng
2 Sư Ðoàn quân cộng sản tại Xuân Lộc (Long Khánh), cho đến
khi có lệnh của Quân Ðoàn 3 mới rút về căn cứ Long Bình.
Trong khi đó, tình hình chính
trị tại thủ đô Sài Gòn rất rối ren. Ðêm 21 tháng 4 năm
1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức. Theo
Hiến Pháp, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương tuyên thệ nhậm
chức. Tôi không rõ tường tận nguyên nhân nhưng rất rõ là
Ðại Tướng Dương Văn Minh tạo áp lực buộc Tổng Thống
Trần Văn Hương bàn giao chức Tổng Thống cho ông để ông
cứu vãn tình hình. Sự bàn giao như vậy là vi phạm Hiến
Pháp, nên Tổng Thống Hương yêu cầu Quốc Hội lưỡng viện
họp để quyết định, và ông thi hành theo quyết định của
Quốc Hội.
Sau khi Tổng Thống Thiệu từ
chức, lần lượt những vị lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo
quân đội, nói chung là những vị có quân, có quyền, hoặc
vừa có quân lại vừa có quyền, gần như ào ào bỏ chạy
ra ngoại quốc, để lại đằng sau gồm quân đội lẫn đất
nước! Với Người Lính Việt Nam Cộng Hòa đang cầm súng
trong tay, thử hỏi, có nỗi đắng cay nào cay đắng hơn tình
trạng "cấp lãnh đạo bỏ chạy!"
Ðại Tướng Dương Văn Minh
ngồi vào ghế Tổng Thống chiều 28 tháng 4 năm 1975, sáng hôm
sau, 29 tháng 4, Tổng Thống chánh thức yêu cầu Hoa Kỳ rút
toàn bộ nhân viên quân sự dân sự ra khỏi Việt Nam trong
vòng 48 tiếng đồng hồ.
Cuộc di tản gia Ðình quân
nhân Việt Nam do Hoa Kỳ thực hiện từ đêm 23 tháng 4 năm
1975, với tất cả sự âm thầm lặng lẽ. Nhưng khi có lệnh
của Tổng Thống đuổi Hoa Kỳ, thìï cuộc di tản trở nên
hỗn loạn chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam cận đại!
Loạn thì lạc! Biết bao cảnh
tượng hãi hùng kinh khiếp xảy ra ngay trước mắt!
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc
10 giờ 15 phút sáng,
từ máy thu thanh, có tiếng thúc giục:
"... ông nói đi....,
nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như
quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..." Và đại ý lời của
Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với
quân đội ".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên
tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...".
Ðối
với phía cộng sản, ông yêu cầu
đừng nổ súng và ông
hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự.
Tháng 2 năm 2007, người bạn
từ Washington DC, gởi tặng tôi trang giấy có bút tích của
Ðại Tướng Tổng Thống Dương Văn Minh với nét chữ vội
vàng và không mạch lạc: "Tôi, Ðại Tướng Dương Văn Minh,
Tổng Thống chánh quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Cộng
Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng
miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố, chánh quyền Sài Gòn từ
trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao
toàn bộ chánh quyền từ trung ương đến địa phương cho
chánh phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam".
Hơn một tiếng đồng hồ sau
lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh,
đơn vị Thiết Giáp đầu tiên của quân cộng sản vào dinh
Ðộc Lập. Từ giờ đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị nhóm
lãnh đạo cộng sản Việt Nam cai trị!
Trước đó, khi cuộc chiến
chưa ngừng tiếng súng, có những vị Tướng đầy quyền lực,
đã bỏ chạy ra khỏi Việt Nam. Và giờ đây, cuộc chiến
thật sự đã tàn, và tàn trong ý nghĩa thua trận, bại trận,
hay đầu hàng, hiểu thế nào cũng vậy thôi. Nhưng trong cảnh
bại trận này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, xuất
hiện Những Vị Tướng Thật Sự Là Những Anh Hùng không kém
những vị Anh Hùng trong lịch sử đã can đảm tuẫn tiết
khi thành thất thủ:
"Thiếu Tướng Nguyễn Khoa
Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4. (Cần Thơ)
"Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng,
Tư
Lệnh Phó Quân Ðoàn 4. Chuẩn Tướng Hưng đã được vinh danh
"Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường
An Lộc, tỉnh Bình Long.
"Chuẩn Tướng Lê Nguyên
Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình Dương)
"Chuẩn Tướng Trần Văn
Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh. (Mỹ Tho)
"Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, tự tử tại nhà ở Sài Gòn
vì tên tuổi Quân Ðoàn 2 đã bị chôn theo những nấm mồ
vô danh trên đường liên tỉnh số 7 từ giữa tháng 3 năm
1975 rồi.
Ngoài ra, còn biết bao Quân
Nhân thuộc các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh Sát,
Viên Chức Hành Chánh các ngành, đã tuẫn tiết! Ðó là "Những
Anh Hùng Vô Danh" xứng đáng cho chúng ta trân trọng.
Vào những ngày 30 tháng 4, tôi
nghĩ, chúng ta nên dành vài chục giây đồng hồ, đứng hay
ngồi ở đâu đó cũng được, cúi đầu, im lặng, để tưởng
nhớ những Quân - Dân- Cán - Chánh Việt Nam Cộng Hòa, và những
vị Anh Hùng đã cùng chúng ta cầm súng chống quân cộng sản
xâm lược, nhưng vào giờ phút kết thúc bi thảm cuộc chiến
đấu, đã can đảm thực hiện tròn vẹn lời thề trước
bàn thờ Tổ Quốc trong ngày tốt nghiệp các trường võ bị:
"...
Quyết hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ Quốc Dân Tộc ..."
Một giai đoạn lịch sử do
Tổng Thống Dương Văn Minh -vị Tổng Thống có nhiệm kỳ
hơn 40 tiếng đồng hồ- vừa sang trang!
Dân Tộc Việt Nam, từ nay
dưới sự thống trị của cộng sản độc tài nghiệt ngã!
Quê hương Việt Nam chúng
ta,
dân tộc Việt Nam
chúng ta,
sao mà bi thảm đến
như vậy!
sao mà bất hạnh
đến như vậy!
(Tiếp
theo Chương hai)
|