- mười -
Sang tị nạn tại
Hoa Kỳ
*****
Hai chữ HO.
Trước khi theo dõi hệ thống thủ
tục mà chúng tôi phải hoàn tất, mời quí vị quí bạn xem
qua nguyên văn bức thư của cựu Ðại Tướng John W. Vessey,
đặc phái viên của Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan, gởi anh
Hội Trưởng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Minnesota năm 1997,
khi ông được mời tham dự đại hội H.O. tại địa phương
ông cư ngụ. Trong thư, ông giải thích rõ về nguồn gốc hai
chữ H.O.
Cũng qua thư của cựu Ðại Tướng
Vessey, chúng ta càng hiểu sâu thêm về điều mà lãnh đạo
cộng sản Việt Nam gọi là "khoan hồng nhân đạo" đối với
quân nhân, viên chức, cán bộ, Việt Nam Cộng Hòa cũ ra khỏi
các trại tập trung từ năm 1987. Thật ra, chúng tôi ra khỏi
trại tập trung là do sự trao đổi giữa Hoa Kỳ với Việt
Nam cộng sản. Tuy trong thư cựu Ðại Tướng Vessey không nói
trao đổi như thế nào, nhưng rõ ràng là từ đó, cộng sản
Việt Nam từng bước đến gần, và cuối cùng là bắt tay
được với Hoa Kỳ, và đang hội nhập vào cộng đồng thế
giới.
General USA (retired)
John W. Vessey
June 10, 1997
To Mr. Nguyen xuan Huan
President, Association of Former Political
Detainees in Minnesota.
1030 University Avenue
ST. Paul, MN 55104.
Dear Mr. Huan.
Because I am unable to attend your important
meeting on Saturday, June 21, I ask that this letter be read on my behalf
to your members and guests.
It is important to honor all those who
served the cause of freedom in Vietnam and Indochina. It is also important
to recognize and assist those who suffered under Communist rule for their
prior service to the Republic of Vietnam. Political detainees under the
Communist regime after 1975 had served their country and their people in
the honorable and esteemed tradition of parriotism, putting service to
country above self during a long and arduous war. The sacrifices of all
who served and fought in the Vietnam war, Vietnam, Americans, and other
Allies, made a difference for the important human ideals of freedom and
personal dignity. The world was changed through a collective effort. The
spread of Communist in Asia was harted by the sacrifices in Vietnam, Laos,
and Cambodia, and with the help of other nations of Southeast Asia. All
who participated in that effort can be proud of their contributions.
When President Reagan call me back from
military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one
of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of
our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called,
"reeducation camps". I was authorized to assure the Hanoi government that
the United States would accept and welcome those detainees and their families
in this country. Because, at the time of the original negotiations, there
was no hope of any immediate political resolution between the two nations,
all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed
"Humannitarian Operations". Consequently, the term H.O. has been used within
the Vietnamese-American community to refer to former political detainees
who are now resident in the United States.
To me, the term H.O. is a badge of courage,
service and sacrifice, and all those who fall within that context of the
term are the among the true heroes of our time.
My very best wishes to all attending your
event.
Sincerely yours.
John W. Vessey.
Người dịch bản văn nói trên là
Ông/Bà Nguyễn T. Ngọc Châu. Trước khi vào bản Việt ngữ,
dịch giả viết đôi dòng như sau: "Trong mục đích phổ biến
để quí vị chung vui niềm vinh dự của các H.O. vì đây là
vinh dự không phải của riêng các anh H.O. tại Minnesota, mà
là của tất cả các H.O. định cư tại Hoa Kỳ".
Và đây là bản dịch Việt ngữ:
"Vinh danh những người đã phụng
sự cho chính nghĩa tự do ở Việt Nam và Ðông Dương là một
điều quan trọng. Việc công nhận và trợ giúp những người
đã bị chế độ cộng sản ngược đãi vì đã phục vụ
cho Việt Nam Cộng Hòa, cũng không kém phần quan trọng. Những
tù nhân chính trị dưới chế độ cộng sản sau năm 1975,
là những người đã từng phục vụ quê hương và đồng bào
với truyền thống yêu nước cao cả và đáng kính, đã vì
nước quên mình trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài và ác
liệt.
