-
sáu/2 -
Trại
tập trung Yên Bái.
*****
Ngạc nhiên thứ
sáu.
Ðến vụ mùa,
Tổ chúng tôi chuyển sang làm ruộng. Tổ trồng rau cứ trồng
rau, Tổ nhà bếp cứ nấu nướng, Tổ lấy củi chỉ biết
lấy củi, Tổ thợ mộc tối ngày cứ đục đẽo, nhưng Tổ
cơ động chúng tôi phải làm mọi việc không thuộc những
Tổ "chuyên môn" vừa nói.
Vùng ruộng mà
chúng tôi phải làm là "ruộng bậc thang" ở đất triền chớ
không bằng phẳng như đồng ruộng miền Nam. Ngăn cách giữa
bậc thang này với bậc thang kia là một đường đê nhỏ bao
quanh giữ nước cho bậc thang trên. Chân của hai triền đồi
giáp nhau tạo thành đường thông thủy. Mỗi người lãnh một
cây cuốc với chỉ tiêu 50 thước vuông (50m2 ), đứng hàng
ngang mà cuốc cho đất vỡ lên rồi san bằng. Tiếp theo là
cứ hai người một cái gàu với hai sợi dây hai bên miệng
gàu, cùng "nhịp nhàng" đưa nước từ đường thông thủy
lên bậc trên, hai anh bên trên lại đưa tiếp lên bậc thang
trên nữa. Và cứ như vậy mà đưa nước lên đến bậc thang
trên cùng.
Khi sẵn sàng để
cấy, có nghĩa là đất tương đối bằng phẳng, chuyền nước
lên đủ rồi, phân chuồng đã bón lót xong, lúc ấy anh Trần
Thanh Liêm (Ðại Tá Quân Tiếp Vụ) là người phụ trách nhổ
mạ. Mạ ở đây khi nhổ để cấy, nó cao chỉ khoảng 10 đến
12 phân thôi (0.12m ). Trông cây mạ nhỏ nhắn gầy gò đến
thảm hại, thì liệu đến mùa "sinh nở" nó cho được bao
nhiêu hột lúa? Khi cấy thì tù chính trị chúng tôi không cấy,
mà là có toán thợ cấy hơn chục đàn bà con gái từ Hợp
Tác Xã Việt Cường vào cấy "vần công đổi công". Bà nhiều
tuổi nhất đứng nhìn những bó mạ bé tí xíu, lắc đầu,
sau khi nhổ toẹt bãi nước trầu đỏ choét xuống ruộng,
bà vừa cười vừa nói:
"Mấy ông tướng
nhổ mạ kiểu này làm sao bọn tôi cấy được."
Không biết chữ
"tướng" mà bà vừa nói, là do quen miệng hay ám chỉ gì chúng
tôi đây?
"Thôi, mình
chuẩn bị lại đi, đứng đó mà nói bao giờ mới xong."
Thế là cô gái
vừa nói vừa tháo các bó mạ ra, xếp từng cọng mạ ngay
ngắn gốc ngọn. Trong toán thợ cấy có cô trẻ nhất lại
là cô "thợ cấy chuẩn". Nhiệm vụ của cô gái này là cấy
các đường chuẩn ngang dọc, và các thợ cấy khác theo đó
mà cấy sẽ thẳng hàng. Cấy chuẩn xong, cô ta sang mảnh ruộng
bậc thang kế tiếp vẫn với nhiệm vụ cấy chuẩn. Thợ cấy,
để nắm mạ trên lòng bàn tay trái, trong khi ngón cái của
tay phải tách từng nhúm mạ vài ba cọng, và ấn gốc mạ
xuống ruộng. Có lẽ vì cọng mạ nhỏ như vậy nên thợ cấy
không dùng "cây nọc cấy" như thợ cấy ở đồng ruộng miền
Nam.
Một tháng sau,
họ hướng dẫn chúng tôi "làm cỏ sục bùn". Nghe chúng tôi
bàn tán cái công việc lạ tai quá, tên võ trang chừng như
tưởng chúng tôi nói xiên nói xỏ gì đó nên hắn giải thích
với giọng khó ưa:
"Này, đừng
có lý luận lôi thôi. Làm cỏ sục bùn là vừa làm cỏ vừa
quậy cho bùn lên bồi dưỡng cho cây lúa. Trong bùn có phân
đấy. Khẩn trương lên."
Mỗi người chúng
tôi đứng cách nhau 4 hàng lúa tức khoảng một thước, khom
người xuống, hai tay lùa xuống bùn đẩy tới kéo lui giữa
hai hàng lúa, những ngón tay hơi cong lại thay cho cái bàn cào,
cào bùn đất lên còn cỏ thì trốc gốc "lăn quay cu đơ"
nổi chềnh ềnh lên mặt nước mà chết tức tưởi.
Trong khi chờ đợi
mùa gặt mà họ gọi là thu hoạch, Tổ chúng tôi phải vào
xã Việt Cường (quận Trấn Yên) trả công cho toán thợ cấy
tháng trước, bằng cách đắp đập làm hồ nuôi cá trắm
cỏ. Tại sao gọi đắp đập làm hồ? Vùng này núi rừng trùng
trùng điệp điệp. Mỗi hai bên triền núi là cái thung lũng,
cứ đắp đập chận hai đầu, chỉ cần dành cái cống nhỏ
cho dòng nước thượng nguồn vào, và cái đập tràn ở hạ
nguồn để thoát bớt, là có cái hồ rồi.
Cứ sáng đi chiều
tối về trên đoạn đường dài cộng chung áng chừng trên
dưới 12 cây số. Tổ nhà bếp cử một toán theo nấu ăn tại
chỗ. Mỗi người mỗi ngày được Hợp tác Xã cấp cho một
kí lô khoai mì sống để ăn thêm lúc giữa trưa mà họ gọi
là "bồi dưỡng". Tôi thấy ông cụ mặc chiếc áo dạ của
quân đội Pháp ngày trước, mà lúc học ở Trường Võ Bị
Liên Quân Ðà Lạt tôi được cấp phát để mặc lúc canh
gác ban đêm. Ông ta cư xử với chúng tôi phải nói là lịch
sự, luôn luôn gọi chúng tôi bằng ông. Tôi bắt chuyện:
"Xin lỗi cụ.
Cái áo dạ này mặc ấm lắm. Ở đây có bán sao cụ?"
"Không ông ơi!
Trước kia tôi là Thượng Sĩ trong quân đội Pháp, tôi giữ
cho đến bây giờ đấy. Gia đình tôi cùng nhiều gia đình
trong quân đội Pháp ở lại sau Hiệp Ðịnh 1954, đều bị
chỉ định cư trú vùng này từ năm 1955. Tôi ở Thái Bình
chứ có phải quê quán nơi đây đâu."
"Số gia đình
chỉ định cư trú ở đây đông không cụ?"
"Vùng xã Việt
Cường này hình thành là do các gia đình bị chỉ định cư
trú đấy."
"Trước khi đến
đây, họ có bắt cụ đi cải tạo như chúng tôi không?"
"Không. Vì tôi
là Hạ Sĩ Quan. Còn Sĩ Quan thì họ bắt đi hết. Có người
cũng đến hai ba năm mới về. Mấy ông bao lâu rồi?"
"Gần 2 năm rồi
cụ."
"Họ có nói
với mấy ông thời hạn bao lâu không?"
"Khi thông cáo
gọi đi học tập cải tạo họ bảo chuẩn bị cho 30 ngày.
Sau 12 lần 30 ngày, họ bắt học tập chính sách cải tạo
thời hạn 3 năm, nhưng mù mờ lắm cụ ơi!"
"Mấy ông tin
họ là chết đấy. Tôi chỉ khuyên mấy ông một điều là
phải giữ sức khỏe, chớ để bỏ xác ở cái xó rừng này
như chúng tôi. Không ai thương mấy ông đâu, chỉ có mấy
ông thương mấy ông thôi."
"Cám ơn cụ rất
nhiều."
Trông thấy tên
quản giáo đang lù lù đến, tôi nói to cho hắn nghe:
"Cụ ơi! Cụ nói
là các cô ấy lột vỏ khoai và luộc giùm chúng tôi phải
không cụ?"
"Phải. Mỗi
ngày chúng nó làm giúp mấy ông vì bếp mấy ông có hai người
làm sao kịp. Chúng nó là thợ cấy ra cấy vần công cho mấy
ông đó."
"Kia rồi. Cô gái
áo trắng chính là cô thợ cấy chuẩn, phải không cụ? Nhanh
tay mà lại thẳng hàng nữa."
"Nó giỏi nhất
của Hợp Tác Xã này đó ông."
Tên quản giáo
-Trung Úy Bật- hướng dẫn việc:
"Các anh vạt
triền núi kéo đất ra đắp đập, còn hai bên má đập sẽ
có trâu của Hợp Tác Xã ra "đầm". Ngoài dụng cụ mang theo
từ trại, Hợp Tác Xã sẽ cho mượn ván để làm bàn trang
kéo đất. Tất cả dụng cụ để lại tại chỗ trước khi
về trại. Bây giờ các anh tổ chức công việc mà tiến hành."
Chúng tôi chia
ra: Toán xén đất triền núi, toán dùng bàn trang kéo đất
ra mặt đập, toán dùng cuốc san bằng mặt đập. "Bàn trang",
là một tấm ván dầy một chút để dùng được lâu, kích
thước ngang 0.4m dài 0.8m . Hai bên hông đóng hai cây đinh lớn
để cột dây, và đầu dây cột vào thanh gỗ tròn do hai người
kéo từ phía trước, trong khi người thứ ba từ phía sau, cầm
thanh gỗ đóng chặt vào tấm ván để dựng đứng bàn trang
lên. Thế là một lượng đất bị cái mặt bằng của tấm
ván mà họ gọi là bàn trang đẩy đi. Cứ như thế mà ngày
này sang ngày khác trong ba tuần liên tiếp, chúng tôi làm xong
cái hồ cho Hợp Tác Xã vừa nuôi cá vừa có nguồn nước
tưới cho vùng này.
Trong thời gian
đắp đập, chúng tôi thêm một lần trông thấy bản chất
dã man của mấy tên gọi là cán bộ. Chuyện về con chó của
tên quản giáo. Một hôm trong lúc giải lao giữa giờ, anh Nguyễn
Văn Kim (Ðại Tá Tổng Nha Tài Chánh & Thanh Tra Quân Phí)
trông thấy tên quản giáo bắt con chó của hắn đem làm thịt.
Anh nói:
"Con chó hắn dắt
theo hằng ngày, gọi một tiếng là con chó đến nằm ngay dưới
chân. Thế mà chúng nó trói con chó lại và đem cắt cổ một
cách thản nhiên. Sao chúng nó tàn nhẫn thế! Trông bất nhẫn
quá!" Ngưng một lúc anh tiếp:
"Tôi là dân Bắc
Kỳ, tôi cảm thấy dân miền Bắc bây giờ không như dân miền
Bắc ngày trước nữa. Ngay cả cái đạo đức gia đình theo
cái điều mà thằng Xê coi tụi mình ở Long Giao đã nói, cũng
thay đổi hoàn hoàn".
Không hiểu do
đâu mà tên quản giáo -Trung Úy Khảm- nghe được câu nói
của anh Kim, thế là trước khi về trại, nó mắng chúng tôi
một trận như tát nước:
"Chuyện cán
bộ ăn thịt chó là chuyện bình thường, nhưng anh nào trong
số các anh dùng chuyện đó để xuyên tạc cách mạng. Các
anh có giỏi thì bước ra khỏi hàng mà nhận đi. Các anh
đừng tưởng là chúng tôi không biết ý đồ của các anh.
Các anh đang làm cái việc lấy nạng chống trời đấy à!
Nào, ai nói nhận đi?"
Anh em chúng tôi
im phăng phắc, muốn cười nhưng không dám cười. Muốn cười,
vì nó dùng cái chữ "lấy nạng chống trời", vì lúc ở trại
tập trung Long Giao tên giảng bài chính trị gọi là giáo viên,
hắn ngông nghênh cái mặt mà huênh hoang nào là; chủ nghĩa
Mác Lê là vô địch, ba dòng thác cách mạng là bách chiến
bách thắng, Việt Nam ta trong 10 năm tới sẽ vươn lên ngang
bằng nước Pháp, ..v.. v… Muốn cười, vì chính họ mới
là đám người lấy nạng chống trời đó. (Bây giờ là năm
2006, không biết cái tên "giáo viên chính trị" đó còn can
đảm để nói theo cái kiểu ấy nữa hay không?)
Ðến chuyện học
trò xã hội chủ nghĩa. Nơi chúng tôi xẻ núi đắp đập là
con đường làng. Ngày nào đám học trò tiểu học cũng đi
ngang đây, chúng nó thấy mặc đồ "quân đội nhân dân" thì
mấy đứa con trai vừa chạy vừa la:
"Chú bộ đội
lội chuồng heo. Chú bộ đội lội chuồng heo."
Tên quản giáo
đỏ mặt, và hét:
"Ai dạy chúng mầy thế?"
Tụi nó vừa chạy
vừa trả lời tỉnh bơ: "Cô giáo dạy đó. Làm gì không?"
Và chúng nó mất dạng.
"Ðồ mất dạy."
