|
- bảy/3
-
Giai đoạn 1982-1987.
Tết Nguyên Ðán đầu năm 1982 là
Tết thứ tư tại trại Nam Hà này. Từ cái bánh chưn kha khá,
nhỏ dần xuống, rồi đến nhỏ xíu, và cái Tết năm nay cái
bánh chưn biến mất, thay vào đó là chén cơm nếp với 5 điếu
thuốc lá đen. Nếu như không được gia đình tiếp tế thì
tù chính trị chúng tôi sẽ là "những bộ xương cách trí"
như tù hình sự thôi. Dưới chế độ cộng sản, từ quận/huyện
tỉnh/ thành phố, đặc khu, biệt khu, đều có nhà tù, cộng
thêm hằng loạt nhà tù trực thuộc trung ương nữa. Bởi dưới
chế độ này, mọi người dân đều có tội với nhà nước
vì mỗi người không tội này cũng là tội khác, ngay cả ý
kiến khác với nhà nước đã là có tội rồi. Vì vậy mà
nhà tù trên toàn cõi Việt Nam nhiều vô kể.
Tình hình kinh tế xã hội chủ nghĩa
của họ suy sụp dần. Ðầu năm 1979, họ bắt đầu cho gia
đình đến thăm và mang theo lương thực thực phẩm nuôi tù
chính trị. Nhờ vậy mà tình trạng sức khỏe của anh em tù
chính trị chúng tôi, nhìn chung là tốt, và "cái tốt" này
lại là điều để họ khoe với các phái đoàn ngoại quốc
đến thăm, chứng tỏ cho thế giới bên ngoài thấy là "chính
sách nhân đạo" của họ chèm lo đời sống tù chính trị
không có điều gì chỉ trích cả. Cái bản chất gian trá của
họ dễ dàng nhận thấy trong các trại tập trung.
Có lẽ do đời sống ngày càng suy
kém của người dân nói chung, và của đám Công An "cai tù"
nơi đây nói riêng, mà gần đây anh em chúng tôi mua chuộc
được đám Công An trực trại -ngoại trừ tên "Thịnh khuỳnh"
và tên "Thắng chuột" an ninh- với đám quản giáo và võ trang,
dần dần chúng tôi có phần dễ thở. Ðiển hình như trường
hợp Ðội chúng tôi, cứ mỗi sáng khi đến chỗ lao động,
tôi cho tên quản giáo và tên võ trang 20 điếu thuốc quấn
với bình trà, thế là chúng nó ngồi trong lều chớ không
đi tới đi lui kiểm soát chúng tôi làm. Sở dĩ tôi cho nó
thuốc hút với trà uống, vì nó đồng ý với tôi là khi giao
"chỉ tiêu" cho chúng tôi thì chúng nó không kiểm soát trong
lúc chúng tôi làm, chúng nó chỉ kiểm soát trước giờ về
thôi. Thật ra chúng nó có bao giờ kiểm soát tất cả đâu.
Thí dụ như giao chúng tôi mỗi người mỗi ngày đào và trồng
5 hốc bí rợ trong khu rừng chồi chen lẫn đá tảng, đâu
làm sao chúng nó đếm từng cái một để biết chắc là chúng
tôi làm đúng hay không đúng chỉ tiêu.
Ngày Ba Mươi và Mồng Một Tết,
không một tên Công An nào vào trong trại. Thấy yên tịnh,
bắt đầu có vài cuộc họp mặt đồng hương, ăn bánh mứt
uống trà và nói với nhau cả chuyện xưa lẫn chuyện nay.
Thấy được, anh em chúng tôi họp mặt nhau trong cùng binh chủng
hay cùng đơn vị, hoặc họp bạn đồng khóa. Ðông cũng được
vài chục bạn, ít cũng năm bảy người. Tất nhiên là phải
chọn cái góc nào đó trong trại tương đối kín đáo, hoặc
nơi nào dễ trông thấy chúng nó vào trại để kịp giải
tán. Hơn 20 anh em cùng khóa 5 Thủ Ðức chúng tôi cũng ngồi
lại với nhau ở sát góc buồng giam số 2. Mỗi anh mang theo
vật dụng đựng nước uống, nếu anh nào có bánh mứt thì
mang đến, ngoài ra còn mang theo cái gì đó để làm ghế ngồi.
Anh Văn Công Báu (Trung Tá Lực Lượng Ðặc Biệt) nấu cho
một thùng nước trà. Anh Khoa (Trung Tá Cảnh Sát) nhiều tuổi
nhất, được anh em bầu làm "chủ tọa". Anh Khoa có vài lời:
"Tôi thành thật cám ơn các bạn.
Trong chiến tranh, chúng ta gặp nhau trên khắp nẻo đường,
bây giờ thua trận, chúng ta gặp nhau trong trại tập trung,
đây là điều đáng quí của chúng mình. Mong rằng, buổi họp
mặt đơn giản nhưng có phần ấm áp hôm nay, sẽ giữ mãi
cho chúng ta một gạch nối tình cảm cho tương lai, dù chúng
ta chưa biết tương lai sẽ ra sao. Xin mời các anh cùng nâng
chén trà gọi là cùng nhau chúc mừng năm mới".
Thế là tất cả anh em gần như
nói cùng lúc: "Chúc Mừng Năm Mới", như vừa chúc cho bạn,
cũng vừa chúc cho chính mình.
Tôi đưa ý kiến:
"Bây giờ chúng ta thử bàn đến
lời của ông Phạm Văn Ðồng -Thủ Tướng cộng sản- đã
nói chúng ta là thành phần ác ôn không thể tha thứ, đồng
thời với sự kiện gần đây có dư luận cho rằng Hoa Kỳ
sẽ "bốc" chúng ta sang Mỹ. Tôi nghĩ là chúng ta khó có đủ
yếu tố khả dĩ dẫn đến kết luận, nhưng biết đâu trong
lúc bàn luận lại có những điều mới có thể giúp chúng
mình cập nhật những hiểu biết liên quan....."
Nói đến đây thì anh Bùi Quang Hiền
đứng ở hành lang ngay lối vào buồng 2 này, anh ngoắc tôi:
"Anh và mấy anh cẩn thận. Tụi
nó đứng ngoài cổng trại đông lắm, có thằng Thịnh khuỳnh
nữa".
Tôi bước nhanh đến đầu hành
lang nhìn ra ngoài cổng. Ðúng là tụi nó khá đông. Chạy vội
vào trong:
"Các bạn ơi! Không xong rồi, chúng
ta nên giải tán thì hơn, chúng nó vào trông thấy là phiền
phức lắm".
Anh Khoa: "Giải tán anh em ơi! Một
lần nữa, tôi cám ơn và chúc các anh sức khỏe và giữ vững
nghị lực. Chúng ta sang bên Văn Hóa đi".
Anh em chúng tôi tay xách ghế xách
lon theo hành lang ra sân trại để sang bên Văn Hóa. Anh Khoa
đi sau cùng. Lúc anh vừa ra khỏi hành lang để sang Tổ Văn
Hóa bên kia sân trại, thì Thịnh khuỳnh vào cổng với một
toán Công An sau lưng. Hắn chận anh Khoa lại:
"Các anh họp hành gì đó?"
"Báo cáo cán bộ, không ạ! Vài
anh em chúng tôi ngồi ăn bánh uống trà cho vui thôi cán bộ.
Bây giờ sang Văn Hóa xem chung kết cờ tướng".
Hắn nhìn một lúc:
"May cho các anh đó. Bộ các anh
tưởng chúng tôi không biết các anh làm gì à!"
Anh Khoa lẳng lặng băng qua sân trại
về hướng phòng văn hóa.