"Lòng hi sinh của tất cả những
ai đã từng phục vụ và chiến đấu trong chiến tranh Việt
Nam, người Việt, người Mỹ, và những Ðồng Minh khác, đã
đem lại một ý nghĩa đặc biệt hơn cho lý tưởng của con
người về tự do và nhân vị. Thế giới đã thay đổi nhờ
một nỗ lực tập thể. Sự bành trướng của cộng sản ở
Á Châu đã bị ngăn chận bởi những sự hi sinh ở Việt Nam,
Lào, và Cam Bốt, cùng với sự hỗ trợ của các nước Ðông
Nam Á. Tất cả những ai đã tham gia vào nỗ lực đó, có thể
tự hào về những đóng góp của mình.
"Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi
được Tổng Thống Reagan cử làm Ðặc Phái Viên đi Hà Nội
thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu
mà tôi được Tổng Thống giao phó, là phải tìm cách giải
thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong
những cái gọi là "trại cải tạo". Tôi cũng được quyền
bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng: "Hoa Kỳ sẵn sàng
chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng gia
đình họ sang Hoa Kỳ".
"Trong những cuộc thương thuyết
sơ khởi, chúng tôi không hi vọng hai bên sẽ có ngay những
giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở
đường cho những thỏa ước tương lai đều mang danh "chiến
dịch nhân đạo" (Humanitarian Operations), gọi tắt Anh ngữ là
H.O. Do vậy mà danh từ H.O. được Cộng Ðồng Việt - Mỹ
sử dụng, để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt
Nam đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ.
"Riêng với tôi, danh từ H.O. là
biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và lòng
hi sinh. Tất cả những ai được gọi là H.O. đều là những
anh hùng thực sự trong thời đại chúng ta".
***
Thủ tục rời Việt
Nam.
Thưa quí vị quí bạn,
Chương trình HO dành cho những cựu
tù chính trị trong các trại tập trung mà họ gọi là "trại
cải tạo" với thời gian bị cộng sản giam giữ từ 3 năm
trở lên. Trong chương trình này có hai thành phần: Thứ nhất
là cựu tù chính trị không có thân nhân từ Hoa Kỳ bảo lãnh.
Thành phần này được cơ quan IOM ứng trước mọi chi phí
để đến Hoa Kỳ, và khi đến Hoa Kỳ được hưởng tiền
trợ cấp sinh sống trong thời gian đầu tiên, do chánh phủ
Hoa Kỳ cấp ngang qua tổ chức thiện nguyện nào đó. Một
năm sau mới có thẻ thường trú, thường gọi là "thẻ xanh".
Số tiền ứng trước sẽ trả góp hằng tháng cho cơ quan nói
trên. Thứ hai là cựu tù chính trị có thân nhân tại Hoa Kỳ
bảo lãnh. Thành phần này do thân nhân trách nhiệm mọi chi
phí, từ lúc làm thủ tục tại Việt Nam đến khi đặt chân
trên đất Mỹ, đồng thời phụ trách nơi ăn chốn ở và
mọi chi phí khác. Thẻ thường trú (thẻ xanh) làm ngay tại
phi trường đầu tiên khi đến Mỹ, và vài tuần sau là nhận
được.
Vợ chồng tôi thuộc thành phần
thứ hai, do con chúng tôi từ Houston, Hoa Kỳ, bảo lãnh. Ðây
là diễn tiến:
- Tháng 3/1988, tại Hoa Kỳ, con chúng
tôi nộp mẫu I-130 bảo lãnh. Ba tháng sau nhận được giấy
báo chấp nhận hồ sơ. Con tôi gởi giấy này cùng với mẫu
I-130 về Sài Gòn, và chúng tôi kèm trong hồ sơ xin xuất ngoại
mà họ gọi là xuất cảnh nộp cho Quận 10 vào tháng 8/1988
ngay sau khi vợ tôi ra tù. Ðầu năm 1989, Công An Quận 10 cho
biết hồ sơ đã chuyển lên Sở Công An.