Rồi hắn xoay
qua hỏi ông cụ: "Tụi này con ai vậy?"
Ông cụ cũng tỉnh
bơ:
"Cả xóm này
đều thế, có biết là con ai đâu. Trẻ con nó hỏng hết anh
ơi!"
Một hôm khác,
tụi nhỏ còn bạo hơn nhiều. Chúng nó cũng vừa chạy vừa
hát:
"Như có bác
Hồ trong chuồng heo hợp tác." Câu này là chúng nó nhại
theo bài hát sau ngày chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, trong
bài đó có câu: "Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng."
Tụi nhỏ chạy
nhanh lắm, với lại có rượt nó thì nó quanh co vào vườn
một hồi là không thấy đâu nữa. Tên quản giáo tức lắm
nhưng đâu làm gì được nó, trong khi chúng tôi ngạc nhiên
là thằng võ trang không có phản ứng gì cả, hắn ngồi như
không có chuyện gì xảy ra hết. Chẳng biết là hắn đồng
tình với tụi nhỏ, hay vì không rượt theo kịp nên ngồi
một chỗ cho khỏe?
Ðến chuyện cúng
giỗ. Trong miền Nam từ ngày xửa ngày xưa đến nay, cúng giỗ
là một trong những tập quán gia đình, tập quán xã hội.
Nhưng trên đất bắc xã hội chủ nghĩa mà cúng giỗ quả
là sự kiện lạ. Khi mang dụng cụ vào gởi trong nhà ông cụ,
chúng tôi quá đỗi ngạc nhiên vì thấy nhà bên cạnh bày
thức ăn cúng bàn ông thiên kê trên chiếc bàn nhỏ ngoài sân.
Trong nhà thì mâm cỗ nhang khói um tùm. Tôi ghé tai ông cụ:
"Cụ ơi! Họ không
cấm cúng giỗ hả?"
"Cấm chứ.
Công An bắt gặp là lập biên bản, rồi kiểm điểm lên kiểm
điểm xuống, phiền lắm ông ơi!"
"Vậy mà bà con
còn giữ được phong tục tập quán dân tộc. Hay lắm."
Ngần ngừ một
lúc, ông cụ hỏi tôi:
"Chúng nó đưa
mấy ông ra đây bằng gì ?"
"Anh em chúng tôi
đây thì đi bằng phi cơ, nhưng hầu hết trong số hằng trăm
ngàn anh em sĩ quan và viên chức chúng tôi thì họ chở bằng
tàu ra đến Vinh hoặc Hải Phòng, từ đó họ nhốt trong những
toa xe lửa chở hàng hóa với súc vật chuyển đến các trại."
"Tôi có nghe
dân vùng xã Việt Hồng thuật lại những gian nan của các
anh bị nhốt trong đó, khốn khổ lắm! Rồi đây thời gian
càng dài, nỗi khổ của mấy ông còn nặng hơn nữa chứ không
phải thế này đâu."
"Cám ơn cụ cho
chúng tôi thêm kinh nghiệm từ bản thân của cụ."
Ngạc nhiên
thứ bảy.
Ông cụ nói đến
xã Việt Hồng (cũng thuộc quận Trấn Yên) sâu bên trong xã
Việt Cường, làm tôi nhớ lại những lần đi mua "mật đường"
ở đó. Họ gọi là mật đường, thật ra nó chỉ là nấu
từ mía ra chớ không có gì khác. Trước khi vào đây đắp
đập, tên Trại Phó kiêm tiếp liệu mà họ gọi là hậu cần,
dẫn một toán 8 người -có tôi trong số đó- mỗi hai người
một khiêng khoảng 15 kí lô. Tất cả tiền chúng tôi gởi
mà họ gọi là đăng ký, đều do tên này giữ. Anh nào muốn
mua bao nhiêu thì ghi tên, rồi họ chỉ định số người đi
mua. Khoảng 8 cây số đường đá, chúng tôi đi ngang Trại
11 và Trại 13, giam giữ các bạn cấp Ðại Úy. Do vậy mà
chúng tôi mới biết Liên Trại 1 này (trong 6 Liên Trại) có
13 Trại.
Rẽ vào đường
làng. Dân làng thưa thớt, nhà này cách nhà kia khá xa, và hầu
hết đều quanh quẩn theo dòng nước giữa hai triền đồi.
Chuyện trả giá mua bán và cân đong do 2 tên võ trang với những
người bán đường, tù chính trị chúng tôi không được thông
báo gì cả. Khi nó gọi vào nhận là nhận chớ chẳng biết
trọng lượng bao nhiêu. Chẳng hạn như hắn cho biết mỗi
chậu thau 15 kí lô, nhưng thật sự là giữa những thau để
cạnh nhau không có cái nào bằng cái nào cả, nhưng không được
thắc mắc với hắn.
Khi mua bán và
nhận hàng xong, hai tên võ trang bảo chúng tôi sang bãi đất
trống cạnh cửa hàng hợp tác xã mua bán mà ăn trưa. Bên
cạnh cửa hàng là trạm xay lúa mà họ gọi là xay xát. Trạm
này chỉ có cái máy xay lúa nhỏ xíu, nhỏ đến mức mỗi
lần đổ vào đó chỉ một thúng lúa cỡ như cái thúng giê
trong miền Nam thôi. Anh Nguyễn Hữu Có đi đâu một lát quay
lại:
"Anh Hoa. Chỗ máy
xay lúa có con nhỏ tên Thanh nó đang xay lúa."
"Trời ơi! Lạng
quạng coi chừng nó mắng à anh."
"Hổng có đâu.
Ở đây mà có con nhỏ ngồ ngộ mới lạ chớ."
"Ở đâu mà chẳng
có con gái, trong nhiều đứa thì thể nào cũng có đứa ngồ
ngộ như anh nói thôi. Mà sao anh biết tên nó?"
"Nghe mấy đứa
nhỏ kêu."
"Ðừng hỏi gì
nghe anh, tụi con gái xã hội chủ nghĩa nó mắng khiếp lắm.
Anh có nhớ lúc ở trại nhà ngói nghe hai bà sồn sồn chửi
nhau kinh khủng chớ. Chửi có vần có điệu từ sáng đến
trưa, hưu chiến ăn cơm độn bắp xong lại chửi tiếp đến
chiều. Dữ thiệt."
Tiếng thằng võ
trang từ nhà bên kia đường:
"Các anh được
ăn đường tại chỗ, nhưng không ai được lấy ra mang về
trại."
Tức là 8 anh em
chúng tôi được ăn trong số đường mía mua chung đó. Vì
cơ thể thiếu chất ngọt nên anh nào cũng ăn. Phần tôi, cho
hai muỗng đường vào gà mèn cơm độn bắp, ăn một cách
ngon lành. Ăn xong, vào cửa hàng định mua cái khăn nhỏ để
lau mặt. Mang danh là "cửa hàng hợp tác xã mua bán" mà hàng
hóa lơ thơ tơ liễu buông mành, kệ thì nhiều nhưng hàng thì
lác đác. Vào cửa, cô bán hàng đang cho con bú. Lỡ bộ, tôi
hỏi luôn:
"Cô làm ơn bán
cho tôi cái khăn lau mặt." Vừa nói tôi vừa chỉ lên kệ.
"Anh ra xem tấm
bảng ngoài cửa." Cô ta ngắn gọn vậy thôi.
Tôi cứ ngỡ là
tấm bảng chỉ dẫn cách mua hàng xã hội chủ nghĩa, nhưng
không, đó là tấm bảng treo ở tay nắm cửa có 4 chữ: "Nghỉ
cho con bú." Tức cười mà không dám cười vì sợ "cô mậu
dịch" mắng. Không biết cô ta còn có tấm bảng "nghỉ tắm
con" hay "nghỉ cho con ỉa" không nữa? Và cười vì sau chữ
"nghỉ" không có dấu phết, làm cho câu đó cũng có nghĩa là
"không cho con bú nữa". Thế là tôi có mua được cái khăn
đâu. Ra ngoài, tôi gọi anh Có:
"Anh vô coi cửa
hàng hợp tác xã ngộ lắm. Tại chỗ tay nắm cửa có tấm
bảng treo ở đó thì anh thấy."
Anh Có chẳng những
đến xem tấm bảng mà còn đi tuốt vào trong xem cô bán hàng
cho con bú rồi trở ra, cứ như không thấy tấm bảng vậy.
Khắc nghiệt.
Bất luận lúc
nào chúng tôi nhận quà đều qua sự kiểm soát của tên quản
giáo mà hắn gọi là kiểm tra. Trong mỗi lần gởi quà, vợ
tôi đều cho tôi hộp bơ thực vật và một gói đường cát,
vì trong cơ thể thiếu chất ngọt với chất béo kinh khủng.
Tất cả những hộp những lon những gói đóng kín, hắn đều
mở tung ra hết, cho dù các hộp đóng kín từ những hãng sản
xuất trên thế giới cũng vậy. Chẳng những mở ra, mà hắn
dùng chiếc đũa ngoáy tưởng chừng thực phẩm bên trong nát
bét ra, để hắn tìm tịch thu những thứ gọi là cấm kỵ.
Cái kỳ lạ là với những cái hộp thực phẩm sản xuất
từ ngoại quốc hắn cũng nghi ngờ nữa. Một lần hắn ngoáy
mãi mà không tìm được những thứ cấm kỵ, nhưng cạnh cái
hộp có cây viết Pilot của Pháp sản xuất. Hắn nói:
"Tôi mang về
kiểm tra rồi cho biết sau."
"Hay là cán bộ
đưa tôi tháo ra cho cán bộ xem."
"Không được.
Tôi phải gởi đến chuyên viên kiểm tra."
"Báo cáo cán bộ,
cây viết rất đơn giản tôi tháo ra ngay trước mặt cán bộ,
chớ có gì đâu mà cán bộ gởi đến chuyên viên."
Hắn lườm tôi:
"Chuyện của
tôi, anh không cần biết."
Ðút cây
viết vào túi, hắn quay sang xem thư. Xem xong, hắn ném vào người
tôi:
"Chồng là chồng,
còn gọi là chồng yêu quí là thế nào?"
Ðó là dòng chữ
mở đầu của vợ tôi thường viết như vậy. Tôi tức quá:
"Tình cảm vợ
chồng người miền Nam chúng tôi là như vậy, có vi phạm điều
cấm nào của trại đâu mà cán bộ la."
"Viết dài dòng
như thế chúng tôi đâu có thì giờ kiểm tra. Bảo vợ anh
lần sau viết ngắn lại."
"Chỉ một trang
giấy mà vợ tôi nói địa phương đã hướng dẫn, đâu có
gì sai."
"Anh không được
lý sự. Về chỗ".
Y như rằng, hễ
chúng nó "bí" là chúng nó bảo "không được lý sự", tệ
hơn thì gọi là "ngoan cố". Tôi nói với anh Lễ đang cùng
nhau về chỗ nằm:
"Tôi chẳng biết
thằng này muốn lấy cây viết, hay là nó nghi ngờ cây viết
cũng là cây súng trong ngành tình báo chăng?"
"Tụi nó sợ tình
báo Hoa Kỳ kinh khủng. Con mắt nó nhìn vào bất cứ món gì
do ngoại quốc sản xuất cũng nghi là tình báo hết trơn."
"Nghĩ mà tức.
Tức vì mình thua cái tụi chẳng ra gì, nếu không nói là cái
tụi ngu đần hết biết."
Mấy tuần sau
đó, hắn đưa cây viết lại tôi. Hắn nói:
"Tôi phải mang
lên Liên Trại, Liên Trại lại đưa đến Bộ Tư Lệnh Ðoàn
mới xong đấy."
Chừng như hắn
kể ơn với tôi thì phải. Tôi bèn nói hai tiếng "cám ơn"
để lấy cây viết cho rồi.
Trong một kỳ
gởi thư về gia đình , anh Trần Duy Bách (Ðại Tá, Tỉnh Trưởng
Lâm Ðồng) nói riêng, và tất cả chúng tôi nói chung, bị
tên quản giáo của ảnh "chụp cho cái mũ" rất buồn cười.
Chuyện là mỗi người chỉ được phép viết thư gởi về
gia đình trên một trang giấy mà thôi. Anh Bách cũng như tất
cả anh em chúng tôi đều viết đúng như vậy. Vì đi rừng
quá nhiều, nên anh nào cũng xin gia đình gởi cho đôi giày
vải để không bị rách chân. Trên trang viết, anh Bách có
ghi số của cỡ giày, nhưng để cho chắc, anh bèn để cái
bàn chân lên mặt sau trang giấy rồi lấy viết kéo sát vòng
chân để yên tâm là có đôi giày vừa vặn. Chỉ có như vậy
thôi, mà trời ơi, thằng quản giáo nó chửi tối tăm mặt
mũi! Không phải chửi riêng anh Bách, mà chửi tuốt luột tù
chính trị chúng tôi:
"Tôi nói cho
các anh biết, đảng với nhà nước đã rất nhân đạo khi
cho các anh viết thư về gia đình . Các anh lại chà đạp lên
chính sách khoan hồng nhân đạo đó bằng cách in bàn chân
lên bức thư. Hành động này là không thể tha thứ."
Anh Bách trình
bày:
"Báo cáo cán bộ,
tôi hoàn toàn không có ý gì khác ngoài cái mục đích là để
gia đình tôi mua đôi giày vừa với đôi chân. Thế thôi."