Chẳng bao lâu sau đó, anh Khoa bị
tai biến mạch máu não và chết ngay. Anh Khoa bị cao huyết
áp. Vì là mùa đông, anh nấu nước nóng pha nước lạnh cho
ấm để tắm. Nước ấm hết trong khi cơ thể chưa sạch xà
bông, anh dùng lon nước lạnh xối lên đầu, thế là ngã quỵ
trên nền xi măng. Và chết ngay sau đó.
Vợ tôi đến thăm.
Tuần kế tiếp, vẫn "còn" thoang
thoảng hương vị ngày Tết Nguyên Ðán. Trong khi lao động
buổi sáng, tôi mua được nửa kí lô thịt heo nạc và khi
cơm xong tôi bắt đầu kho tiêu. Lúc ấy kẻng báo thức buổi
chiều vang vang, tôi vội nếm xem mặn lạt ra sao để dẹp
vào và chuẩn bị lao động. Nguyễn Tài Lâm gọi tôi:
"Hoa ơi! Cán bộ gọi thăm nuôi kìa".
"Thiệt hông Lâm?"
"Cán bộ Trọng chờ anh kìa". Trọng
trong toán trực trại.
Anh Ngô Văn Huế: "Anh vô chuẩn bị
đi, để nồi thịt tôi kho cho".
Tôi ra đến đầu hành lang gặp
ngay Trọng "cụ non". Công An ở đây gọi hắn là "Trọng cụ
non" vì lúc nào trông hắn cũng giống như "ông cụ non" vậy.
"Anh chuẩn bị ra gặp gia đình".
"Ai thăm tôi vậy cán bộ?"
"Tôi không rõ. Cán bộ Thúy nhờ
tôi gọi anh đấy".
"Cám ơn cán bộ".
Tôi nghĩ mãi nhưng vẫn không đoán
được là ai đến thăm. Vì mùa đông giá rét này chắc chắn
không phải là Ba tôi, còn vợ tôi đang bận lo cho mấy đứa
em vượt biển chưa xong. Ngoài Ba tôi với vợ tôi, tôi nghĩ
không có ai đến thăm tôi hết. Có thể là vợ tôi nhờ chị
bạn nào đó nhân đến thăm gia đình, thăm tôi luôn.
Quanh năm mặc quần áo tù, lâu lâu
được mặc quần tây sơ mi vào, cảm thấy gọn và khỏe.
Với cái áo sơ mi ngắn tay màu vàng và cái quần tây màu nâu
mà vợ tôi mua cho trong chuyến thăm tôi hồi giữa năm 1980,
đôi giày thể thao do Mỹ sản xuất mà anh Trịnh Xuân Nghiêm
(Sư Ðoàn Nhẩy Dù) nhượng lại tôi vì chân anh đi không vừa.
Trước khi ra khỏi phòng, anh Ðặng Văn Hậu bảo tôi xoay qua
xoay lại:
"Ê! Trông còn phong độ lắm nghe".
"Thiệt hông đó?"
"Tớ nói thiệt mà".
Ra đến nhà trực trại, thấy nụ
cười của tên Thịnh khuỳnh là phát ghét rồi. Hắn hỏi:
"Ai thăm anh mà diện thế?"
"Báo cáo cán bộ, tôi không biết".
Công An Thúy, phụ trách hướng dẫn
thăm nuôi, cười cười và nói nho nhỏ:
"Ðã biết mà còn hỏi. Khéo vớ
vẩn".
Tên Thịnh khuỳnh hỏi tôi: "Nào,
có thư từ gì bỏ ra ngay".
"Không có gì cả cán bộ".
"Chắc không. Tôi kiểm tra có
thì anh tính sao?"
"Chắc chắn mà cán bộ. Cán bộ
cứ kiểm soát tôi đi, nếu có gì vi phạm nội qui tôi chịu
kỷ luật". Họ dùng chữ "kiểm tra" tôi thì dùng chữ "kiểm
soát".
Hắn chưa buông tha: "Trong giày
có gì không?"
"Chỉ có vớ không thôi, cán bộ".
"Anh đùa đấy à?"
"Tôi nói thật mà cán bộ"
Có lẽ hắn tin, nhưng còn ráng thêm
một câu nghe như ân huệ:
"Ðược rồi. Ðội Trưởng tôi
không kiểm tra".
"Cán bộ nói vậy chớ thật ra cán
bộ kiểm soát tôi rồi".
Nói xong là tôi đi ngay. Trong thời
gian gần đây, không còn cái "xe cải tiến" nào dành riêng
cho thăm nuôi vì chẳng ai tu bổ nên hư hỏng hết trơn. Cứ
mỗi lần cần xe cải tiến cho thăm nuôi, phải xuống tổ
nhà bếp mượn. Nhà bếp có ba chiếc nhưng chỉ còn một chiếc
dùng được. Tuy ọp ẹp nhưng nhờ cái lạnh của mùa đông
nên đỡ mệt khi kéo lên dốc. Lên đến đầu dốc, con bé
Thúy mới nói:
"Vợ anh thăm anh đấy".
"Vâng. Cám ơn cán bộ".
Tôi chửi thầm; "Con quỷ cái" này
chắc không vừa với cái miệng quai xách của nó. Nó cầm
đơn thăm nuôi trong tay, vậy mà lúc nãy tôi hỏi nó làm thinh.
Dễ giận!
Ðến nhà thăm nuôi, vừa để cái
xe bên ngoài là vợ tôi bước nhanh ra:
"Anh".
"Em đến lúc nào vậy? Em đi đường
có mệt lắm không?"
"Em đến cách đây khoảng 3 tiếng
đồng hồ. Em khá quen rồi nên không cảm thấy mệt như mấy
lần trước, nhất là lần đầu thăm Anh".
"Trời lạnh quá sao Em dám đi. Còn
mấy cậu nó đi được chưa?"
"Tụi nó đến Thái Lan hết rồi
Anh. Nhưng chuyến đi gian khổ lắm Vì mưa bão, thức ăn nước
uống đều liệng xuống biển cho tàu nhẹ bớt. Cuối cùng
thì tàu cũng đến nơi bình yên nhưng rất nhiều người chết
vì đói khát, trong số đó có hai đứa con của vợ chồng
thằng Bảy (Triệu Văn Trí)".
"Vậy cũng là may lắm rồi. Em còn
áo lạnh nữa không, nên mặc thêm vào chớ như vầy Em dễ
bị cảm lạnh lắm".
"Không sao. Ðủ rồi Anh. Ðể Em
lấy hình của các con cho Anh xem. Em để ở phòng nhỏ bên
kia".
Tôi quay sang con bé Thúy:
"Báo cáo cán bộ, cho tôi sang phòng
bên soạn quà giúp vợ tôi?"
Nó làm thinh một lúc mới mở miệng:
"Ðược. Chỉ một lúc thôi nhé!"
Tôi bước nhanh theo vợ tôi và hôn
vợ tôi thật nhiều, vì phòng nhỏ bên này không có người
nào cả. Ðây cũng là những nụ hôn đầu tiên sau gần 7 năm
xa cách à Ngần ấy, chỉ ngần ấy thôi, nhưng chứa đựng
biết bao nồng thắm ngọt ngào bên trong những nụ hôn vội
vàng à.
Vợ Chồng tôi cùng mang quà sang
phòng bên, nếu vắng lâu thể nào Thúy "quai xách" cũng hỏi
han tra xét.