- Tháng 11/1989, ký hợp đồng với
dịch vụ xin passport. Cơ quan dịch vụ này toàn là Công An
phụ trách, chúng tôi phải trả cho toán Công An dường như
khoảng 300.000 đồng dưới tên gọi "lệ phí". Nhiệm vụ của
họ ngồi trong cơ quan Công An hay ngồi trong cơ quan có cái
tên "Dịch Vụ Xuất Cảnh" ngay trước cổng bên kia đường,
không có gì khác nhau, nhưng ngồi trong cơ quan này thì nhận
khoản tiền theo từng hồ sơ do chính họ qui định. Vắn tắt
là Công An nhận tiền của người có nhu cầu mà theo họ là
"danh chánh ngôn thuận" chớ không phải hối lộ, nhưng thật
sự là "hối lộ công khai". Xã hội xã hội chủ nghĩa không
giống ai hết quí vị quí bạn à!
- Cuối tháng 2/1990, vợ chồng tôi
nhận passport. Cũng hôm ấy, chúng tôi nhận được danh sách
phỏng vấn HO5 với số thứ tự là 742. Hai tháng sau đó, chúng
tôi nhận giấy thông báo của cơ quan ODP tại Bangkok (Thái
Lan) cho biết chuẩn bị phỏng vấn.
- Cuối tháng 7/1990, đến Sở Ngoại
Vụ để phía Việt Nam sơ vấn. Cách hỏi của họ chẳng khác
một hình thức thẩm vấn, vì họ hỏi tôi những câu thế
này: Họ tên, cấp (bậc) chức (vụ)? Ở tù mà họ gọi là
"cải tạo" bao lâu? Có vi phạm nội qui trong trại không? Ai
bảo lãnh? Sang Mỹ ở đâu? Tài sản ở Việt Nam có những
gì? Ước lượng trị giá bao nhiêu tiền? Sang Mỹ mỗi tháng
lãnh bao nhiêu tiền? Có chống lại cộng sản mà họ gọi
là "cách mạng" không? Và vân vân à Thật lòng là tôi không
hiểu họ sử dụng những thông tin đó vào việc gì, vì gộp
những câu đó lại không nói lên được mục đích gì rõ
rệt cả, ngoại trừ họ hỏi vòng vo nhưng thật ra họ muốn
biết tôi để lại tài sản gì khi tôi rời Việt Nam chăng?
Trấn lột là một thủ đoạn gian manh của cộng sản, nhất
là Công An mà.
- Giữa tháng 8/1990, vợ chồng tôi
cũng đến Sở Ngoại Vụ gặp viên chức Hoa Kỳ. Tôi với
viên chức này nói với nhau vài câu chuyện trước khi chánh
thức phỏng vấn. Khi biết vợ chồng tôi sẽ định cư tại
Houston, anh ta cho biết gia đình anh ta cũng đang ở đó, và
nói thêm là Houston vừa lớn vừa đẹp so với những thành
phố lớn khác của Hoa Kỳ. Vào phỏng vấn, anh ta chỉ hỏi
tôi ở tù bao lâu, và bây giờ sẵn sàng để sang Hoa Kỳ chưa?
Thế là xong buổi phỏng vấn. Sau đó là khám sức khỏe và
chích ngừa.
- Hạ tuần tháng 10/1990, con chúng
tôi nộp cho cơ quan IOM 1.834 mỹ kim, chi phí cho hành trình của
vợ chồng tôi từ Sài Gòn - Bangkok - Houston (Hoa Kỳ).
- Thượng tuần tháng 2/1991, họ
bảo chúng tôi đến ghi chuyến bay mà họ gọi là "đăng ký
chuyến bay".
- Ngày 28/2/1991, tôi đến công ty
dịch vụ tư nhân ký hợp đồng để họ lo mọi thủ tục
linh tinh liên quan đến Công An, Quan Thuế, phi trường. Giữa
cơ quan dịch vụ với các cơ quan liên hệ có những "qua lại"
với nhau nên họ liên lạc hoàn tất suôn sẻ, chớ tự mình
mà "lội" vào khu rừng thủ tục giấy tờ đó chỉ riêng địa
điểm các cơ quan không thôi cũng đủ lạc rồi. Hợp đồng
này giá 381.000 đồng, gồm: (1) Gia hạn passport 6.000 đồng.