Tôi chỉ nghe đến
đó là tôi đi nên không rõ hắn còn mắng mỏ gì nữa. Ðến
tối tôi nghe các bạn tôi nói lại là anh Bách bị hắn bắt
viết kiểm điểm mới được viết thư khác. "Kiểm điểm"
là một hình thức trừng phạt nhẹ. Về sau cứ mỗi lần
nhắc đến anh Bách, chỉ cần nói "chà với đạp" là hiểu
nhau rồi.
Những người
trồng được.
Những tháng đầu
năm 1977, hơn 300 anh em chúng tôi cấp Ðại Tá bị tách ra làm
hai, một nửa chuyển vào Trại 3 phía trong Trại Cốc. Tổ
chúng tôi vẫn tại chỗ. Trong một lần các bạn trong Trại
3 đi mua nước mắm ngoài chợ Yên Bái. Sau đó, nhân đi lao
động gặp nhau, anh Nguyễn Kim Tây (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân)
kể chuyện. Vì trong một lần lao động ngoài trại, thằng
quản giáo Tổ của anh Tây tên là Tước mà lúc ở Trại Cốc
chúng tôi thường gọi là "Tước mặt đỏ", vì mặt của
hắn lúc nào cũng đỏ như người say rượu. Hắn nói đường
xe lửa xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc này rộng 1.4 thước.
Vì vậy mà lần này có dịp ra Yên Bái, anh đo thử xem sao.
Nếu thật sự đường xe lửa 1.4 thước là tiến bộ lắm.
Ra đến nơi, việc đầu tiên là anh dùng bàn tay đo đường
rầy xe lửa. Ðúng 4 gang tay, hay là trên dưới 8 tấc (0.8m
). Anh lại lấy sợi dây từ trong túi ra đo nữa để về trại
đo lại trên cây thước. Anh cột hai đầu dây làm dấu bề
ngang đo được.
Ngày hôm sau, trong
lúc lao động, anh đến trước mặt "Tước mặt đỏ", anh
cười với vẻ thắng thế:
"Báo cáo cán bộ.
Ðường xe lửa ngoài Yên Bái có 8 tấc chớ đâu phải 1.4
thước cán bộ."
Tước mặt đỏ
quát liền:
"Ðảng với
nhà nước đã nói 1.4 thước là 1.4 thước. Anh dám xuyên tạc
đảng với nhà nước phải không?"
Anh chàng Tây chúng
tôi còn nổi gân cổ để biện minh:
"Tôi đo 8 tấc
thì tôi nói 8 tấc, chớ tôi đâu có nói sai, sao cán bộ nói
tôi xuyên tạc."
"Anh không được
ngụy biện. Về chỗ làm."
Sau lần đó tôi
không rờ là anh Tây còn bị gì nữa không, nhưng qua mẩu chuyện
bé tí xíu và sự thật sờ sờ trước mắt mà chúng nó vẫn
phải hiểu khác đi, khác đến mức ngu đần không thể tưởng.
Họ nhắm mắt, chỉ để tai mà nghe theo đảng với cái nhà
nước độc tài, và cái miệng để phát lại những gì tai
nghe, mà không cần mắt thấy sự thật. Nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa, là cái máy nhào nặn ra những thế hệ có
bộ óc đầy bụi mờ bao phủ, có hai mắt nhưng mù lòa, một
lỗ tai để nghe một chiều, và nửa cái miệng đủ để phát
như cái máy cát-xét. Tội ác này bắt nguồn từ ông Hồ với
"Mười năm trồng cây trăm năm trồng người".
Theo tác giả Trần
Trung Ðạo thì câu nói đó ông Hồ lấy ý từ câu: "nhất
niên chi kế mạc như thọ cốc, thập niên chi kế mạc như
thọ mộc, bách niên chi kế mạc như thọ nhân". Nghĩa là kế
hoạch cho một năm không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho
mười năm không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm
không gì bằng trồng người. Và câu này trong văn học Trung
Hoa thời phong kiến xa xưa.
Kết quả là ông
Hồ và nhóm đàn em của ông đã trồng lên được những thế
hệ như vậy đó! Thế hệ hiện nay và nhiều thế hệ mai
sau, không thể nào dung thứ tội ác dã man này do ông Hồ và
tất cả những đảng viên lãnh đạo trong bộ chính trị,
cơ quan lãnh đạo có quyền uy tuyệt đối, từ khi cái đảng
độc tài tàn bạo đó hình thành đến ngày sụp đổ. Sự
không thể dung thứ này, áp dụng với những kẻ đó đã chết
cũng như đang sống. Và không biết đến bao giờ, vết nhơ
tàn bạo này mới được xóa sạch, cho những thế hệ mai
sau có cơ hội đối mặt với những con người tử tế trên
thế giới năm châu? Tội cho dân tộc Việt Nam dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa biết chừng nào!
Nhân nhắc lại
với anh Lễ về chuyện anh Nguyễn Kim Tây "chọc quê" thằng
Tước mặt đỏ, nhưng rồi bị hắn "chụp mũ kiểu xã hội
chủ nghĩa" một cách quái đản, anh Lễ lại nhớ đến vụ
bị mắng khi học chính trị ở trại tập trung Long Giao. Anh
nói"
"Anh nhớ trong
lúc ở Long Giao mình thảo luận bài gì đó mà thằng Chiến
-quản giáo- nó kêu anh Phụng -B trưởng- ra ngoài nó chửi
một trận như lá mùa thu rơi rụng tiêu điều không? Sau đó
anh Phụng trở vô càu nhàu với tụi mình:
"Cán bộ nói mấy
anh tào lao, đảng với nhà nước nói như vậy là phải hiểu
như vậy, sao các anh bàn tới bàn lui ra ngoài đề chi vậy.
Mà anh nhớ bài học đó là gì không?"
"Có. Bài học
hôm đó họ đả kích tôn giáo, nhất là đạo Thiên Chúa.
Khi giảng bài, anh chàng cán bộ giáo viên từ Bộ Công An ở
Hà Nội vào, hắn nói tôn giáo là thứ thuốc phiện ru ngủ
con người, cần phải diệt bỏ... Khi về căn trại thảo luận
thì anh Trần Trọng Minh (Ðại Tá Bộ Binh) phát biểu. Tôi
không nhớ nguyên văn, nhưng ý của anh là con kiến cũng có
bản năng sinh tồn chớ không phải chỉ là con vật vô tri
vô giác. Ðiều đó trong chương trình học triết, ai trong chúng
mình mà chẳng học. Thế nhưng nó hoàn toàn khác với nội
dung anh chàng giáo viên giảng trong bài. Nó chửi là vì mình
hiểu theo cách của mình, mà không chấp nhận mù quáng ngông
cuồng theo cách hiểu của chúng nó. Thế thôi."
Anh Lễ: "Tụi
nó giáo điều kinh khủng, vậy mà cứ tự cho là chủ nghĩa
khoa học."
"Họ chẳng bao
giờ nhìn thấy được họ cả. Vẫn cứ như vậy thì dân
tộc Việt Nam mình bị họ kéo theo, sẽ đi về đâu giữa
một thế giới văn minh phát triển?"
Thả tù.
Hạ tuần tháng
5 năm 1977, có một đợt thả. Qua một số hình ảnh họ đem
dán ở trại như để "quảng cáo cái chính sách khoan hồng
nhân đạo của họ", chúng tôi mới biết là có 91 người
thuộc 82 trại do Ðoàn 776 cai quản được thả. Trong số đó
có Y Sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân
Y. Và anh Nguyễn Cao Thăng (không phải ông Thăng, Dược sĩ),
gốc là Phật Giáo Hòa Hảo.
Khi ở trại tập
trung trong Nam, lác đác cũng có anh ra về, như: Trung Tá Cầu
(Tổng Cục Tiếp Vân), Y sĩ Trung Tá Hoàng (Tổng Y Viện Cộng
Hòa), Ðại Tá Nguyễn Văn Lộc (Tư Lệnh Sư Ðoàn 106 Biệt
Ðộng Quân). Tôi không biết rõ nguyên nhân.
Sau đợt tha đó,
lác đác cũng có anh được tha, nhưng cách tha của họ chẳng
khác một hành động bí mật. Một sáng sớm, nhiều anh vừa
tự tập thể dục xong và đang làm những động tác vệ sinh,
tên quản giáo bên bộ chỉ huy trại sang khu "lán trại" chúng
tôi. Hắn hỏi khi tôi đang đứng bên ngoài cửa:
"Anh Sơn đâu?"
"Bác cáo cán bộ,
anh Sơn đây."
Vừa nói tôi vừa
chỉ anh Huỳnh Thanh Sơn đang rửa mặt.
"Anh họ gì?"
"Báo cáo cán bộ,
tôi họ Huỳnh."
"Không. Tôi
gọi anh Dương Thanh Sơn."
Anh Ðại Tá Dương
Thanh Sơn từ trong nhà nghe hỏi, anh bước ra:
"Báo cáo cán bộ,
tôi đây." Anh Sơn là em ruột của Ðại Tướng Dương Văn
Minh, sau khi giành được chiếc ghế Tổng Thống từ tay Tổng
Thống hợp hiến Trần Văn Hương, Tổng Thống Minh đã đầu
hàng cộng sản!
"Anh chuẩn bị
tư trang mang ra cổng chờ lệnh chuyển đi nơi khác."
"Ði ngay hả cán
bộ?"
"Chuẩn bị
xong là đi ngay. Khẩn trương lên."
Khi Tổ chúng tôi
xuất trại lên núi đốn cây về làm cầu, trông thấy bọn
họ đang khám xét đồ đạc, và xét cả người anh Sơn nữa.
Anh em chúng tôi khi lên núi, ngồi lại bàn tán nhau xoay quanh
cái việc anh Sơn chuyển trại. Ðại ý rằng:
"Rất có thể
ảnh được về."
"Về cái gì mà
khám xét dữ vậy."
"Bọn nó lúc nào
cũng hành động theo cái kiểu đánh lừa tụi mình . Ðừng
có nghe nó nói, cũng đừng thấy nó làm để rồi căn cứ
vào đó mà phán đoán không đúng đâu. Ảnh cũng đâu phải
là tình báo hay phản gián gì mà chuyển trại đặc biệt vậy.
Chỉ có về thôi. Dù sao thì ảnh cũng là em của Tổng Thống
đầu hàng cộng sản, không chừng cộng sản thưởng cho ông
Minh bằng cách thả em của ổng đó."
"Có lý. Sau khi
mình sập tiệm, cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cũng như
nhiều vị Bộ Trưởng trong nội các của Thủ Tướng Vũ Văn
Mẫu đều vô tù, ông Minh chẳng những không vô tù mà chúng
nó còn cho ông cầm lá phiếu đi bầu cử cái gọi là "thống
nhất đất nước". Ðã hết đâu, lúc bỏ phiếu ổng còn
nói lần đầu tiên ổng được bầu cử tự do nữa đó. Dám
bọn nó thưởng cho ông Minh lắm à."
Anh khác thêm vào:
"Mấy anh quên
là anh Dương Thanh Sơn còn có người anh hay em gì đó, theo
bọn cộng sản ra Bắc từ mấy chục năm rồi. Ôi! Cái chiến
tranh của mình nó chằng chịt chuyện gia đình đủ cách đủ
kiểu, thiệt khó mà lường."
Cũng như những
lần trước, bàn mãi cũng không có gì để kết luật. Chúng
tôi tản mác trên đường đỉnh, tìm cây để đốn và khiêng
về cho Tổ kia làm lại cây cầu từ đường đá vào Trại
Cốc bị sập.
(Tháng sau, tôi
được thư vợ tôi cho biết là anh Dương Thanh Sơn đã về
nhà. Vợ tôi và mấy chị bạn hay tin, cùng đến nhà anh Sơn
để nghe anh ấy kể chuyện về những ông chồng của mình).
Con gái xã hội
chủ nghĩa.
Cây cầu này dài
khoảng 6 thước, làm toàn cây rừng, xe bốn bánh loại nhỏ
qua lại được, nhưng họa hoằn mới có chiếc xe đến đây.
Mấy hôm trước, Tổ chúng tôi đẩy 2 xe cải tiến đến Liên
Trại 1 lãnh gạo. Chiếc xe có chút xíu mà chở 4 bao loại
50 kí lô. Hai chiếc qua cầu cùng một lúc, chiếc xe cải tiến
nhóm tôi vừa đến "mang cá" cầu bên kia, chiếc còn lại mới
đến giữa cầu, thì cầu sập. Sáu anh em chúng tôi phóng xuống
suối, cũng may là không anh nào bị va đầu va mặt vào những
tảng đá dưới suối. Hôm nay chúng tôi trách nhiệm lên rừng
đốn gỗ và phải đem về chỗ cầu sập, còn làm là một
Tổ khác trách nhiệm. Tên quản giáo ra chỉ tiêu:
"Gỗ làm trụ
cầu và đà cầu phải có đường kính ít nhất là 2 tấc
(0,2m ), dài phải 5 thước trở lên. Gỗ lót sàn cầu có đường
kính 1 tấc (0.1m ) và dài 5 thước trở lên."