Từ đầu năm 1981, theo lệnh của
Bộ Công An, Ban Giám Thị trại cho phép tù chính trị được
thăm gặp vợ 24 tiếng đồng hồ. Giấy tờ thì như vậy,
nhưng nếu không sòng phẳng với "cái giá phải trả" cho tên
Vũ Quốc (tên của hắn là vậy), phụ trách giáo dục trại
Nam Hà A này thì đừng hòng, vì hắn cho ý kiến vào đơn xin
trước khi đến tên trại trưởng quyết định. Ðến lúc
bấy giờ, "cái giá phải trả" là 200 đồng cho mỗi lần thăm
gặp 24 tiếng đồng hồ. Ngoài ra còn phải sòng phẳng với
toán Công An phụ trách nhà thăm nuôi nữa, nhưng cái giá ở
đây nhẹ nhàng thôi, chỉ cà phê thuốc hút loại đầu lọc
coi như "sòng phẳng".
Ngay chiều hôm ấy, tôi được trở
ra nhà thăm nuôi đến chiều hôm sau mới hết hạn. Chúng tôi
xem hình các con chúng tôi cao lớn cả rồi. Cùng thuê "chung
cư" tại Houston sau thời gian được Cô Dượng Chú Thím chúng
nó giúp đỡ. Vừa đi học vừa đi làm, dĩ nhiên là nhiều
khó khăn lắm, nhưng các con chúng tôi chấp nhận vượt qua.
Trong thư, các con chúng tôi nói rằng, những khó khăn trên
đất Hoa Kỳ không có nghĩa gì so với những gian khổ trên
quê hương Việt Nam cộng sản! Các con chúng tôi hứa sẽ thành
công trên đất Mỹ.
Có thời gian dài, vợ tôi kể cho
nghe biết bao chuyện buồn vui lẫn lộn. Chuyện trong thân quyến
chẳng bao nhiêu, nhưng chuyện mà đám Công An Phường với
Công An Quận, đối xử với gia đình chúng tôi mà họ gọi
là "ngụy quân ngụy quyền" thật là khiếp đảm!
- Chính sách lừa dối để đẩy
hằng trăm ngàn quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ
vào các trại tập trung mà họ gọi là "học tập cải tạo".
(Năm 2004, khi xem tạp chí Dân Vận của đảng bộ Việt Quốc
tại Ðức, tôi đọc được những con số sau đây: Theo tài
liệu của Sở Công An Sài Gòn mà họ gắn cái tên ông Hồ
vào đó, đến cuối tháng 7 năm 1975, cộng sản đã đẩy 154.772
người vào các trại tập trung. Ðến cuối tháng 10 năm 1975,
Cảnh Sát Công An bắt thêm 68.037 người nữa. Cộng chung đến
ngày 30 tháng 10 năm 1975, tổng số cựu quân nhân viên chức
Việt Nam Cộng Hòa cũ, bị họ giam giữ trong khoảng 200 trại
tập trung trên toàn cõi Việt Nam là 222.809 người. Trong số
khoảng 200 trại này, chỉ riêng Ðoàn 776 của họ, đã quản
trị đến 82 trại trong tổ chức của 6 Liên Trại trong vùng
rừng núi từ Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn, ngược lên thượng
nguồn Sông Hồng đến tận biên giới Việt Nam - Trung Hoa)
- Ngày 20 tháng 8 năm 1975, Bộ Văn
Hóa Thông Tin cộng sản Việt Nam, ra lệnh thiêu hủy tất cả
văn hóa phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa vì họ cho là loại
phản động và đồi trụy. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt
giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra
"tòa án nhân dân". Chính sách này trong một mức độ nào đó,
tương tự như chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung
Hoa phong kiến, và của Mao Trạch Ðông thời Trung Hoa cộng
sản.
- Ngày 18 tháng 9 năm 1975, lãnh đạo
cộng sản Việt Nam bất thình lình thực hiện chính sách đổi
tiền. Họ không giới hạn số tiền mang đến đổi, nhưng
chỉ được nhận lại tối đa là 200 đồng mới, mà họ qui
định 1 đồng bạc mới bằng 500 đồng bạc cũ (1 mới = 500
cũ). Số tiền còn lại, mỗi khi gia đình có nhu cầu phải
làm đơn xin và phải được Phường/Xã chứng nhận mới được
cứu xét. Còn cứu xét như thế nào thì tùy họ khi vui lúc
buồn.
- Ngày 10 tháng 11 năm 1975, chính
sách triệt hạ kinh doanh thương mãi tự do, ép mọi chủ nhân
mà họ gọi là "vận động" hiến tặng cho nhà cầm quyền
toàn bộ cơ sở kinh doanh thương mãi, kể cả nhà ở, rồi
chuyển đến các khu hoang vắng mà họ gọi là "khu kinh tế
mới" tự mưu sinh. Trường hợp không chấp hành sự vận động
của họ, thì bị bắt vào trại tập trung, còn tài sản bị
họ tịch thu. Có nghĩa là, cho dù bằng cách nào đi nữa thì
tài sản cũng vào tay nhà nước cộng sản, chỉ khác ở chỗ
là những chủ nhân có bị vào trại tập nhỏ -tức nhà tù-
hay vẫn trong trại tập trung lớn -tức xã hội- thế thôi.
- Ðến chính sách cải tạo văn
nghệ sĩ. Tờ L' humanité của đảng cộng sản Pháp, số ra
ngày 21 tháng 3 năm 1976 tại Paris, có đăng tải danh sách 321
văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa, đã bị nhà cầm quyền
cộng sản Việt Nam bắt vào trại tập trung cải tạo từ
ngày 13 tháng 6 năm 1976.
- Tháng 6 năm 1977, lại một chính
sách khác ra đời. Ðó là chính sách buộc tất cả nông dân
có ruộng mà họ gọi là "vận động", đem tập trung vào Hợp
Tác Xã. Nông dân vẫn canh tác nhưng sản phẩm do Hợp Tác
Xã quản trị, còn nông dân tùy theo lao động của mình bỏ
ra mà nhận lại đồng lương bằng sản phẩm do Hợp Tác Xã
quyết định. Và họ quản trị lao động công việc đồng
áng chẳng khác những trại lính.
Người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ
tại Sài Gòn, có câu nói truyền cho nhau nghe thật là cay đắng:
"Hòa bình, bắt đầu sum họp, cũng là lúc chia ly!"
Những bạn đồng đội từ các đơn vị xa xôi về quê sum
họp với gia đình, nhưng rồi lại chia ly không ngày trở lại!
Câu này cũng có thể hiểu "bọn cộng sản sum họp, người
tự do chia ly! Cũng có câu: "Nếu cái cột đèn mà đi được
thì nó cũng vượt biển rồi".
Ðến chuyện con thứ tư của chúng
tôi là Phạm Bá Hùng vượt biển từ bờ biển Long Phú, tỉnh
Sóc Trăng, hồi giữa năm 1980. Bị quân cộng sản phác giác
truy lùng, nhiều người lớn cùng với con tôi và các bạn
nó bị bắt. Nhà giam chật quá, với lại có lẽ chúng nó
thấy con tôi còn nhỏ (mới 14 tuổi), chúng nó bảo con tôi
xuống nhà bếp phụ việc lặt vặt. Mấy ngày sau chúng nó
thả về. Lúc ấy con tôi trần trụi vì lúc chạy "bán sống
bán chết", cái áo bị các nhánh cây "giữ làm kỷ niệm" lúc
nào chẳng hay. Có một gia đình gần đó, thấy vậy mới cho
con tôi một cái áo, mà là "cái áo con gái" vì nhà bà không
có con trai. Khi con tôi về đến nhà Ba Má tôi ở Nha Mân, Ba
Má tôi và vợ tôi trông thấy, vừa cười vừa khóc! Khóc
vì thấy nó nhỏ quá mà bị tù, còn cười vì cái áo con gái
trên người nó. Khi còn sống, mỗi khi Ba Má tôi nhắc lại
chuyện ấy là Ông Bà cười thật tươi. Hiện giờ (năm 2007)
con trai tôi đã vào tuổi 41, có vợ 2 con, và có cơ sở làm
ăn ở tiểu bang khác. Chúng tôi xin mượn những dòng chữ
này để gởi lời nhắn:
"Nếu như gia đình ân nhân của
con tôi 27 năm về trước có xem hay nghe được, xin vui lòng
cho chúng tôi biết qua địa chỉ e-mail <hoabapham@hotmail.com>
để vợ chồng tôi có dịp cám ơn cho tròn đạo nghĩa. Cái
áo không là bao, nhưng điều nghĩa ân mới là đáng quí".