(2) Thị thực xuất ngoại 2.000. (3) Lệ phí phi trường 30.000.
(4) Lệ phí quan thuế 10.000. (5) Hồ sơ hợp lệ nhà đất 18.000.
(6) Cân hành lý 35.000. (7) Lấy vé phi cơ 80.000. (8) Xe đưa ra
phi trường 100.000. Và tiền công dịch vụ 100.000 đồng.
- Ngày 26/3/1991 chúng tôi mang hành
lý ký gởi. Tôi phải bày ra tất cả giống hệt như khi tôi
chuyển từ trại tập trung Yên Bái xuống trại tập trung Nam
Hà vậy. Họ căn cứ vào danh sách tôi đưa, họ xem từng món
theo từng số lượng mà lục lọi từng ly từng tí xem tôi
có mang theo giấy tờ hay bất cứ thứ gì mà họ cho là nguy
hại cho họ không. Do kinh nghiệm qua nhiều lần bị Công An
lục soát trong các trại tập trung, nên tôi chuẩn bị tư tưởng
như vậy khi mang hành lý đến một nhà kho trong khu vực Tân
Sơn Nhất để họ xét. Hơn 1.600 trang giấy viết tay trong 7
tập thu nhỏ với chữ viết thật nhỏ mà tôi lén lút ghi
nhận những sự kiện trong các trại tập trung, cùng với những
sự kiện trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi tôi
ra khỏi trại tập trung, tôi đóng gói cẩn thận và giấu
lại nhà bà nhạc tôi. (Sau này trong những lần về thăm bà
con xóm làng, Ba tôi đem qua cho tôi tất cả). Do vậy mà tôi
rất tỉnh khi họ lục soát toàn bộ những gì vợ chồng tôi
mang theo trên đường xa xứ.
Trong vài ngày còn lại Sài Gòn,
chúng tôi đến thăm người bạn ở Tân Ðịnh, tình cờ gặp
anh Lê Hữu Tiền (Ðại Tá Truyền Tin). Anh Tiền cũng là bạn
tù với tôi, anh kể tôi nghe về chuyện cái nhà mà gia đình
anh đang ở, và đang lo vấn đề "hợp lệ nhà đất" để
rời Sài Gòn nhưng tôi không hỏi anh đi trong đợt HO mấy.
Do môi giới của Sở Quản Lý Nhà Ðất, anh đến gặp tên
Giám Ðốc, tên này bảo anh gặp Phó Giám Ðốc. Chỉ vài ba
câu chuyện, tên Phó Giám Ðốc hướng dẫn như một phán quyết:
"Cái nhà của Anh trị giá 60 lượng
vàng (mà họ gọi là 60 cây). Anh có hai người anh ở nước
ngoài cho nên anh chia làm 3 phần. Anh phải nộp 40 lượng vàng
của hai người ở nước ngoài cho nhà nước giữ. Còn 20 lượng
về phần anh, anh phải nộp lệ phí 20% cho Sở Quản Lý Nhà
Ðất".
Sau khi nghe "phán xong vụ chia chác"
mà họ tính toán rất "bài bản", từ 60 lượng vàng chỉ còn
16 lượng nên anh Tiền và gia đình quyết định không bán
nhà, và mang theo giấy tờ khi rời Sài Gòn, chúng nó làm gì
cái nhà thì làm.
Ðến lượt nhà tôi. Do chỉ dẫn
từ con của bạn chúng tôi mà một tên cộng sản nghe nói
là chánh văn phòng của cái gọi là Ủy Ban Nhân Dân thành
phố, sẽ chiếm ngụ nhà tôi khi chúng tôi rời Sài Gòn. Cũng
qua con của người bạn, hắn ngỏ ý muốn dùng xe của hắn
đưa vợ chồng tôi ra phi trường. Cùng lúc hắn nói muốn
đưa vợ chồng tôi 5 lượng vàng với điều kiện chúng tôi
đưa giấy chủ quyền nhà cho hắn. Nói cách khác, hắn muốn
mua giấy chủ quyền nhà chúng tôi với giá 5 lượng vàng.