Nặng nhất là
5 cây có đường kính 2 tấc trở lên: Hai cây làm trụ, một
cây gác lên đầu hai trụ cầu, và hai cây làm đà cầu. Cây
tươi nó nặng lắm quí vị quí bạn à! Mà cho dẫu có nặng
bao nhiêu cũng phải tìm cho ra, đốn cho xong, còn phải tìm
cách khiêng nó về. Trời đất ơi! Từ trên đỉnh núi về
đến chỗ cầu sập, ít ra cũng đến 2 cây số trên núi và
3 cây số trên đường chớ có gần gũi gì đâu. Với cây
lót sàn cầu, từng cây thì chẳng bao nhiêu nhưng 60 cây cũng
nặng nhọc lắm! Hôm ấy không biết do đâu mà tên "khẩn
trương" lịch sự với chúng tôi quá. Hắn bảo:
"Gỗ lót sàn
cầu tôi chỉ cho các anh vác."
Chúng tôi nghe
rõ ràng là hắn nói "vác" chớ không phải đốn. Vậy là ở
đâu ra. Mặc kệ, chờ hắn chỉ hẵng hay, thắc mắc làm chi
cho mệt.
Tìm được, đốn
xong, làm sao đây? Năm khúc cây này, chúng tôi cột giây ở
đầu cây để hai anh kéo, phía sau dùng cái cây khác làm bẫy
để xeo từng nhích một. Phía trước hai anh kéo, phía sau một
anh xeo. Vừa kéo vừa xeo, khi mặt trời xế chiều thì 5 khúc
gỗ rừng nặng ơi là nặng, cũng đến được "giàn phóng".
Không biết có từ lúc nào, nhưng hằng chục đỉnh núi mà
chúng tôi lên xuống, đều có "giàn phóng" để phóng cây xuống
chân núi. Thế rồi người và cây yên ổn xuống đến chân
núi. Tôi với anh Hồ Văn Thành một cây. Bao giờ cũng để
anh Thành lên vai trước, mới đến lượt tôi, mà lên vai sau
thất thế hơn, dĩ nhiên là nặng hơn. Cứ đi khoảng 50 thước
là dừng lại nghỉ chân, nhưng khúc gỗ vẫn trên vai chớ
không dám để xuống, vì để xuống rồi lên vai lại khổ
hơn là đứng dựa vào thân cây để nghỉ chân. Cứ như vậy,
rồi cũng về đến nơi.
Còn cây lót sàn
cầu, tên võ trang dắt chúng tôi đến những đống cây bồ
đề để sát bên lề đường, có lẽ chờ xe đến chở. Hắn
nói như quát vì ăn cắp mà:
"Các anh khẩn
trương. Cứ mỗi anh một cây hoặc hai anh khiêng hai cây rồi
chạy. Sau đó, quay trở lại lấy tiếp cho đến khi đủ số."
Hắn đứng gác
cho chúng tôi ăn cắp. Và rồi việc ăn cắp cũng êm xuôi vì
chẳng thấy bóng dáng nhân viên Lâm Trường đâu cả, nhưng
tất cả 18 anh em chúng tôi đều mệt lả! Áo quần đẫm mồ
hôi! Bụng thì đói!
Sau khi cung cấp
cây xong, chúng tôi tiếp tay với Tổ kia, và hai ngày sau thì
xem như hoàn tất phần căn bản, cầu sử dụng được nhưng
cần một ngày nữa để hoàn chỉnh. Xế chiều thì hai nữ
nhân viên Lâm Trường từ đâu lù lù tới. Một giọng nữ
rất đàn ông, ồ ề hết biết:
"Cây này các
anh lấy ở đâu ra?"
"Tôi không rõ.
Cô hỏi cán bộ tôi đi."
"Tôi hỏi anh."
"Thì tôi vừa
trả lời đó."
"Anh đùa với
chúng tôi hả? Chúng tôi lập biên bản số cây bồ đề này."
"Cô cứ tự nhiên."
"Anh tên gì?"
"Tôi tên gì cũng
chẳng liên quan đến Cô. Cô nên vô trại mà hỏi."
Con nhỏ trời
ơi này cũng đanh đá lắm, cô ta lên giọng: "Anh đùa với
tôi đấy hả?"
"Không. Tôi rất
nghiêm chỉnh."
"Ðược. Tôi
sẽ biết tên anh."
"Rất hân hạnh.
Ở tù mà có phụ nữ biết tên cũng hay hay."
"Anh ăn nói
cái kiểu gì thế?"
"Cô nghe rồi mà
còn hỏi."
Nhìn kỹ một
chút, bốn bàn tay của hai cô nhân viên này không khác da cây
mù u bao nhiêu. U nần nổi đầy phần trên bàn tay. Nghĩ cho
cùng, tội nghiệp cho thân phận đàn bà con gái xã hội chủ
nghĩa trên đất Bắc này! Chẳng thấy đường nét gì của
đàn bà con gái hết trơn. Người thì suông đuột như thân
cây bồ đề đến tuổi chờ người ta đốn, da dẻ sần sùi,
dáng đi thô kệch, ăn nói chẳng thanh tao chút nào. Nhưng mà
đàn bà con gái của cả cái xã hội xã hội chủ nghĩa này
như nhau, chẳng ai hơn ai cũng chẳng ai kém ai, hà tất phải
thắc mắc làm chi về cái việc con gái xã hội chủ nghĩa
ế chồng hay không ế chồng, phải không quí vị quí bạn?
Thế rồi hai cô
ấy vào trại thiệt. Hôm sau nghe lại mới biết là tên quản
giáo với tên võ trang có biệt danh "khẩn trương" phải xuống
nước năn nỉ, có lẽ nhờ vậy mà đâu cũng vào đấy. Thế
là êm chuyện. Tôi có ý đùa với cô ta vì có tôi đâu dính
dáng gì đến cái chuyện ăn cắp mà sợ.
Tai nạn.
Trở lại chuyện
phóng gỗ đã gây tổn thương nặng cho anh Bùi Dzinh (Ðại
Tá, có thời là Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh). Trong thời gian
bộ chỉ huy trại đẩy tù chính trị tham dự thi đua với
Lâm Trường về đốn cây bồ đề đến tuổi, cung cấp cho
nhà máy làm giấy. Anh Bùi Dzinh trong Tổ thi đua đó. Theo trại
cho biết thì ngày nào Tổ đốn cây của tù chính trị cũng
cao hơn chỉ tiêu của Lâm Trường. Nhưng không biết có phải
vì cái tin "vượt chỉ tiêu" mà các anh trong Tổ đó làm hăng
hơn hay không, có điều chắc chắn là vẫn giữ vững mức
vượt chỉ tiêu.
Hôm ấy là ngày
10 tháng 12 năm 1976 (Năm 2006, con trai anh Bùi Dzinh cho tôi biết
ngày chính xác), cứ như theo qui định trong "Huấn Lệnh Ðiều
Hành Căn Bản" không thành văn, mỗi khi sẵn sàng tại bệ
phóng thì dùng tay làm loa và la lớn để các bạn dưới chân
núi biết mà tránh:
"Chuẩn bị phóng
gỗ. Chuẩn bị phóng gỗ"
Lúc đó anh Nguyễn
Văn Hai (Ðại Tá Bộ Binh) và anh Bùi Dzinh đang tại điểm
cuối của giàn phóng, vừa nâng cây bồ đề lên vai, khi nghe
tiếng la hoảng hốt từ trên núi:
"Gỗ xuống. Gỗ
xuống!"
Cùng với tiếng
hét trên đỉnh núi, là tiếng ầm ầm của cây vun vút xuống.
Anh Hai vứt đầu cây bồ đề xuống và chạy thoát, trong khi
anh Bùi Dzinh đang loay hoay với đầu cây trên vai, thì bị cây
bồ đề lao xuống đánh vào màng tang rồi bay ngang đầu anh.
Anh Bùi Dzinh té xuống, bất tỉnh! Thằng võ trang hướng dẫn
các anh trong Tổ đưa anh Bùi Dzinh đến trạm xá Liên Trại
gần đó. Ðến chiều tối khi chúng tôi quay về trại, anh
Bùi Dzinh vẫn trong tình trạnh hôn mê!
Từ lúc anh Bùi
Dzinh bị nạn cho đến khi tiếng kẻng ngủ, anh em trong cả
3 Tổ trong một "lán" (dãy căn trại) hầu như im lặng hoàn
toàn. Bởi không một ai nghĩ là anh Bùi Dzinh có thể sống
được, nhất là khi đưa anh đến trạm xá thì máu trào ra
ngoài vành tai, một triệu chứng báo nguy khi đầu bị chạm
mạnh.
Ðang đêm, anh
Dương Hiếu Nghĩa thức giấc vì nghe tiếng chim cú kêu xa xa!
Anh khều tôi dậy, cả hai ngồi nghe tiếng con chim cú kêu sao
mà não nuột quá! Anh Nghĩa nói nho nhỏ:
"Chắc Bùi Dzinh
đi quá anh! Mấy đêm trước có nghe tiếng chim cú đâu, khi
Bùi Dzinh bị nạn thì nó đến đây kêu liên hồi. Thật là
điềm không lành!"
"Anh em mình chỉ
có cầu nguyện thôi chớ có làm gì được đâu."
Ba ngày sau, trên
đường lên núi đốn cây, hai anh đi trước nhanh chân lén
vào trạm xá thăm anh Bùi Dzinh , thấy anh tỉnh lại anh em vui
mừng lắm, chuyền nhau thông báo đến các Tổ tin vui này.
Sở dĩ chạy vào trạm xá được là vì thằng võ trang đi
sau cùng, nên các anh phía trước vào trạm xá mà nó không
biết, chớ nó có tốt lành gì mà cho vào thăm anh Bùi Dzinh
đâu. Biệt danh "khẩn trương" là tên võ trang hắc ám mà.
Ngay ở trong trại, chúng nó ngăn cấm liên lạc nhau giữa lán
(nhà) này với lán khác, giữa Tổ này với Tổ khác, và giữa
người này với người khác. Tụi nó -nhất là tụi quản
giáo- bắt gặp là đủ thứ rắc rối. Huống chi là vào trạm
xá thăm anh Bùi Dzinh .
Một chút suy
tư.
Hơn hai năm trong
4 trại tập trung, với những kinh nghiệm ghi nhận, tôi gom
góp vào quan niệm sống trong tù, như sau:
Thứ nhất. Phải
giữ sức khỏe, bằng cách tập thể dục nhẹ nhàng ngay trong
"lán" ở, và bên ngoài trại chỗ nào trồng được hoa trái
làm thực phẩm là trồng để ăn.
Thứ nhì. Phải
sẵn sàng đối diện với bọn chúng, càng nói ít càng
tránh được những sơ hở.
Và thứ ba. Phải
nghe bọn chúng nói và nhìn hành động của chúng bằng con
mắt của người tham mưu quân sự, để phân tách và đánh
giá chiều sâu vào những chính sách của chúng.
Cũng trong thời
gian nói trên, nhiều anh em chúng tôi cùng đồng ý là chỉ
có một sĩ quan cộng sản mà chúng tôi không gọi bằng thằng
khi nói đến hắn ở ngôi thứ ba, mà gọi là cán bộ. Ðó
là Thượng Úy Toản . Anh chàng này gốc tập kết từ trong
Nam ra Bắc sau Hiệp Ðịnh Ðình Chiến tháng 7 năm 1954. Sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh ta trở về Nam làm việc, nhưng
không rõ vì sao mà anh ta trở ra Hải Phòng, nơi đây cũng là
quê vợ anh ta. Lại bị trù ếm hay sao đó mà anh bị đẩy
đến Trại Cốc này. Anh ta phụ trách đắp đập nuôi cá.
Ðập này gần Trại Cốc và do 5 Tổ chúng tôi cùng làm. Trong
lúc giải lao, Thượng Úy Toản bảo chúng tôi quây quần lại
gần nhau, anh ta nói như một lời khuyên:
"Có một điều
tôi khuyên các anh, người ta (ý nói cộng sản) không
bao giờ quên quá khứ của các anh đâu. Những gì mà các anh
khai thành thật theo lời dụ dỗ của họ, thì họ sẽ sử
dụng để kết tội các anh. Vậy các anh liệu mà khai báo
sao cho có đường về với vợ con."
Chúng tôi lần
lượt hỏi:
"Theo cán bộ biết,
ngoài những bản khai báo của chúng tôi, các cơ quan nhà nước
có tài liệu nào khác về chúng tôi không?"
"Không. Tôi
đoan chắc với các anh là họ không có tài liệu nào về các
anh cả. Tôi hỏi các anh: Có khi nào người ta nói với các
anh là người ta biết hết mọi việc làm của các anh ngày
trước không?"
"Có cán bộ."
"Tôi lặp lại
với các anh là họ không biết gì về các anh đâu, ngoại
trừ một vài anh nào đó đã có vấn đề với địa phương
thì địa phương mới báo cáo về trung ương thôi, nhưng hiếm
hoi lắm."
Trong hai ngày thi
đua đầu tiên, mỗi ngày có thêm 100 gram gạo cho mỗi khẩu
phần mà họ gọi là "bồi dưỡng", anh ta nói:
"Hôm nay không
còn thi đua nữa, tức là các anh không có bồi dưỡng. Các
anh cứ lao động bình thường thôi. Ðường còn dài lắm,
đời các anh cũng còn dài lắm, liệu để còn đi tới nơi
tới chốn."