Trở lại chuyện thăm nuôi. Những
tù chính trị chúng tôi khi được phép gặp gia đình 24 tiếng
đồng hồ, chỉ được đi khỏi nhà thăm nuôi cho đến cái
cầu vệ sinh thôi, ngoài khoảng cách đó ra đều bị cấm.
Buổi chiều, có vẻ như thời gian
qua nhanh quá! Trong khi tôi đang xếp áo quần của vợ tôi mà
chúng tôi giặt ban trưa, tiếng con Thúy ong ỏng:
"Khẩn trương lên chứ. Làm gì
mà lề mề thế!
Hôn vợ tôi xong là tôi ra cửa,
vợ tôi vừa đi vừa nói:
"Khoảng tháng 5 Em ra thăm Anh. Các
con với mấy đứa em đi xong, Em có thì giờ thăm Anh thường
hơn".
Con Thúy chen vào ngay: "Thăm gì mà
thăm liền thế?"
"Xin lỗi cán bộ có gia đình chưa?"
"Anh định nói gì thế? Ðã có
thì sao?"
"Vậy mà tôi tưởng cán bộ chưa
có gia đình".
"Tại sao anh tưởng thế?"
"Ðã có gia đình thì cán bộ phải
thông cảm tình vợ chồng, nhưng sao cán bộ có ý chỉ trích".
"Tình cảm vợ chồng ai mà chẳng
biết, nhưng còn công tác nữa chứ ".
"Chẳng lẽ cán bộ cho là chúng
tôi trong Nam chỉ biết có gia đình không thôi sao. Nếu vậy
mà phải hơn 20 năm, quân đội nhân dân mới vào được Sài
Gòn sao cán bộ".
Cô ta trừng mắt: "Anh định nói
gì đấy? Ði vô".
Nhân lúc xuống dốc, tôi phụ đẩy
xe quà của anh bạn để khỏi phải lôi thôi với con nhỏ
có cái miệng quai xách này. Cô ta có biệt danh "Thúy tây" do
đám quản giáo với đám vờ trang đặt cho cô ta, Vì xem ra
cô ta có phần trắng trẻo và sạch sẽ hơn những Công An
"tóc dài" khác trong trại này. Con bé này "chưa nhận hối lộ"
từ khi phụ trách hướng dẫn thăm nuôi thay con bé Kim. Hơn
hai tháng trước, "Thúy tây" rình chụp được một vụ. Hôm
ấy anh Vũ Văn Dần (Ðại Tá Cảnh Sát) được gia đình đến
thăm và được ở lại 24 tiếng. Có mấy anh kéo xe cát về
ngang nhà thăm nuôi, ngừng trước cửa, chắc là do anh Dần
bảo nên chị Dần bước vội ra và dúi nắm tiền vào đống
cát trên xe cải tiến, "Thúy tây" đứng sau khung cửa sổ trông
thấy nhưng không nói gì hết. Khi các bạn kéo xe cải tiến
đi, cô ta nó lớn:
"Các anh không được đi. Ðứng
đấy chờ tôi".
Thế là "Thúy tây" bảo mấy anh
đang thăm nuôi ra về cùng với xe cải tiến chở cát. Ðến
nhà trực trại, Công An "tóc dài" yêu cầu trực trại kiểm
soát xe cát. Công An "tóc ngắn" là Trọng "cụ non" kiểm soát
không thấy gì, cho xe cát đi. Con Thúy bắt đứng lại, nó
bảo mấy anh kéo xe cát phải xúc ra từng xẻng một cho nó
kiểm soát. Cuối cùng, 500 đồng bạc phơi mình trên đống
cát, thế là "Thúy tây" lập biên bản. Ngay sau đó, con bé
này ra nhà thăm nuôi bắt anh Dần viết kiểm điểm và buộc
chị Dần phải hứa 6 tháng sau mới ra thăm nuôi.
Thế nhưng chỉ hung hăng con bọ
xít được vài tháng là quỵ ngã trước sức cám dỗ của
quà cáp tiền bạc, con bé miệng quai xách này nhận hối lộ
chẳng kém tên Công An cai tù nào cả. Nó mang cả tiền và
thư vào trong trại trao tận tay cho tù chính trị chúng tôi,
nhưng nó ăn 15% lận.
Trở lại trường hợp anh Khoa chết.
Trước khi ra về, tôi đưa vợ tôi địa chỉ nhà anh Khoa ở
Sài Gòn để vợ tôi đến cho chị Bạch Vân -vợ anh Khoa-
biết trường hợp anh Khoa chết. Chỉ tuần sau đó là chị
Khoa với cô con gái khoảng 20 tuổi đến trại. Chị Khoa xin
cho tôi ra gặp chị. Không có đơn của của vợ tôi nhờ thăm,
có lẽ chị Khoa "hối lộ" cho chúng nó nên tôi được ra nhà
thăm nuôi. Trông chị Bạch Vân buồn lắm, nhưng chị cố gắng
nói chuyện với tôi:
"Anh biết hông. Lúc chị (Hoa) đến
nhà nói với tôi là anh Khoa chết, tôi đâu có tin. Tôi cứ
hỏi tới hỏi lui xem chị có nghe lầm không, nhưng chị quả
quyết là anh chứng kiến anh Khoa chết thật. Tôi chỉ mới
nửa tin nửa ngờ chớ chưa tin hẳn, vì tôi đâu được trại
báo tin tức gì trong khi tôi chờ tin anh Khoa về nhà. Ðến
đây, tôi mới biết đó là sự thật".
Chị nín lặng khá lâu. Không khóc!
Có lẽ chị đã khóc nhiều rồi! Sau cái dụi mắt mà tôi
nghĩ là chị lau khóe mắt ươn ướt. Chị trở lại bình tĩnh:
"Tôi nói anh nghe. Anh Khoa chết, coi
như tôi thua canh bạc quá lớn anh à!"
Ðến đây thì chị bật khóc thành
tiếng! Con gái chị ngồi cạnh cũng khóc theo! Lúc ấy tôi
chưa hiểu rõ câu nói của chị, cho đến tối tôi mới nghĩ:
"Có lẽ chị Khoa lo tiền lo vàng gì đó để anh Khoa về, và
cũng có lẽ đã đưa tiền đưa vàng cho họ rồi và đang chờ
ngày anh Khoa về thì phải".
Một lúc sau, chị lại nói và nói
thật lớn như để các anh chị đang có mặt trong nhà thăm
nuôi cùng nghe:
"Mấy anh có biết là ông Văn Vĩ
đã lái xe Honda chạy vòng vòng Sài Gòn được rồi hông?"
Hầu như anh em tù chính trị đang
thăm gặp gia đình đều ngạc nhiên quá sức. Tôi cũng vậy.