Chúng tôi trả lời không cần xe của hắn, cũng không cần
5 lượng vàng của hắn, và dứt khoát không có việc mua bán
gì cả. Thật ra, hồ sơ chủ quyền ngôi nhà này và chủ quyền
mẫu vườn ở Vĩnh Long, em trai tôi đã đem sang Hoa Kỳ đầu
năm 1990 nhân chuyến về thăm Ba tôi và bà con xóm làng, trước
khi Ba tôi sang định cư Hoa Kỳ vào những tháng cuối năm 1990
do các em tôi bảo lãnh.
Quí vị quí bạn hình dung bây giờ
là chiều 28 tháng 3 năm 1991, các em tôi từ Vĩnh Long lên chậtnhà.
Cùng lúc tên sắp chiếm nhà tôi dẫn 4 thanh niên đến. Hắn
nói:
"Vì sợ sáng mai anh chị đi sớm
có người vào tranh đoạt hoặc đập phá, xin anh cho mấy người
này ngủ đây đêm nay".
"Tôi đồng ý, nhưng các anh chỉ
ngủ ở tầng trệt này. Tôi không muốn thấy bất cứ anh
nào lên lầu. Chúng tôi cần được tự do trong ngày cuối
cùng trước khi chúng tôi rời Việt Nam ".
Hắn xoay qua mấy người của hắn:
"Các đồng chí ngủ ở đây,
đừng quấy rầy anh chị và mọi người trong nhà. Sáng mai
tôi đến".
Kể ra hắn cũng có lý khi hắn sợ
có người vào tranh đoạt lúc vợ chồng tôi ra khỏi nhà,
vì trong xã hội xã hội chủ nghĩa, người cộng sản nào
cũng có sẵn những cách trấn lột cướp đoạt tài sản của
người khác làm tài sản của mình. Cùng là cộng sản, nên
hắn đề phòng là phải.
Ngày 29 tháng 3 năm 1991, vợ chồng
tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất, với đông đảo các em và
bà con bè bạn tiễn đưa.
Ngay trước khi phi cơ lăn bánh ra
phi đạo, tôi quá đỗi ngạc nhiên khi thấy hai hành khách
không còn ghế ngồi và cô tiếp viên phi hành dẫn họ đến
ngồi bệt trên lối đi ở cuối hàng ghế sau cùng. Hỏi ra
mới biết là trên các chuyến bay của hàng không Việt Nam
cộng sản, thường khi có số hành khách nhiều hơn số ghế.
Nhìn cảnh này giống như hành khách đi xe đò vậy quí vị
quí bạn à!
Ðến phi trường dường như là
Don Muang (Bangkok), lên xe bus về tạm trú trong khu trại nghe
nói trước kia là nhà tù.
Những ngày ở đây, chúng tôi được
hướng dẫn về cuộc sống trên đất Mỹ. Về thực đơn
hằng ngày của chúng tôi, ngoài cơm ra thì trứng luộc là
món ăn chánh. Sáng trứng luộc chiều trứng luộc. Nếu nhìn
theo góc độ chính trị, cái trứng luộc trong những ngày tạm
trú nơi đây rất có ý nghĩa, trong khi cái trứng luộc xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đơn thuần chỉ là kinh tế, mà là
kinh tế nghèo nàn kiệt quệ! Cũng những ngày ở đây, người
Thái Lan đến gạ mua vàng và trả bằng mỹ kim. Anh em chúng
tôi bán từng chỉ vàng, dùng tiền đó mua trái cây và vài
thức ăn khác do người Thái mang đến bán bên ngoài trại.
Phải công nhận nhiều loại trái cây ở đây ngon hơn Việt
Nam mình, nhất là nhãn.
Chúng tôi lên phi cơ của Japan Airlines
vào nửa đêm ngày 4 rạng 5/4/1991. Tại Tokyo, chúng tôi chuyển
sang phi cơ của Northwest Airlines đến Seattle (Washington State).
Chúng tôi lại chuyển phi cơ và đến Houston lúc 6 giờ chiều
ngày 5 tháng 4 năm 1991, được con chúng tôi, em chúng tôi, và
bạn chúng tôi đón.
(Tiếp theo
Lời
nói cuối)
|