Chuyển trại.
Những ngày cuối
tháng 10 năm 1977, tên quản giáo Tổ cơ động chúng tôi -Trung
Úy Bật- cái mặt luôn luôn nhăn nhó, lững thững vào chỗ
nằm của chúng tôi. Hai tay chắp sau mông, đi tới đi lui mấy
lần, rồi hắn đứng nhìn lên sườn nhà. Vì trại này không
có kho nên tất cả bao bị gói ghém đồ đạc riêng tư đều
để trên đó. Hắn chỉ từng cái bao:
"Cái này của
ai? Cái kia của ai?"
Tôi trả lời
từng câu hỏi. Ðến cái bao của anh Nguyễn Quốc Dy (Ðại
Tá, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị), hắn nói:
"Sao để cái
bao của anh Dy cao vậy? Anh nên lấy để sát bên trái. Anh ấy
lớn tuổi rồi, để cao vậy mỗi khi cần sẽ khó khăn cho
anh ấy."
Tôi làm theo lệnh
của hắn. Dĩ nhiên không phải hắn trở thành người tử
tế trong xã hội xã hội chủ nghĩa rồi, nhưng sao hắn ra
cái điều lo cho sức khỏe anh Dy đến thế. Liệu đằng sau
"cái lo lắng" của hắn là điều gì đây. Tôi chuyển tin này
sang các Tổ khác, và nhận lại những tin mấy tên quản giáo
bên kia cũng y chang như hành động khó hiểu của tên Bật.
Vậy là có vấn đề rồi, nhưng vấn đề gì ? Sau khi xong
bữa ăn chiều với cơm độn bắp, tôi với anh Nghĩa ngồi
cạnh nhau thử đoán xem điều gì có vẻ làm biến đổi cái
tên quản giáo chưa bao giờ thấy hắn cười này. Tôi chợt
nhớ mấy hôm trước, bỗng dưng có một ngày được nghỉ.
Nhưng đâu phải nghỉ là ngồi không đâu, họ bắt phải đem
tất cả những bao những túi đựng quần áo riêng (thường
phục) từ trên gác xuống, viết họ tên và số hòm thư vào.
Họ còn bảo viết rõ ràng cho dễ đọc nữa. Tôi kề tai anh
Nghĩa:
"Anh có dự đoán
được điều gì sắp xảy ra không? Chẳng lẽ bọn họ làm
mấy chuyện tào lao đó sao."
"Liệu mình có
đủ dữ kiện cho một cuộc chuyển trại chưa?"
"Có thể như vậy
lắm. Nhưng trong sinh hoạt hằng ngày thì chưa có dấu hiệu
nào liên quan, ngoại trừ hai sự kiện vừa nói."
"Gì thì chưa rõ,
nhưng gần như chắc chắn không bình thường."
"Mong là không
có điều gì ghê gớm xảy ra."
Chúng tôi chui
vào mùng. Tôi phải dùng chữ "chui" mới hình dung được cái
cời không gian bé tí của mỗi người chúng tôi chỉ có 6
tấc (0.6m ) bề ngang, hai bên đều có mùng bạn, chỉ có cách
vén một mảng mùng ở dưới chân chỗ nằm mà chui vào thôi.
Nửa đêm hôm
đó, tôi cảm thấy có người lay chân. Tôi ngồi dậy, vén
mùng trông thấy tên quản giáo. Hắn hỏi:
"Anh Dy nằm đâu?"
"Gần tôi đây."
"Anh gọi anh
Dy dậy. Cẩn thận. Ðừng làm ồn các anh khác."
Tôi vừa lay chân
vừa gọi nho nhỏ:
"Anh Dy . Anh Dy
. Tôi Hoa đây. Cán bộ Bật gọi anh đó."
"Vậy hả?"
Anh Dy vừa ra khỏi
mùng, tên quản giáo ra lệnh:
"Anh chuẩn bị
tư trang chuyển trại ngay bây giờ."
Hắn xoay qua tôi:
"Anh leo lên
lấy cái túi tư trang anh Dy xuống, và phụ thu dọn với anh
ấy cho nhanh."
Anh Dương Hiếu
Nghĩa cũng bị gọi dậy chuẩn bị chuyển trại. Ngoài ra còn
mấy anh nữa cũng đi trong đợt này. Tên quản giáo ra lệnh:
"Các anh không
được gọi dậy phải nằm yên tại chỗ, không ai được
ra khỏi màn (tức mùng). Muốn đi đâu phải báo cáo".
Tôi đem cái túi
áo quần của anh Dy xuống, tôi hỏi tên quản giáo:
"Báo cáo cán bộ.
Tôi có đi không để tôi chuẩn bị?"
"Không."
Anh Dy bối rối
quá nên cứ xoay qua xoay lại mãi mà không mở được cái mùng.
"Anh để tôi thu
dọn tiếp anh." Khi tôi nắm lấy hai góc mùng để xếp lại,
tôi chạm bàn tay anh Dy :
"Sao tay anh lạnh
quá vậy? Nhiều mồ hôi mà run nữa. Anh bệnh phải không?"
"Không sao anh."
Giọng nói của
anh hơi run. Có lẽ đang đêm bất thình lình bị gọi dậy,
lại kèm theo cái lệnh chuyển trại nên anh sợ hãi, vì anh
chưa thật sự tỉnh giấc chăng?
"Cái mền tôi
lót nằm đâu rồi anh Hoa?"
"Tôi để vào
cái túi lớn rồi."
Anh lại moi ra
và đưa tôi:
"Anh giữ cái này
xài đi, tôi có dư."
Trong lúc hai tên
quản giáo ra ngoài sân, tôi đến cạnh anh Nghĩa:
"Chúc anh mạnh
khỏe, giữ vững nghị lực. Thể nào chúng mình cũng gặp
lại nhau trong hoàn cảnh tốt hơn."
"Vậy là anh thấy
thành phần đi rồi hén : Tình báo. An ninh quân đội. Tỉnh
trưởng. Ðảng phái. Chiến tranh chính trị. Có thể coi là
nặng đó."
"Không đoán được
với bọn này đâu anh. Anh nhớ như hồi ở Tân Hiệp không,
bọn nó trịnh trọng đọc tên từng người làm như lọc ra
để xử bắn không bằng, để rồi cuối cùng tụi mình cũng
ráp lại với nhau thôi. Biết đâu là lần này cũng vậy."
"Mong là không
điều gì tệ hại xảy ra cho chúng mình."
Thế là các anh
rời trại trong đêm tối mịt mù dưới cơn mưa nhẹ. Trong
số các anh chuyển trại, có anh Nguyễn Văn Hãn (Ðại Tá,
An Ninh Quân Ðội), đang bị đau đến nỗi không thể tự mình
đi được, các bạn phải dìu anh ra xe!
Sáng hôm sau, các
anh trong Tổ Thợ Mộc thuật lại rằng: Khi tên quản giáo
vào gọi từng người dậy thu xếp đồ đạc, đến anh Phan
Trọng Thiện bị lay dậy và tên quản giáo ra lệnh:
"Anh chuẩn bị
rồi đi ngay."
Anh Thiện hỏi
lại: "Tôi đi nữa hả cán bộ?"
"Anh đi. Nhanh
lên, ở đó mà hỏi."
"Ôi! Ðau khổ
quá!"
Tính ra có đến
khoảng 50 anh chuyển trại trong đêm qua. Bọn quản giáo không
hề hé một chút gì về nơi mà các anh ấy đến cả, và mãi
sau này đến lúc gặp lại mới biết. Bọn cộng sản nó giữ
bí mật kỹ lắm, chừng như biện pháp dành cho những tên
nào tiết lộ bí mật mà bị phác giác là nặng lắm thì phải?
Ngưu ốc.
Một tuần trước
Tết Nguyên Ðán đầu năm 1978, Tổ cơ động chúng tôi được
lệnh đi đắp đập cho xã Việt Cường, cách Trại Cốc khoảng
6 cây số. Chúng tôi phải mang theo một ít đồ dùng vì ở
lại đó một tuần lễ. Họ dự trù chúng tôi trở về trại
vào ngày Ba Mươi Tết! Ðang giữa mùa Ðông, rất lạnh. Phải
mang theo "áo bông", mũ trùm đầu và vớ len. Những cái áo
bông này quá cũ, thay vì đem bỏ họ đem phát cho chúng tôi
đỡ lạnh! Nói đến vớ, tôi nhớ lại mẩu chuyện ngắn.
Khi chúng tôi từ trong Nam ra Bắc đến trại nhà ngói, bọn
họ bắt chúng tôi bày ra tất cả đồ đạc để chúng nó
xét. Họ bắt từng người chúng tôi phải ghi từng món vào
danh sách để họ xét. Tên Trung Úy Khảm, cầm danh sách của
tôi, hắn đọc món nào thì tôi đưa món ấy cho hắn đúng
với số lượng đã ghi. Ðến đôi vớ, hắn hỏi:
"Vớ là gì?"
"Báo cáo cán bộ.
Vớ là vớ chớ tôi biết vớ là gì đâu."
"Anh đưa tôi
xem."
Khi trông thấy
đôi vớ, hắn nói với giọng ngạo mạn của người miền
Bắc tự cho là mình dùng chữ đúng:
"Bít tất thì
kêu bít tất, tại sao các anh gọi là vớ?"
"Cán bộ chạm
tự ái người miền Nam chúng tôi rồi. Nếu như tôi đặt
câu hỏi ngược lại, tại sao vớ lại gọi là bít tất, thì
cán bộ có giận không? Mỗi miền đều có nét văn hóa đặc
thù mà cán bộ."
Hắn dịu giọng:
"Trong
Nam các anh gọi là vớ à?"
"Ðúng. Cũng như
cán bộ gọi là bít tất vậy."
"Thôi. Không
tranh luận nữa .Tiếp tục đi."
Tổ chúng tôi
và một Tổ nữa cùng toán nhà bếp, rời trại trưa 23 Tết
dưới cơn mưa phùn từng chập, trông như những đám bụi
bay theo cơn gió nhẹ. Ðến nơi thì áo quần chăn chiếu thấm
ướt hết trơn. Tên quản giáo đứng canh chúng tôi, trong khi
tên võ trang đi tìm người phụ trách của Xã. Thế rồi một
người đại diện Xã với bốn cô gái đến. Hắn nói với
tên võ trang:
"Ðồng chí
cho các anh ấy ở đây. Chật một chút, nhưng Xã không có
địa điểm nào khác. Trên nóc còn trống, tôi bảo đem tranh
đến lợp ngay bây giờ."
Trời đất! Lúc
ấy nét mặt của gần 50 anh em chúng tôi trông như dài ngoằng
xuống, vì đây là cái chuồng trâu, nóc thì trống, nền đất
loang lổ , làm sao mà nằm!
Nhìn thấy được
cái cảnh ấy của chúng tôi, một trong bốn cô gái đó lên
tiếng:
"Ðây là chuồng
trâu nhưng không sử dụng lâu rồi. Chúng tôi sẽ mang rạ
đến lót cho các anh."
Anh Nguyễn Thế
Lưỡng nói:
"Tôi đo rồi,
may lắm thì mỗi anh chỉ được 4 tấc (0.4m ) thôi. Ðó là
tôi tính nằm sát các cọc tre hai đầu."
"Ở cái kiểu
này làm sao mà kéo đất nỗi!" Một anh khác than thở!
Một lúc sau thì
một toán toàn các cô gái mang tranh với rơm đến. Cũng chính
các cô leo lên lợp lại nóc, và lót rơm trên nền. Có kêu
ca gì thì cuối cùng cũng phải thu xếp với nhau chỗ nằm,
để mấy anh nhà bếp còn lo bữa ăn chiều. Sau khi gọi là
thu xếp xong mới đứng quan sát. Chuồng trâu cạnh con đường
làng và cách rìa làng khá xa, chung quanh là những đám rẫy
chen lẫn với rừng. Từ xa, con nít khoảng trên dưới 10 tuổi,
từng nhóm đến xem. Chúng nó nói với nhau:
"Ngụy đó mầy."
Ðứa khác cãi
lại:
"Không phải.
Bố tao nói tù miền Nam. Mấy ông này làm đập cho mình nuôi
cá."
"Họ dữ không?"
"Họ có nói
có la gì mình đâu mà biết."
Ðại để qua
lời của các cô gái cùng với vài câu chuyện của trẻ con,
nhận định sơ khởi là người dân vùng này chừng như có
chút thiện cảm với chúng tôi thì phải?
Cơm xong, tên võ
trang dẫn đến bốn thanh niên. Hắn nói:
"Ban đêm, các
anh không được ra khỏi khu vực này. Các đồng chí Dân Quân
đây có trách nhiệm canh giữ các anh, sẽ làm nhiệm vụ nếu
các không chấp hành lệnh nghiêm cấm."
Vừa ra lệnh vừa
đe dọa đấy!