Lúc ấy chị Khoa nháy mắt với tôi, thế là tôi hiểu. Và
tôi hiểu như thế này. Ông Văn Vĩ là nhạc sĩ cổ nhạc rất
nổi tiếng. Bất cứ ai mà thích nghe cổ nhạc, có thể nói
là đều nghe đến tên ông và biết qua ngón đàn tuyệt diệu
của ông. Nhưng ông không thấy đường. Nói rõ hơn là ông
Văn Vĩ bị mù. Thế nhưng vừa rồi ai cũng nghe chị Khoa nói
là lái xe Honda hai bánh được rồi. Nghĩa bóng của câu ấy
được hiểu là người dân Sài Gòn bây giờ sáng mắt ra rồi,
tức là hiểu được cộng sản rồi, không còn mù lòa về
cái chủ nghĩa "cộng sản ưu việt" nữa. Tôi nói nho nhỏ:
"Câu nói của chị thật rõ nghĩa.
Câu nói công khai như vậy nhưng qua mặt chúng nó dễ dàng
vì chúng nó có biết gì đâu. Chị đã mang đến cho anh em
chúng tôi một nhận thức chính trị của người dân Việt
Nam Cộng Hòa cũ. Cám ơn chị".
Nỗi khổ của dân quê.
Mùa đông năm 1982, trại tổ chức
lại các Ðội tù chính trị chúng tôi, sau khi các bạn từ
trại Vĩnh Quang và Tân Lập (tỉnh Vĩnh Phú) chuyển đến đây,
và một số đã chuyến về các trại trong Nam. Lần tổ chức
này không còn các Ðội cấp Ðại Tá riêng biệt nữa, nghĩa
là Ðội hỗn hợp. Tôi vào Ðội 5 và dọn sang buồng giam
số 4, với trách nhiệm Ðội Trưởng. Trong Ðội 5 có 6 bạn
trẻ mà trước đây thuộc Ðội 20, bị bắt trong năm 1976
Vì tham gia tổ chức Phục Quốc do Công An cộng sản trá hình
tổ chức. Ðội này lúc ở buồng giam số 8 có lúc công khai
chống đối đám Công An, nên bị chúng nó chuyển ra biệt
giam tại trại Mễ ở Phủ Lý. Khi trở về trại, sức khỏe
của các bạn quá kém vì bị chúng nó hành hạ và phần ăn
bị cắt giảm mà vốn dĩ đã không đủ no! Ðến mức bạn
Ðặng Hữu Nam, trước đó là Ðội Trưởng Ðội 20, không
thể tự mình từ cổng trại vào buồng giam được, phải
nhờ một bạn cõng vào!
Ðội 5 chúng tôi vào thung lũng khai
phá trồng bí rợ và khoai mì. Thung lũng có nhiều cỏ tranh
nên đám Công An quản giáo với võ trang gọi là "thung gianh",
trong khi chúng tôi gọi tắt là "thung". Cách trại khoảng 4
cây số mỗi lượt đi về, nên chúng tôi làm "thông tầm",
đi từ sáng đến chiếu mới về. Thung, toàn đá tảng, trải
dài hai bên triền núi cao, lác đác có đất trống từng mảng
nhỏ, cỏ tranh cao khỏi đầu. Công việc của chúng tôi là
tìm những phần đất cỏ tranh để dọn sạch đào hốc trồng
bí rợ và cuốc những khoảnh đất trống trồng khoai mì.
Khởi đầu còn có Ðội 6 với Ðội 7 cùng vào thung lũng này,
nhưng vài tháng sau chúng nó chuyển hai Ðội bạn lao động
khu vực khác.
Mỗi sáng chúng tôi lãnh phần gạo
ăn trưa. Từ vài tháng nay chúng tôi được ăn gạo tuy là
gạo đầy trấu và sạn. Nhớ lại những năm ăn 100% bo bo,
khoai tây, khoai mì khô, hay bột mì luộc mà hãi hùng! Ngoài
phần gạo, có thêm nắm rau. Chỉ thế thôi. Những anh có gia
đình đến thăm nuôi hoặc có gởi tiếp tế, thì có chút
gì đó giúp cho bữa ăn trưa thêm đậm đà.
Thung lũng này rất rộng. Khi chúng
tôi vào đây thì nhiều gia đình nông dân đang dở chòi và
đào khoai mì mà họ gọi là thu hoạch để tìm vùng đất
khác trồng trọt. Hỏi ra mới biết, nhiều gia đình nông dân
từ Phủ Lý vào đây khai thác thung lũng hoang vu này cách nay
3 năm, khi thấy canh tác được nên Công An trại đuổi họ
đi nơi khác với lý do đất của trại, mà họ không được
một đền bù gì cả. Trong số dân nghèo khai phá trồng trọt
ở đây, có gia đình ông Tạ với hai cô con gái, chuyển chòi
của họ sát vào chân núi mà phía bên kia chân núi là nhà
thăm nuôi của trại. Gia đình này đào khoai đến đâu, chúng
tôi đào hốc trồng bí rợ đến đó. Tôi hỏi chị Tạ sau
khi tìm hiểu về tình cảnh những gia đình canh tác nơi đây:
"Gia đình chị có ngần này người
mà ban đêm dám ngủ ở đây sao?"
"Có phải chúng tôi ở đây ban
đêm hết đâu. Chiều thì vợ chồng tôi về nhà ngoài Ba Sao
một chút, ở nhà còn mấy cháu nhỏ nữa. Chỉ có hai đứa
này ngủ đây thôi". Vừa nói chị vừa chỉ hai con bé gái
bé xíu của chị.
Anh Dương Công Liêm ngạc nhiên:
"Chị nói thiệt hả?"
Con bé lớn cười cười:
"Chỉ có cháu với em cháu ngủ
đây thôi ông à. Mấy năm rồi chứ phải bây giờ đâu. Mà
sao ông ngạc nhiên?"
Các bạn chung quanh cùng nói: "Cháu
can đảm thiệt".
Anh Liêm hỏi: "Chị Tạ ơi! Cháu
này được mấy tuổi rồi chị?"
"Cháu Oanh 16 tuổi, còn cháu Loanh
15. Cháu có can đảm can điếc gì đâu mấy ông ơi, chẳng
qua là do miếng ăn dần dần rồi quen thôi ".
"Chị nói sao. Một cháu 15 và một
cháu 16 à?"
"Vâng. Trẻ con ở cái đất này
có được ăn uống như trong Nam mấy ông đâu mà lớn được.
Vùng Ba Sao ra đến Phủ Lý trẻ con đều thế cả".
"Xin lỗi chị. Tôi không có ý gì
khác đâu".
Quả thật là khó tin, nhưng trước
mắt là sự thật. Chúng tôi không thể ngờ vóc dáng hai cháu
này áng chừng 10 hay 11 tuổi là cùng, không ngờ chúng tôi
đoán sai quá xa. Ngẫm cho cùng, câu nói của chị Tạ là một
lời than cho cái thân phận người dân xã hội chủ nghĩa hơn
20 năm trên đất Bắc! Nếu chưa đủ tiêu biểu cho nhiều
địa phương đồng bằng Sông Hồng, ít ra cũng là cái khốn
khổ của người dân nói chung và trẻ con nói riêng quanh vùng
này!
Mỗi hốc bí rợ, chúng tôi cho vào
80% phân xanh làm từ những cây dại mà thân mềm, và 20% phân
cứt dê mà chúng tôi gọi là "phân thầy". Thường ngày có
hai bạn chuyên khiêng "phân thầy" từ cái chuồng dê mà chúng
tôi gọi là "chung cư của thầy" ở mãi 3 cây số cách nơi
chúng tôi trồng bí. Ðúng là người ăn độn, súc vật ăn
độn, hốc bí rợ xã hội chủ nghĩa cũng ăn độn luôn.
Ðó là công việc, bây giờ mời
quí vị quí bạn nhìn qua cuộc sống dọc theo thung lũng này
một chút, hi vọng là sẽ nhận ra điều gì đó về thân phận
người phụ nữ xã hội chủ nghĩa nơi đây. Thượng nguồn
thung lũng có một làng của người cùi, xa hơn nữa là nông
trường trà.
Vào những ngày giáp Tết, tên võ
trang bảo tôi theo hắn vào làng cùi mua vài món về ăn. Ở
đây có bán gà vịt, trái cây, rau cải. Vào làng cùi, phải
thú thật là tôi rất sợ, vì mọi người già trẻ lớn bé,
không lở loét cũng tay không ngón, chân không bàn. Vì là lần
đầu hắn kéo tôi đến đây nên trong túi không có đồng
nào cả, chỉ đi một vòng rồi quay về Ðội.
Từ ngày Ðội chúng tôi vào thung
lũng này, có thể nói là chúng tôi "mua đứt" tên quản giáo
với tên võ trang, cho dẫu là tên võ trang thay đổi hằng tháng,
có khi hằng tuần. Mỗi sáng khi đến khu vực trồng bí, tôi
cho mỗi đứa 10 điếu thuốc quấn và lon gô nước trà, do
chú Hổ -bạn tù trẻ- nấu. Thuốc quấn, là thuốc điếu
người ta quấn bằng tay bán từng bó 100 điếu chỉ vài đồng,
mà tôi gởi tên quản giáo hoặc võ trang mua giùm để phát
cho chúng nó hút khi theo Ðội chúng tôi. Lúc ăn sáng ăn trưa,
ngoài anh Phạm Kim Tấn (Trung Tá Cảnh Sát), tôi, với chú Hổ,
còn có tên quản giáo với võ trang cùng ăn với chúng tôi.
Trừ lúc ăn, hai tên gần như chỉ ngồi trong cái chòi bé xíu
cách chòi chúng tôi không xa, vì hắn đồng ý với tôi là
khi giao chỉ tiêu cho Ðội chúng tôi làm, đến chiều trước
khi rời nơi đây hắn mới kiểm soát kết quả việc làm.
Nhưng làm sao hắn kiểm soát nỗi, vì khu vực rộng lớn toàn
đá tảng với bụi rậm, chỗ này vài hốc bí, xa xa chỗ kia
vài hốc bí, ngay khi chúng tôi đi tìm cũng khó chớ nói gì
tên quản giáo kiểm soát. Chỉ khi những giây bí nằm la liệt
trên các tảng đá hắn mới trông thấy được.
Trước ngày nghỉ Tết, tên võ trang
hướng dẫn một số anh em chúng tôi vào làng cùi mua những
cành đào rất đẹp, "trang trí" buồng giam chúng tôi, đồng
thời tặng bên Tổ Văn Hóa để trang trí nơi tranh giải cờ
tướng với giải bóng bàn do anh em "cầu thủ" tù chính trị
chúng tôi tranh giải. Nói là "tranh giải" cho nó oai chớ thật
ra khi chiếm hạng nhất cũng chỉ vài cái bánh ngọt với nhúm
trà, và tiếng vỗ tay của bạn bè chung quanh thôi. Nhưng cũng
giúp đôi chút nhẹ nhàng thư thái trong cái không khí trại
tù vốn dĩ luôn căng thẳng!
Hãy gọi là "thể thao".
Nói đến bóng bàn mà không nói
đến anh Chu Văn Sáng (Ðại Tá An Ninh Quân Ðội) quả là thiếu
sót lớn. Vào giữa những năm 50, anh Sáng đã là Trưởng đoàn
tuyển thủ bóng bàn Việt Nam đoạt giải bóng bàn thế giới
tại Tokyo, Nhật Bản. Chiến thắng oanh liệt của đoàn tuyển
thủ Việt Nam khi hạ đoàn tuyển thủ Nhật Bản tại thủ
đô của họ trước sự có mặt của Thái Tử Nhật. Sau đó,
theo lời mời của đoàn tuyển thủ Pháp, đoàn tuyển thủ
Việt Nam sang Paris, và hạ luôn đoàn tuyển thủ này ngay tại
thủ đô của họ.
Nói đến cờ tướng mà không nói
đến anh Nguyễn Văn Phiên (Ðại Tá, Tổng Nha Tài Chánh &
Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng), cũng là một thiếu sót
khác. Tuy anh Chu Văn Sáng cũng là tay cờ tướng mà nhiều bạn
không đương cự nỗi, nhưng anh Phiên là người đoạt giải.
Hào hứng nhất là bóng tròn, hay
nói cho dễ hiểu là đá banh. Bước đầu hình thành tương
đối khó, nhưng sau đó thì cả trại chia ra 3 đội hạng A
và 3 đội hạng B. Tôi nói "chia ra" chớ không phải tổ chức,
vì bất cứ bạn nào chịu mang giày vào sân, và thích đội
nào thì vào đội đó miễn đủ 7 người là được. Thay Vì
đội banh phải 11 người, nhưng Vì sân trại không đủ kích
thước của sân banh, nên chỉ cần 7 cầu thủ: 1 thủ môn
+ 2 hậu vệ + 1 trung vệ + và 3 ở hàng tiền đạo. Chia ra
là như vậy, chớ nếu "tổ chức" phải chọn những anh thích
hợp từng vị trí trong sân. Nguồn gốc của "phong trào" đá
banh, xin tạm gọi như vậy cho ra vẻ một chút, là đầu tháng
9 năm 1981, tổ Văn Hóa do anh Dương Huy Nam (đảng viên Việt
Nam Quốc Dân Ðảng) trách nhiệm, được trại cấp cho 2 trái
banh để tù chính trị đá chơi nhân ngày lễ 2 tháng 9 của
họ. Anh Cao Văn Phước, một thời là thành viên Tổng Cuộc
Bóng Tròn Việt Nam, và từng hướng dẫn đoàn tuyển thủ
bóng tròn tham dự nhiều giải quốc tế, tương tự như anh
Chu Văn Sáng bên bóng bàn vậy. Anh Phước rủ từng anh vào
sân đá banh chơi. Thế là nhiều anh em tham gia, đá hươu đá
vượn gì cũng được, miễn có chạy tới chạy lui chúng nó
mới mở cửa buồng giam cho ra ở ngoài xem.
Mang đôi giày vải vào sân là may
rồi chớ làm gì có giày đá banh. Còn cái sân banh chính là
cái sân giữa trại, hai bên là hai bức tường đá tảng, bên
trên có hàng rào kẽm gai, nền sân là nền đá tương đối
bằng phẳng, nếu không cẩn thận là đá luôn những cục
đá nho nhỏ trên sân nữa. Chuẩn bị trận đá đầu tiên,
anh Phước hỏi tôi:
"Anh muốn đá ở vị trí nào?"
"Tôi quen hậu vệ giữa, nhưng với
kích thước sân này anh cho tôi đứng trung vệ xem sao".
"Ủa. Bộ anh có đá banh rồi hả?"
"Trong những năm 1937 đến 1940, lúc
học trường sơ học Ðại Ngãi (Sóc Trăng), tôi là "vua ăn
trộm" bưởi trên cây đem thui cho mềm một chút rồi cột
dây chuối vào để đội banh tí hon tụi tôi đá được vài
trận. Bị đòn quá trời nhưng hổng bỏ cái bệnh đó được,
Vì mê đá banh lắm. Năm 1954, lúc học nhờ ở Trường Võ
Bị Liên Quân Ðà Lạt, tôi cũng đá trong đội banh của trường.
Năm 1956-1958 phục vụ Trung Ðoàn 35 ở Plei Ku rồi Kon Tum, tôi
vẫn đá".
"Ê! Trung vệ phải chạy lên tấn
công rồi chạy về tăng cường phòng thủ, mệt lắm à nghe.
Nhắm kham nổi hông đó?"
"Lo gì, cứ thử một hiệp xem sao".