Tuy không có muỗi
nhưng vẫn phải giăng mùng cho đỡ lạnh, vì chuồng trâu không
có vách mà chỉ có mấy cây tre nhỏ ngang dọc chung quanh để
ngăn trâu bò thôi. Quí vị có thể hình dung là khi chúng tôi
giăng mùng xong thì không ai nhận ra được cái mùng của mình
ở chỗ nào nếu như không chui vô mùng sau khi giăng. Vì vậy
mà mỗi người phải cột cái gì đó để làm dấu như mảnh
giấy trắng chẳng hạn, để khi nửa đêm dậy đi tiểu xong
còn nhìn ra được cái mùng của mình mà chui vô. Mỗi khi nằm
xuống phải khoanh hai tay trước ngực, từ từ ngả lưng xuống.
Còn ngồi dậy, vẫn tư thế đó, từ từ ngóc đầu lên với
thân mình. Giống như tập thể dục ở cái động tác giữ
cho bụng thon ngực nở, cũng là giữ cho cái xương sống mềm
mại dẻo dai vậy. Có điều là nửa đêm mà ngồi dậy thì
vai hai người bạn bên phải bên trái, tự động "giành dân
lấn đất" cái cõi không gian bé tí của mình. Không sao. Khi
xong cái việc xả nước cho nhẹ bụng trở vào, phải tìm
được cái mùng, chui vô. Bắt đầu lách dần hai bạn để
có được một chỗ ngồi, khoanh tay lại, hơi nghiêng về một
bên, vừa lách hai bạn vừa hạ người xuống để "đòi lại"
cái cõi không gian bé tí mà nằm. Khi xuống được một bên
lúc ấy mới từ từ nằm ngửa trên cái "giường rơm" trong
cái chuồng trâu hoang phế!
Chỉ một bên
tựa vào triền núi, ba bên còn lại là đất trống, gió lạnh
"tự do" thổi vào cái chuồng trâu tồi tàn chật hẹp, làm
cho mấy chục anh em chúng tôi lạnh cả ngoài lẫn trong! Anh
Kim vui tính, tạo cái không khí vui vui để phá bớt nỗi buồn
giữa cái lạnh của mùa Ðông núi rừng Tây Bắc:
"Ðúng là chúng
mình đang ở trong "ngưu ốc" các anh à! (chuồng trâu, theo Hán
Việt là ngưu ốc) Dã man thiệt! Mẹ kiếp! Mình ở trong chuồng
trâu chật hẹp hôi thúi thế này, nếu còn gặp lại mấy
thằng bạn ở Tây ở Mỹ, nói cho chúng nó nghe. Tôi nghĩ,
đếch có thằng nào tin mình đâu. Không chừng chúng nó còn
cho là mình bị cộng sản nhốt tù rồi tức mà nói xấu cộng
sản nữa đó."
Tiếng một anh
nào đó trong bóng đêm mù mịt lạnh lẽo:
"Thì mình cứ
tưởng như đang ở "Niu Dót" (nhại theo âm của chữ New York
, Hoa Kỳ) để có giấc ngủ yên lành, có sao đâu."
"Thôi đi các bạn
ơi! Cho có là Niu-Dót hay ngưu ốc đi nữa, chúng mình còn tệ
hơn mấy con cá mòi trong hộp. Bạn bè nó có tin hay không tin
mặc kệ. Thân mình chưa biết ra sao, ở đó mà nói đến bạn
bè bên Tây bên Mỹ".
"Ông chán đời
thế! Sao hồi 30 tháng 4 ông không đi cho rồi, bây giờ nói
chuyện vui một chút mà ông cũng trách."
"Họ có cho đi
đâu mà đi. Họ giành chỗ cho gia đình họ chớ đâu đến
lượt mình . Thôi, đừng có nhắc nữa, tức lắm."
"Thì ông nhắc
chớ chúng tôi có nhắc đâu."
"Thôi các anh à!
Bạn tù với nhau, cùng nằm trong cái chuồng trâu với nhau,
chia sẻ cho nhau không hết, lại còn gắt gỏng nhau cho thêm
đau lòng!. Ngủ đi, để mai làm trâu kéo đất đắp đập
cho người ta."
Thưa quí vị quí
bạn, thật ra những lời bàn qua tán lại giữa chúng tôi với
nhau, không phải là vô nghĩa, mà trong một ý nghĩa nào đó,
tùy theo người nghe sẽ nhận ra tâm trạng cùng những ước
vọng của mỗi người chúng tôi. Chẳng hạn như chữ Niu-Dót,
dù thể hiện cái tâm trạng buồn khi ngủ trong chuồng trâu
nhưng vẫn kèm theo tính khôi hài sẵn có. Chữ Niu-Dót chỉ
là mượn âm của New York , để nói lên cái ước vọng ra
khỏi trại tập trung của cộng sản, chớ không nhất thiết
là ước vọng sống tại New York . Nghĩ cho cùng, những câu
chuyện đó cũng giúp anh em chúng tôi có những giây phút thư
giãn trong đầu, vì bận nghe chuyện trên trời dưới biển
mà quên đi cái nỗi buồn da diết!
Khẩu phần hằng
ngày của chúng tôi được tăng thêm 0.200 kílô gạo do Xã
cung cấp, do vậy mà phần ăn sáng cũng nhiều một chút. Nói
đến tiêu chuẩn gạo, chẳng những tù chính trị chúng tôi
quan tâm đến lượng khẩu phần gạo hằng ngày, mà người
dân xã hội chủ nghĩa, thậm chí đến các cấp lãnh đạo
của cộng sản từ trong đảng đến bộ máy cầm quyền, cũng
đều quan tâm đến. Xin trưng dẫn: "Số lượng gạo mà họ
gọi là "tiêu chuẩn" bán cho mỗi thành phần xã hội, cấp
càng cao càng được số lượng nhiều hơn với lý do viện
dẫn là cấp lãnh đạo cần được bồi dưỡng có sức khỏe
để lãnh đạo. Và bao trùm hơn hết là cái chính sách cai
trị của cộng sản "nắm chắc cái bao tử" thông qua tờ "hộ
khẩu". Bất cứ ai trong gia đình nào đó mà không thi hành
lệnh của địa phương thì họ cắt hộ khẩu, tức là không
bán gạo theo tiêu chuẩn. Bởi trong xã hội xã hội chủ nghĩa,
tất cả cơ sở mua bán kinh doanh sản xuất đều do đảng
với nhà nước làm chủ, cho nên khi nhà nước không bán lương
thực thực phẩm thì không còn chỗ nào để mua hết. Vậy
là đói rồi, mà đói thì phải bò. Bò đến ông lãnh đạo
địa phương làm kiểm điểm và cam kết sửa sai, tức là
luôn luôn thi hành mệnh lệnh. Lúc ấy, lãnh đạo cứu xét
cấp tiêu chuẩn trở lại." Hãi hùng chưa quí vị quí bạn?
Cũng xã hội chủ
nghĩa có cái chính sách rất ư kỳ lạ. Ðó là họ cưỡng
bách phụ nữ phải đi làm, bằng cách chỉ cho các con của
người mẹ có đi làm mới được hưởng quyền lợi dù hết
sức nhỏ nhoi. Nếu trong gia đình chỉ có người chồng đi
làm còn vợ ở nhà, thì các con của gia đình này không có
chút quyền lợi gì trong cuộc sống cả. Nói rõ hơn là những
đứa con đó không có tiêu chuẩn gạo hằng tháng. Trong một
xã hội mà người dân chỉ biết có gạo với gạo, còn gì
mà nói nữa! Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,
từ trước cho đến năm 1977 là như vậy đó! Ðến năm 1986,
càng tệ hơn nữa. Lúc ấy người dân xã hội chủ nghĩa sắp
ngã quỵ, đảng cộng sản sắp tan rã, họ mới buộc lòng
phải thay đổi, nhưng là thay đổi rất chừng mực để tồn
tại và làm giàu riêng tư.
Cũng nói thêm
rằng, những năm 50 khi nắm quyền cai trị nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa, ông Hồ khoe khoang cái chính sách mà ông
gọi là "giải phóng phụ nữ", nhưng thực tế thì người
phụ nữ bị cưỡng bách đi làm như nói ở trên. Chưa hết,
khi lao động mà cần đến đến sự vận chuyển, thì ngày
trước phụ nữ dùng cái đòn gánh trên vai để gánh hai cái
thúng hay thùng ở hai đầu đòn gánh. Ông Hồ "giải phóng
phụ nữ" bằng cách dùng ba người phụ nữ đẩy cái xe cải
tiến với trọng lượng 150 kí lô. Nghĩa là ông Hồ không
cho gánh nữa mà là đẩy xe chở nhiều hơn gánh. Nói rõ hơn,
người phụ nữ phải làm việc nặng nhọc hơn! Chính sách
"giải phóng phụ nữ" của ông Hồ là như vậy đó!
Nói đến giải
phóng phụ nữ, không thể quên sự đóng góp quan trọng của
những nhà văn trong "Nhóm Tự Lực Văn Ðoàn" thời những năm
30-50, đã hướng dẫn xã hội thời ấy trong cuộc vận động
đưa thành phần nữ giới bị xã hội phong kiến cột chặt
trong khung cảnh gia đình từ ngày xưa, bước chân vào xã hội
với những công việc như nam giới. Và đã thành công ngoạn
mục. Nếu phải dùng chữ "giải phóng" thì đó mới thật
sự là giải phóng.
Ông Hồ là một
người lãnh đạo, có vẻ say mê trong việc dùng những nhóm
chữ rất kêu, rất văn chương, nhưng thật sự là trống rỗng.
Nghĩ cho cùng, cái cách đó lại giúp ông nắm cổ được những
cấp dưới ông vì thời đó có mấy người có học đâu.
Lác đác cũng có đảng viên có học, nhưng họ nghe lời "bác"
của họ như những kẻ ngông điên dại. Chẳng những thế,
họ cứ theo lời ông "dạy" rồi truyền khắp dân gian phải
nghe theo. Lần hồi họ "thần thánh hóa" ông Hồ, rồi truyền
tụng cho những thế hệ kế tiếp cộng với nền giáo dục
một chiều, kết quả là những thế hệ khi ra khỏi hệ thống
giáo dục xã hội chủ nghĩa, chỉ biết nghe những lời của
ông truyền lại cứ như nghe "lời phán của thánh". Mãi đến
nay, chẳng mấy người trong số họ, dám đụng đến ông thánh
của họ, mà thật ra "ông thánh" của họ chỉ là một con
người "ăn cắp văn", một con người "ăn cắp tình", một
con người "gian trá quỷ quyệt" trong lãnh đạo. Nói chung,
ông Hồ là một con người không còn nhân cách Việt Nam, khi
con người không còn nhân cách thì con người đó còn gì để
nói.
Trở lại cái
việc đắp đập. Anh em chúng tôi trong hai Tổ này đã hai ba
lần đắp đập nên tổ chức công việc nhanh lắm. Sau đó,
cứ phá triền núi, kéo đất đổ xuống đường thông thủy
ngăn dần dòng nước thượng lưu. Ðào một đường bên cạnh
đập gọi là "đập tràn", để khi mực nước cao quá thì
nước theo đường đó đổ xuống hạ lưu. Khi muốn bắt cá
thì cuốc giữa mặt đập mà xả nước. Bắt cá xong, muốn
nuôi cá nữa thì đắp phần giữa mặt đập lại là có cái
hồ như trước. Họ không làm cống để tháo nước, mà khoa
học kỹ thuật của họ trong đắp đập nuôi cá là như vậy.
Nguồn nước dùng
cho mọi nhu cầu của "cư dân trong ngưu ốc" bất đắc dĩ
này là dòng suối nhỏ, cách chuồng trâu chúng tôi ở khoảng
100 thước. Nước thì có nhưng đục lắm, vì phía trên có
chỗ cho trâu bò qua lại hai bên bờ. Ðục thì đục, có nước
dùng là may rồi. Mỗi chiều sau khi tắm giặt xong, nói nghe
ngon lành lắm nhưng thật sự chỉ là qua loa thôi vì trời
lạnh mà nước suối càng lạnh hơn. Nhóm "ca nhạc sĩ bất
đắc dĩ" chúng tôi tập hát để hát trong đêm Giao Thừa:
Anh Nguyễn Thành Trí (Ðại Tá, Thủy Quân Lục Chiến), anh
Nguyễn Quang Chiểu (Ðại Tá Bộ Binh), anh Nguyễn Phán (Ðại
Tá, Quân Ðoàn 2), anh Nguyễn Thiều (Ðại Tá Bộ Binh), và
tôi. Anh Trí sáng tác bài "Ðâu Cũng Là Quê Hương". Tôi nói
"bất đắc dĩ", vì bộ chỉ huy trại bảo tù chính trị chúng
tôi tổ chức ca hát mừng Xuân.
Trời lạnh nhưng
vẫn phải tập, vì khi về đến trại là đêm Giao Thừa rồi,
bây giờ không tập thì không có thì giờ nào khác. Còn nếu
không tổ chức ca hát mừng Xuân, không khéo lại bị bọn
họ chụp cho cái mũ "chống đối cải tạo" hay "lấy nạng
chống trời" là lắm thứ rắc rối. Không ngờ là khi tập
hát, dân trong làng nhất là đám con nít với những cô gái
tuổi choai choai, kéo nhau đến xem khá đông. Trông cũng hay
hay.
Một tuần trôi
qua, dưới cái lạnh đậm đà của ngày cuối năm âm lịch,
chúng tôi giã từ "ngưu ốc", nơi mà có muốn hay không muốn,
cũng để lại trong chúng tôi những buổi chiều khó quên trong
cuộc sống của người tù chính trị trong tay cộng sản. Về
đến trại, tắm giặt, cơm xong, là chuẩn bị vào chương
trình văn nghệ Giao Thừa.