Thế rồi trận đầu tiên với hai
đội tạp nham, với chiến thuật cũng tạp nham, mạnh ai nấy
đá, trúng cũng đá mà trật cũng đá, nhưng rất ư là vui
vì "khán giả" ngồi bít các đầu hành lang vào các buồng
giam, vỗ tay liên hồi. Vỗ tay, không phải do đá hay mà là
đá loạn trên sân làm cho các bạn tức cười. Vậy là vui
rồi. Nhưng sáng hôm sau hầu hết "cầu thủ" chúng tôi đều
khai bệnh, vì bắp thịt chân "bị xổ" nên đi đứng rất
khó. Anh này nhìn anh kia, muốn cười mà cười không nỗi.
Mỗi lần leo lên sàn gác bên trên, tay phải nắm song sắt
cửa số đầu hồi buồng giam, tay trái nhấc cái chân để
lên nấc cái thang sắt thẳng đứng, đến lượt thay tay để
nhấc chân phải lên, và lần thứ hai là ngồi trên sàn gác
được rồi. Nhưng sau vài trận thì các bắp chân bình thường
trở lại, không thấy đau nữa. Thật ra đâu phải mỗi ngày
được đá banh, mà chỉ được đá vào chiều thứ bảy hoặc
ngày chủ nhật thôi, nhưng có cái lợi là khi đá banh thì
trực trại không đóng cửa buồng giam, nếu không đá banh
thì chúng nó khóa cửa nhốt trong buồng.
"Phong trào" đá banh được hình
thành trong sự hào hứng như vậy đó, nhưng nuôi dưỡng được
phong trào mới khó, thậm chí rất khó, vì làm sao có banh để
đá, và có nước chanh đường để uống hằng tuần. Công
An trại chỉ có thể cho vài trái banh nhân ngày lễ của họ
thôi. Với lại banh do mấy cái xí nghiệp trời ơi của xã
hội chủ nghĩa sản xuất, đá vài trận là nó sút chỉ hết
trơn chỉ có liệng vào đống rác thôi.
Trong lần vợ tôi thăm hồi đầu
năm 1982, tôi thuật vợ tôi nghe về điều khó khăn để nuôi
dưỡng phong trào đá banh, vợ tôi hứa sẽ trình bày với
một số chị bạn trong mục đích luân phiên ủng hộ banh
cho anh em chúng tôi. Thế là từ cuối mùa xuân năm 1982, gần
như cứ hai tháng chúng tôi nhận được một trái banh từ
Sài Gòn gởi ra. Thỉnh thoảng còn có một lố khăn lông nhỏ
để lau mặt trong lúc giải lao giữa hai hiệp. Phải công nhận
những trái banh do kỹ nghệ tại Sài Gòn sản xuất có phẩm
chất tốt hơn nhiều so với kỹ nghệ xã hội chủ nghĩa 20
năm trên đất Bắc. Ðá được 7 hay 8 trận mới loại ra,
dù rằng sân đá banh toàn đá dăm nên da banh mau mòn lắm.
Anh Dương Huy Nam gởi Công An đi phép cuối tuần mua giùm cái
còi cho trọng tài là anh Cao Văn Phước. Thỉnh thoảng anh Bùi
Ðức Tài (Ðại Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh) hoặc tôi luân phiên
làm trọng tài. Có điều là chúng tôi chỉ đá mỗi hiệp
30 phút thay Vì theo đúng luật là đá 45 phút, Vì lẽ anh em
cầu thủ chúng tôi trẻ nhất cũng hơn 30 tuổi, còn già sơ
sơ như tôi cũng hơn 50, đá đúng luật theo thời gian e kiệt
sức.
Do hàng hóa sản xuất tại Sài Gòn
dù là Sài Gòn cộng sản vẫn đạt được phẩm chất tốt,
cho nên những tên Công An được đi công tác trong miền Nam,
họ xem như tương đương với xuất ngoại sang Liên Xô vậy.
Và đám Công An quản giáo với võ trang, rất thích đá banh
sản xuất tại Sài Gòn, nhưng vì không có nên chúng nó muối
mặt vào trại đá với tù chính trị chúng tôi. Chúng tôi
đá với nhau còn nương tay nương chân, nhưng với đám Công
An thì chúng tôi đá đến nơi đến chốn lắm, nghĩa là thẳng
chân. Ngón nghề nào dùng được là dùng với họ nhưng không
sợ chúng nó trả thù, vì khi đến chỗ lao động chúng nó
vẫn nhờ cậy chúng tôi về trà thuốc, nhất là thuốc tây
trị bệnh. Thỉnh thoảng cũng có đứa chơi xấu, lúc ấy
anh em khán giả la ó dữ lắm, có hôm đến mức đám trực
trại phải đánh kẻng nhốt vào buồng giam.
Bình thường không có lý do gì để
"tranh giải" thì giữa các buồng giam cáp độ đá với nhau,
đội banh của buồng nào thua phải đãi bên buồng thắng một
nồi chè. Chè gì cũng được nhưng phải ngọt đúng mức,
Vì có lần buồng chúng tôi thắng trận nhưng khi ăn chè giống
như ăn đậu xanh luộc vậy quí vị quí bạn à! Có những
trận giữa hai đội lão tướng, hoặc hai đội trẻ, lần
vui nhất là đá với nhau giữa hai đội độc thân. Vui Vì
độc thân được hiểu là còn trẻ, thế nhưng anh Nguyễn
Kim Tây lúc ấy hơn 50 tuổi mà vẫn độc thân, cũng phải
vào sân. Theo banh một lúc là đứng thở để banh lăn tự
do. Chưa hết, chúng tôi còn cáp độ giữa khu bên này với
khu bên kia nữa, tức là các buồng giam khu bên kia thành lập
một đội banh, đấu với đội banh của các buồng giam khu
bên này. Như vậy quí vị quí bạn cũng hình dung được là
các cầu thủ "xào qua xáo lại" để có những cái tên đội
banh nghe như nhiều lắm, chẳng hạn như trận đấu giữa hai
đội lão tướng, trận đấu giữa hai đội thanh niên, trận
đấu giữa hai đội của hai khu, trận đấu giữa hai đội
độc thân, trận đấu giữa đội nhà bếp với "đội tuyển
trại", Vì đội nhà bếp có nhiều cầu thủ ngon lành lắm,
..v.. v... Có điều là trận banh càng dở chừng nào càng làm
cho khán giả cười đến đau bụng lận.
Sau Tết, khoảng trung tuần tháng
3 năm 1983, một số các anh cấp Ðại Tá đã chuyển trại
trên Yên Bái hồi tháng 10 năm 1977, lại chuyển đến trại
Nam Hà. Lúc ấy tôi mới biết các anh ấy từ Yên Bái chuyển
xuống trại Tân Lập tỉnh Vĩnh Phú, sau đó chuyển vào trại
Thanh Phong tỉnh Thanh Hóa. Tại đây một số trong số đó chuyển
vào các trại trong Nam, và số còn lại chuyển đến trại
Hà Tây tỉnh Hà Sơn Bình, nay cả trại Hà Tây chuyển đến
đây. Tháng sau đó, khoảng 200 cấp Ðại Tá trong trại Nam
Hà A -kể cả số Ðại Tá từ trại Hà Tây mới chuyển đến-
cùng chuyển vào Nam, và nghe đâu bị nhốt trong các trại tập
trung ở Xuân Lộc với Hàm Tân. Riêng số bạn cấp Ðại Tá
hoặc viên chức hành chánh cao cấp trong Tổ Dịch Thuật từ
Hà Tây đến, không bạn nào chuyển vào Nam cả. Tổ này chuyên
dịch các tài liệu và các sách Anh ngữ lẫn Pháp ngữ, nghe
nói do cơ quan nghiên cứu gì đó thuộc Bộ Quốc Phòng của
chúng đưa dịch. Trong số các bạn từ Hà Tây xuống, còn
có các vị cựu Tướng Lãnh nữa và bị nhốt riêng trong buồng
giam số 3. Các vị không ra ngoài lao động mà chỉ quanh quẩn
trong khuôn viên buồng giam này.