Tù trình diễn
tù xem. Nhưng cũng có một số quản giáo và võ trang ngồi
xem từ đầu đến cuối. Sau phần văn nghệ là màn Táo Quân.
Các vai:
Ngọc Hoàng Thượng
Ðế: Anh Phạm Duy Khang (Ðại Tá Bộ Binh).
Nam Tào Bắc Ðẩu:
Anh Huỳnh Minh Quang (Ðại Tá Không Quân) với một anh nữa
mà tôi quên tên.
Táo Trại 2: Anh
Nguyễn Văn Sáu (Ðại Tá Pháo Binh).
Trại Cốc là
tên gọi lúc tất cả chúng tôi mới chuyến đến, về sau
khi tách một nửa sang Trại 3 thì trại chúng tôi gọi là Trại
2.
Màn này bắt đầu
với cái cảnh Táo Trại 2 đội một bó củi vào thiên đình.
Táo quỳ xuống xin lỗi Ngọc Hoàng đến trễ, vì phải lên
núi lấy củi cho nhà bếp. Ngọc Hoàng nghe cảm động quá
nên tha lỗi. Táo Trại 2 móc cái sớ bèo nhèo trong túi ra,
rồi bắt đầu đọc. Trong sớ có đoạn than phiền vấn đề
lao động vất vả quá, ăn uống thì thiếu thốn, đau ốm
không đủ thuốc men, ..v.. v.. Hai ông Nam Tào Bắc Ðẩu mủi
lòng, bèn lên tiếng ủng hộ Táo Trại 2 bằng cách cường
điệu thêm khi tâu với Ngọc Hoàng. Thế là Ngọc Hoàng Thượng
Ðế Phạm Duy Khang nổi trận lôi đình , ra lệnh cho Trại
2 phải sửa sai. Tù chính trị chúng tôi vỗ tay thật dài và
cười thật to, trong khi cả đám quản giáo với võ trang ngồi
êm re. Anh em chúng tôi thì thầm với nhau:
"Chết cha rồi!
Trông thằng nào thằng nấy cái mặt cũng hầm hầm kia kìa."
"Sớ Táo Quân
là trò giải trí truyền thống chớ có gì đâu mà sợ."
"Ðó là cách nhìn
của mình, còn bọn nó là cộng sản. Chữ của nó có cùng
nghĩa với mình đâu, bọn nó dám quần các anh Ngọc Hoàng
Thượng Ðế với Nam Tào Bắc Ðẩu của mình lắm à!"
Và y như rằng,
cả bốn anh "Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Táo Quân, Nam Tào, Bắc
Ðẩu" bị chúng gọi sang bộ chỉ huy quát mắng dữ dội.
Cuối cùng, các anh phải làm kiểm điểm. Kiểm điểm cũng
là một hình thức trừng phạt.
Như thường lệ,
sau một ngày lên núi đốn cây, anh em kéo nhau xuống dòng suối
bé tí tắm giặt, gặp anh Khang, tôi nửa đùa nửa thiệt:
"Ngọc Hoàng ơi!
Vụ đó xong chưa?"
"Thôi đi bố!
Tụi tôi bị chúng nó chửi như chó! Ngọc Hoàng cái mẹ gì
nữa".
Sáng Mồng Ba Tết,
bọn chúng đẩy tất cả chúng tôi lên những đồi trọc chung
quanh trại trồng khoai mì. Cách trồng khoai mì là chúng tôi
giăng hàng ngang, mỗi người một cây cuốc, cuốc vỡ đất
từ dưới chân đồi dần lên đỉnh. Cứ hai người cuốc
đất có một người bưng cái rổ đựng hom khoai mì, quẳng
nhẹ cọng hom xuống rồi dùng chân đùa đất lấp lại, và
đạp xuống là xong.
Bị thẩm vấn.
Trong khi các bạn
tôi trồng khoai mì, tôi bị gọi ra ngoài trại thẩm vấn nữa.
Họ đưa tôi ra cái nhà nhỏ gần trạm xá Liên Trại, cách
trại 2 khoảng 2 cây số. Ðến sân, tên võ trang bảo tôi đứng
chờ, hắn vào trong. Vài phút sau, từ sau cánh cửa cửa, hắn
gọi tôi vào. Bên trong có ba tên ngồi quanh cái bàn, trên có
bình trà với mấy cái tách. Họ mặc đồng phục quân đội,
nhưng không có bất cứ cái gì trên bộ quân phục của họ
để có thể biết tên nào lớn hơn tên nào. Tên ngồi giữa,
gằn giọng như dằn mặt tôi:
"Anh có phải
là Phạm Bá Hoa không?"
"Ðúng. Tôi là
Phạm Bá Hoa. Xin lỗi là tôi phải xưng hô như thế nào?".
"Có gì đâu.
Cứ như trước thế thôi."
Vậy là tên này
có thẩm vấn tôi lúc còn trong Nam, nhưng tôi không nhớ.
"Mời anh ngồi".
Vừa nói hắn vừa đưa tay chỉ cái ghế còn lại.
"Cám ơn".
Hắn dịu giọng
khi vô đề: "Anh có nhận thư gia đình không?"
"Vâng. Tôi có
nhận".
"Chị với các
cháu không có vấn đề gì chứ?"
"Nhân anh hỏi,
tôi xin phép trình bày về gia đình tôi một chút. Gia đình
tôi vẫn mạnh. Trong thư vừa rồi vợ tôi cho biết, nhà ba
má chúng tôi ở Vĩnh Long đã bị tịch thu, và con lớn chúng
tôi tại Sài Gòn không được vào đại học, với lý do cả
hai trường hợp vì tôi là Ðại Tá. Nếu được, xin anh có
thể cho tôi biết, đó có phải là chính sách của nhà nước
không?"
"Theo lệnh của
Hội Ðồng Bộ Trưởng, chỉ có quản lý thôi, làm gì có
chuyện tịch thu. Lệnh đó không một địa phương nào dám
làm trái đâu. Còn con anh chắc không đủ điều kiện chớ
nhà nước đâu có cấm".
"Cám ơn anh cho
tôi biết luật pháp. Thế nhưng chuyện nhà ba má chúng tôi
đang ở bị tịch thu là sự thật, còn sai hay đúng thì tôi
không rõ. Ðứa con lớn chúng tôi thi vào đại học với số
điểm vượt trên điểm tối thiểu rất cao, nhưng về thành
phần trong xã hội thì con tôi vào thành phần thứ 12/13. Ðó
là lý do con tôi không được học đại học. Xin anh có thể
cho tôi biết về thành phần như thế nào không?"
"Thôi. Chuyện
riêng tư để sang một bên, chúng ta vào mục đích. Anh cho
chúng tôi biết, khi chúng tôi tiếp quản thì những tư liệu
cơ bản (tài liệu căn bản) của Cục Mãi Dịch có còn
nguyên vẹn tại cơ quan không?"
"Ðiều này tôi
hoàn toàn không biết, vì tôi đã rời khỏi cơ quan này 6 tháng
trước đó".
"Tại cơ quan
Mãi Dịch có người báo cáo là anh có vào cơ quan này trước
khi chúng tôi tiếp quản. Ðúng không".
"Không đúng. Lúc
đó mạnh ai nấy chạy, với lại trên mọi ngả đường rất
hỗn loạn. Tôi phải lái xe quanh co tìm đường về nhà, đâu
có thì giờ để ghé vào đó làm chi". (Thật sự thì tôi có
ghé thăm, cũng là để chia tay các cộng sự viên cũ của tôi)
Cả ba tên luân
phiên đặt câu hỏi:
"Anh cho biết
về tổ chức và hoạt động của ngành Mãi Dịch trong quân
ngụy như thế nào? Ảnh hưởng quân sự, ảnh hưởng kinh
tế ra sao?"
"Về tổ chức.
Tại trung ương, chúng tôi có Cục mãi Dịch. Tại các địa
phương là Ðà Nẳng , Qui Nhơn, Nha Trang, và Cần Thơ, mỗi
nơi chúng tôi có một Sở mãi Dịch. Về hoạt động. Trong
thời gian tôi giữ chức Cục Trưởng, hằng năm chúng tôi
mua hàng của các nhà sản xuất trên dưới 30 tỷ bạc Việt
Nam để cung cấp cho quân đội. Ngoài ra, cơ quan Mãi Dịch
Lục Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, cũng đấu thầu mua những
mặt hàng do kỹ nghệ Việt Nam sản xuất để viện trợ cho
quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trị giá mua hàng hằng năm bằng
hoặc cao hơn trị giá do cơ quan Mãi Dịch chúng tôi mua. Các
cơ quan truyền thông thường dùng nhóm chữ "xuất cảng nội
biên", để chỉ cho sự kiện này. "Xuất cảng nội biên",
vì các công ty bán hàng ngay trong nước nhưng nhận tiền bằng
mỹ kim. Sự kiện mua hàng trong nước, cho dù Mãi Dịch Việt
Nam hay Mãi Dịch Hoa Kỳ, đã góp phần quan trọng thúc đẩy
nền kinh tế Việt Nam chúng tôi phát triển."
"Anh có xác
nhận điều anh nói là đúng không?"
"Những gì tôi
vừa nói, chính là những việc mà trước đây là nhiệm vụ
của cơ quan mãi dịch mà tôi là người trách nhiệm. Còn tin
hay không tin, tùy các anh".
Im lặng một lúc,
một tên nói:
Anh vào trại
viết lại cho tôi những gì anh nói hôm nay.Trưa mai có người
gọi anh ra gặp chúng tôi".
"Vâng. Chào các
anh".
Chiều và tối
hôm ấy tôi viết lại. Cũng như những lần bị thẩm vấn
trước, tôi đều lưu lại bản nháp để sau này nếu bị
hỏi thì theo đó mà trả lời. Kinh nghiệm cho thấy, nếu lần
sau trả lời không giống lần trước là chúng nó vặn vẹo
đủ điều, vì nghi ngờ mình giấu điều gì đó. Khi chúng
nó nghi ngờ, không chỉ vặn vẹo điều nghi ngờ đó mà chúng
còn vặn vẹo những điều khác nữa.
Hôm sau, lại theo
tên võ trang hướng dẫn. Ðứng bên ngoài một lúc, chẳng
thấy ai. Tên võ trang bảo tôi đứng chờ, hắn vào trong. Khá
lâu, hắn trở ra gọi tôi. Vào nhà cũng chẳng thấy ai. Khoảng
5 phút sau, ba tên hôm qua lần lượt bước ra. Một tên chỉ
cái ghế để riêng ở đầu bàn nhưng khoảng cách bàn chừng
1 thước:
"Anh ngồi xuống".
Chừng như hắn
sợ tôi điều gì , nên không cho tôi ngồi sát bàn như hôm
qua. Hắn vừa ngồi xuống, cầm trên tay những trang giấy tôi
đưa và hắn đốp chát:
"Những hầm
bí mật ở Long Bình và ở Bộ Tổng (Tham Mưu) của anh
ở chỗ nào?"
"Nếu tôi nhớ
không sai thì trước đây tôi đã trả lời câu này ba lần
rồi. Tôi xin lặp lại để trả lời câu hỏi của anh. Trong
quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật,
chúng tôi chỉ có hầm nửa nổi nửa chìm ở căn cứ Long
Bình để tồn trữ điện trì dùng cho máy truyền tin thôi.
Tôi nghĩ là gần 3 năm nay, nếu như chúng tôi có hầm bí mật
thì các anh tìm ra đâu có gì khó, vì tất cả đều trong sự
kiểm soát của các anh mà".
Cả ba tên châu
mắt nhìn tôi, tuy không đằng đằng sát khí nhưng không kém
hằn học. Cả ba cùng vào trong không để lại lời nào cho
tôi. Áng chừng 5 phút sau, một tên bước ra với vẻ mặt
hầm hầm:
"Trước đây,
anh đã ngoan cố chống cách mạng. Ðảng với nhà nước khoan
hồng cho anh mà anh không biết hối cải, vẫn tiếp tục ngoan
cố, không hợp tác với cách mạng. Anh có biết anh là gì
không?"
"Vâng. Tôi biết.
Tôi là tù của các anh, trong tay các anh. Anh nói tôi ngoan cố,
xin anh cho tôi trình bày còn anh có tin hay không là tùy anh.
Anh nói trước đây tôi chống cách mạng, trong khi tôi là một
công dân Việt Nam Cộng Hòa, thi hành lệnh của chánh phủ
tôi, vào quân đội, tôi thi hành lệnh của cấp chỉ huy tôi.
Bây giờ anh nói tôi ngoan cố không hợp tác, trong khi tôi cố
gắng trả lời câu hỏi của các anh về những gì mà tôi
biết. Các anh vẫn nói tôi ngoan cố, nói tôi chống cách mạng
trong khi tôi chống lại các anh theo đúng bổn phận một công
dân. Bây giờ tôi biết nói thế nào với các anh".
Hai tên kia bước
ra với thái độ nhẹ nhàng so với lúc nãy , một trong hai
tên mặc quân phục khá tươm tất, có vẻ là trưởng của
toán này:
"Sang vấn đề
khác. Anh cho chúng tôi biết: Tư duy của anh tại sao các anh
thua chúng tôi nhanh như vậy?"
"Xin hỏi cho rõ
để tôi trả lời đúng câu hỏi: Có phải anh hỏi tôi suy
nghĩ gì về sự kiện chúng tôi thua các anh nhanh quá phải
không?"
"Ðúng".
"Tôi xin trả lời.
Trong lần đầu tiên tôi bị thẩm vấn tại Sài Gòn, tôi đã
trả lời câu hỏi tương tự như vậy. Lúc ấy tôi trả lời
rằng, câu hỏi của anh cũng chính là câu tự hỏi của tôi,
cũng như của các bạn tôi cùng làm việc ở Bộ Tổng Tham
Mưu nữa. Và bây giờ tôi cũng chỉ trả lời anh được như
vậy thôi. Tôi không biết cho đến bao giờ, tôi mới tìm được
câu trả lời thích đáng cho chính bản thân tôi".
"Anh có điều
gì giấu cách mạng phải không?"
"Không. Tôi không
có điều gì giấu cả. Với lại chúng tôi đã thua các anh
gần 3 năm rồi, có giấu cũng chẳng lợi ích gì , trái lại
chỉ có hại thôi".
Lại im lặng.
Một lúc sau:
"Anh viết vào
xấp giấy này những gì mà anh đã nói với chúng tôi. Bây
giờ anh vào trại được rồi. Chúng tôi sẽ gọi anh sau".
"Những câu hỏi
này tôi đã trả lời lúc ở trại Tam Hiệp trong Nam rồi mà.
Bây giờ tôi cũng viết lại nữa sao?"
"Tôi bảo anh
viết là anh viết, đừng có hỏi dài dòng."
"Vâng. Chào các
anh".
Dù sao thì tôi
cũng phải thận trọng trong cách trả lời với bọn chúng.
Lúc bị thẩm vấn ở Sài Gòn và tại trại tập trung Tam Hiệp
(Biên Hòa), sự hiểu biết của tôi về cộng sản nhất là
về sự gian manh dối trá của chúng, làm cho tôi giống như
"người điếc không sợ súng" nên tôi trả lời gần như một
cuộc đấu lý với bọn chúng. Nhưng khi ngồi trên phi cơ C130
bị còng tay trên đường chuyển từ trại tập trung trong Nam
ra Bắc, tôi mới khẳng định mình là tù chính trị của bọn
chúng. Vì vậy mà sự thận trọng để giữ thái độ chừng
mực, nhưng vẫn giữ được nội dung trong những câu trả
lời, để không đến mức bị chúng biệt giam.
Hai ngày sau, tên
võ trang dắt tôi đến gian nhà nhỏ trước khi đến cây cầu
bị sập mà có lần Tổ chúng tôi lên núi đốn cây làm lại.
Trên đường từ trại ra đến đường trải đá, gian nhà
này bên trái, cạnh dòng suối nhỏ. Hôm nay bốn tên nhưng
không có tên nào trong những nhóm thẩm vấn trước đây. Bọn
chúng mặc quân phục nhưng vẫn không thể biết cấp bậc
họ tên gì cả. Vào đầu có vẻ lịch sự so với những toán
trước:
"Chào anh. Mời
anh ngồi. Anh dùng chè được chứ?"
"Chào các anh.
Vâng, tôi uống trà được."
Hắn rót mời
tôi một chun: "Trông anh khỏe nhỉ!"
"Cám ơn. Tôi vẫn
khỏe."
"Gia đình anh
có khỏe không?"
"Theo thư tháng
trước thì gia đình tôi khỏe, còn tháng này thì chưa có thư".
"Anh cho chúng
tôi biết những hầm bí mật của các anh ở chỗ nào?"
"Sao lần nào các
anh cũng hỏi tôi câu này vậy?"
Bắt đầu có
chút gắt gỏng:
"Tôi hỏi là
anh trả lời. Anh không được phép hỏi lại."
"Vâng. Tôi trả
lời. Trong quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm
bí mật. Tất cả quân trang quân dụng của chúng tôi đều
tồn trữ trong các nhà kho hoàn toàn xây dựng trên mặt đất,
ngoại trừ điện trì dùng cho máy vô tuyến là tồn trữ trong
những hầm nửa nổi nửa chìm thôi."
"Ðơn giản
thế thôi à?"
"Ðúng. Chỉ có
vậy thôi".
"Trong thời
gian cách mạng giải phóng Phước Long với Darlac , các anh chở
vũ khí khí tài đem giấu ở đâu?"
"Trong thời gian
Phước Long và Ban Mê Thuột bị các anh đánh chiếm, chúng
tôi chuyển lương thực, đạn dược, với nhiên liệu lên
Plei Ku cho công cuộc phòng thủ trên Cao Nguyên. Ngoài ra chúng
tôi không giấu bất cứ thứ gì."
"Anh ngoan cố.
Trước đây anh trả lời với các đồng chí của tôi, anh
có nói chở lên Cao Nguyên giấu. Vậy, các anh giấu ở đâu?"
"Tôi không ngoan
cố. Tôi chưa bao giờ trả lời bất cứ điều gì liên quan
đến lượng hàng chúng tôi chuyên chở lên Plei Ku là đem giấu
cả. Như tôi vừa trình bày, chúng tôi đưa lên Plei Ku để
dự trữ cho lực lượng trú phòng ở đó. Mà thật ra cũng
chưa anh nào hỏi tôi câu ấy cả"
"Anh có chắc
thế không?"
"Chắc chắn."
Tên đó đứng
dậy, vào trong. Tên thứ nhì hỏi:
"Mỗi tháng
anh lãnh được bao nhiêu đô la Mỹ?"
‘Tôi không lãnh
đồng đô la nào cả."
"Anh làm Ðại
Tá không lãnh lương à?"
"Tôi có lãnh lương
chớ, nhưng tôi lãnh lương bằng đồng bạc Việt Nam chúng
tôi. Với lại tôi là sĩ quan Việt Nam, chiến đấu cho tổ
quốc Việt Nam, sao tôi lại lãnh đô la Mỹ."
"Thế tiền
viện trợ của Mỹ đi đâu?"
"Ồ! Anh muốn
biết về tiền viện trợ của Mỹ hả?
"Anh trả lời
tôi ngay".
Tôi trả lời
anh đây:
"Câu này ít ra
có một lần tôi đã trả lời với các anh khi còn ở trại
tập trung trong Nam. Trên các phương tiện truyền thông trong
nước cũng như ngoại quốc, chỉ nói đến số tiền Mỹ viện
trợ quân sự cho quân đội chúng tôi, nhưng thật sự không
một đồng đô la nào đến với quân đội chúng tôi cả,
mà tất cả ngân khoản viện trợ đó biến thành súng đạn,
xe tăng thiết giáp, phi cơ, chiến hạm, xăng dầu, máy móc
theo nhu cầu quân đội chúng tôi. Nói chung là không một đồng
đô la nào nằm trên sổ lương của bất cứ quân nhân nào
kể cả Tướng Lãnh, Thủ Tướng, hay Tổng Thống."
Im lặng một lúc:
Anh ngồi yên
đó." Nói xong cả ba tên cùng vào trong.
Có vẻ như bọn
chúng nó cho rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa lãnh lương
bằng đô la Mỹ hay sao ấy? Tôi rất muốn hỏi lại hắn:
"Bộ ngoài Bắc
các anh lãnh lương bằng đồng bạc của Nga hay của Trung Hoa
sao, nhưng từ khi khẳng định tôi là tù chính trị nên giảm
bớt cơn điếc rồi, và vì bớt điếc nên biết sợ súng
một cách chừng mực. Vì vậy mà không dám hỏi hắn. Chun
trà hắn mời lúc nãy bây giờ tôi mới uống. Trà đắng quá".
Hai tên trở ra.
Ngồi vào bàn, và tấn công ngay;
"Trong nội thành
thành phố Hồ Chí Minh, các anh chôn giấu vũ khí khí tài ở
những địa điểm nào?"
"Chúng tôi không
hề chôn giấu bất cứ quân trang quân dụng nào cả."
"Có người
khai là anh ra lệnh cất giấu nhiều nơi trong nội thành?"
"Xin các anh bảo
người khai đó đưa các anh đến tận chỗ xem. Phần tôi,
tôi xác định là chúng tôi không hề chôn giấu gì cả."
Thật ra thì chúng
tôi có dự trữ gạo, lương khô, mì gói, nhiên liệu, đạn
dược ở các khu Hạnh Thông Tây, Hóc Môn, Khánh Hội, Cầu
Chữ Y, Phú Lâm, khu vực Cục Công Binh bao gồm Quân Tiếp Vụ,
và Bộ Tổng Tham Mưu, cho lực lượng phòng thủ Sài Gòn khoảng
20.000 quân dự trù đủ để đánh nhau trong 30 ngày. Cái lợi
thế của ngành Tiếp Vận chúng tôi là những khu đó có sẵn
kho tồn trữ chớ không phải thiết lập các kho mới, nên
bọn chúng có trưng dẫn các kho đó ra cũng không đủ chứng
minh là tôi ngoan cố. Nhưng tôi không khai, vì nghĩ rằng khi
tôi khai thì bọn chúng sẽ tiếp tục vặn vẹo tôi nữa.
Tên thứ ba trở
ra, và hỏi ngay:
"Cấp chức
của anh là gì?"
"Tôi là Ðại
Tá, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận".
"Trong quân ngụy,
Tham Mưu Trưởng có nghĩa là gì?"
"Theo tổ chức
trong quân đội chúng tôi, bên trên là bộ tư lệnh hay bộ
chỉ huy tùy theo cấp bộ của cơ quan hay đơn vị, bên dưới
là bộ tham mưu và sĩ quan trách nhiệm điều hành bộ tham
mưu là Tham Mưu Trưởng".
"Với cấp chức
của anh, tại sao anh không biết những địa điểm chôn giấu?"
"Tại vì quân
đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật để chôn
giấu gì cả, và vì không chôn giấu nên tôi trả lời các
anh là không có".
Lại hưu chiến
lần nữa, cả ba tên bước ra sân thì thầm gì đó. Khi ngồi
vào bàn, bỗng dưng bọn chúng nhẹ giọng:
" Bây giờ cũng
muộn rồi. Bộ đội đưa anh vào trại. Chúng tôi sẽ gọi
anh sau".
"Vâng. Chào các
anh".
Lần này thì chúng
không bảo tôi viết lại những gì khai báo như những lần
trước. Tưởng là được nghỉ khỏe. Nhưng không, chiều tối
hôm ấy tên quản giáo đưa tôi xấp giấy bảo vẽ lại tổ
chức bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận.
Sau đó, cứ một
vài hôm là tôi bị gọi một lần. Có khi suốt cả tuần,
cũng có tuần ba bốn ngày. Bọn họ dường như là hai toán
khác nhau, nhưng cũng có thể tất cả họ chỉ là trong một
tổ chức. Họ hỏi đi hỏi lại nhiều lần, có lẽ để xem
những câu trả lời của tôi trước sau có khác nhau không.
Bọn họ thẩm vấn tôi từ khi còn ở nhà cho đến khi vào
trại tập trung trong Nam rồi chuyển ra ngoài Bắc này, đến
lúc ấy cộng chung là 48 ngày, kể cả những ngày viết lại
những gì đã khai. Ðiểm lại những câu hỏi về Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, về viện
trợ, về chuyển vận, tồn trữ, sửa chữa quân dụng, về
hoạt động của ngành Mãi Dịch, cách thức đấu thầu mua
hàng, nhưng hầu như toán nào cũng trở lại hai câu hỏi:
- Tại sao các
anh thua nhanh như vậy?
- Những hầm bí
mật chôn giấu vũ khí ở đâu?
- Và Trung Tướng
Khuyên còn ở lại Sài Gòn không?"
Sau lần thẩm
vấn cuối cùng, tôi theo Tổ đào hốc trồng bí rợ. Cũng
như năm trước, ngay ngày đầu năm âm lịch là trồng khoai
mì, tiếp đó là trồng bí rợ. Phân bón cho bí rợ là "phân
xanh" và "phân chuồng". Tôi với anh Nguyễn Thế Lưỡng (Ðại
Tá Thủy Quân Lục Chiến) cùng một khiêng. Chúng tôi cùng
bốn cặp khiêng nữa, lang thang theo sau bầy bò trên đường
đá lên hướng Liên Trại, gặp một toán cộng sản có lẽ
là sĩ quan. Một tên trong số đó ra dấu chận chúng tôi lại:
"Trông các anh
tiến bộ nhiều so với năm mới đến đây. Xã hội chủ nghĩa
là không phung phí bất cứ thứ gì làm ra của cải cho xã
hội, trước mắt là cho chính các anh. Tích cực thêm nữa
nhé!"
Nói xong là hắn
cười một cách kiêu hãnh, như vừa ra cái điều "giáo dục
tù chính trị" chúng tôi ấy. Tôi nói với anh Lưỡng:
"Mình đi khiêng
cứt bò là làm theo lệnh của chúng nó, chớ ở đó mà tiến
bộ hay không tiến bộ. Chúng nó tưởng nói như vậy là mình
khiêng nhiều hơn à!
(Tiếp theo
Chương bảy)
|