Trở lại Ðội 5 chúng tôi trồng
bí rợ và trồng khoai mì trong "thung lũng cỏ tranh". Bên rìa
thung lũng có một khu đất nho nhỏ chưa thể gọi là "nghĩa
trang" nhưng cũng có một số mộ của tù chính trị lẫn tù
hình sự. Mỗi khi có một tù nhân chết, họ sai hai tù hình
sự khiêng cái gọi là "quan tài" đi chôn. Các anh hình sự
cứ chỗ nào tiện đào là bỏ quan tài xuống đó mà lấp
đất, và tiện nhất là cứ tìm cái mộ mà thân nhân đã
hốt cốt rồi quan tài xuống lấp đất sơ sài là xong. Vì
vậy mà những ngôi mộ ngang dọc rất ư lộn xộn, không biết
đầu đít ngôi mộ ở phía nào vì không có cái gì khả dĩ
có chức năng như tấm bia. Sở dĩ chúng tôi biết có khu mộ
này là do con gái của anh chị Tạ nói. Lúc nửa giờ nghỉ
trưa, tôi nhờ Hổ với Tâm, hai anh bạn tù trẻ trước kia
thuộc Ðội 20, lén theo con bé để nó chỉ khu mộ đó để
biết mà đốt nhang khi có thể thực hiện được.
Nhân tháng "Thanh Minh", tôi với Hổ
lén đến khu mộ toàn cỏ tranh rậm rạp cao khỏi đầu. Hóa
ra là gần cái chòi của hai con bé Oanh và Loanh. Hầu hết đã
bị trâu bò giẫm nát và gần như chỉ còn một nhúm đất
cao thôi, nếu không được hai cô bé tội nghiệp kia chỉ từng
nhúm đất thì không thể nhận biết đó là ngôi mộ, ngoại
trừ mộ của anh Khoa là dễ nhận. Thật là buồn! Ðồng đội
và đồng tù của chúng tôi khi từ giã cuộc đời không một
người thân bên cạnh! Ngày vào trại tập trung với nguyên
vẹn một con người từ thể xác đến tinh thần, ngày ra khỏi
cổng trại lại nằm trong cái quan tài nhỏ bé tồi tàn, máng
trên hai vòng dây với cây đòn dài do hai chú tù hình sự khiêng,
là đến chân núi bên kia trại mà "yên nghỉ" dưới lớp đất
gọi là những nấm mộ sơ sài!
Sau khi cắm nhang xong, tôi nói với
chú Hổ:
"Hổ, mình đứng yên lặng và cúi
đầu một phút để tưởng nhớ các bạn đồng tù đã không
còn nữa nghe Hổ!"
Xong. Tôi với Hổ lần lên triền
núi thử tìm hai ngôi mộ mà lúc cầu cơ có hai hồn nhập
vào nói là sĩ quan Hoa Kỳ chết vì kiệt sức tại trại Nam
Hà A này, nhưng không tìm được bất cứ dấu vết gì để
có thể xem đó là nấm mộ cả. Thuật chuyện quí vị quí
bạn nghe như cả buổi trời, nhưng thật ra chỉ trong khoảng
hơn nửa tiếng đồng hồ là chúng tôi quay về, vì e thằng
võ trang biết được thì phiền lắm.
Nỗi khổ của nữ công nhân.
Trưa hôm sau, tôi nhờ Hổ lén sang
nhờ hai con bé Oanh với Loanh làm cỏ quanh những ngôi mộ,
nhưng hai con bé này đòi đến 5.000 đồng tiền công, đào
đâu ra ngần ấy tiền Vì chúng tôi ước tính năm bảy chục
đồng thì chấp nhận được. Thế là anh Huỳnh Chí Tài -quốc
tịch Hong Kong- bị bắt vì cờ bạc, Công An đưa vào ở chung
với chúng tôi, cùng với chú Hổ, tình nguyện mỗi trưa lén
sang làm cỏ.
Cũng may là vài hôm sau đó, tên
võ trang gọi tôi:
"Anh Hoa, anh vô Ðội 4 Nông Trường
chè (trà) với tôi".
"Chi vậy cán bộ?"
"Ði chơi mà. Nếu tiện thì mua
ít đổ (đậu)
xanh về nấu chè ăn".
"Xa không cán bộ?"
"Khoảng 1 giờ đi chân".
"Liệu cán bộ Cảnh -quản giáo-
có cho tôi đi không?"
"Tôi nói với cán bộ Cảnh rồi".
"Không được cán bộ, tôi phải
hỏi cán bộ Cảnh cho chắc".
Hắn ở đằng chòi, nghe nói thế
bèn lên tiếng:
"Tôi đồng ý anh đi với cán
bộ Minh (võ trang), nhưng phải trở về đây trước giờ
về trại".
Tôi xoay sang tên võ trang: "Cán bộ
chờ tôi một chút".
Tôi gọi chú Hổ: "Hổ, chú rủ
anh Tài sang khu mộ làm cỏ được rồi, vì tôi đi với cán
bộ Minh cũng phải 3 tiếng đồng hồ lận. Áng chừng hai tiếng
đồng hồ là quay về đây nghe".
Tên võ trang đi trước, tôi theo
sau. Băng qua làng người cùi, ngang qua khu rừng chồi, bắt
đầu vào khu vực của Ðội 4 Nông Trường Trà ở thượng
nguồn thung lũng. Hắn mặc đồ Công An, tôi mặc quần áo
tù. Ðứng trước gian nhà thật nhỏ ngay đầu dãy, đang có
sáu cô gái ngồi bên trong. Một trong sáu cô gái vui vẻ:
"Chào anh Minh". Rồi cô ta nhìn
tôi: "Chào anh".
Tên võ trang chỉ tôi: "Giới thiệu
với các cô, đây là anh Hoa".
Cô vừa chào, lên tiếng:
"Mời anh Minh và anh vào. Các anh
thông cảm cho cảnh nghèo của chúng em nhé!"
Tên võ trang có vẻ nịnh đầm:
"Sao hôm nay cô Lan rào đón thế?"
Hai cô nhắc hai chiếc ghế đẩu
mời ngồi cạnh cái bàn già nua ọp ẹp, trong khi bốn cô kia
ngồi chung trên cái giường cá nhân mà tuổi đời với phẩm
chất của nó cũng tương đương với cái bàn. Tên võ trang
hỏi:
"Tất cả các cô ở chung gian
nhà này à?"
Cô gái tên Lan trả lời:
"Không anh à! Mỗi gian chúng em
ở hai hoặc ba người. Gian này em ở với chị Ánh. Ðây là
nhà ở, vừa là văn phòng của Ðội 4".
Cô ta quay sang tôi:
"Mời anh dùng chè. Anh có dùng
chè xanh được không? Ở đây chúng em nghèo lắm, chè này
nếu phải mua chúng em cũng không có tiền mua đâu. Ðây là
chè xanh trên mấy ngọn đồi mà các anh vừa đi qua đấy".
Từ nãy giờ tôi im lặng dò xem
thái độ các cô gái này đối với tôi xem sao, vì trông vào
bộ đồ của trại tù tất nhiên các cô này đoán biết tôi
là tù. Các cô nhìn tôi, nhìn thẳng lẫn nhìn lén. Có lẽ
các cô muốn nhận biết người miền Nam như thế nào, cho
dẫu người miền Nam đang đối diện với các cô là tù chính
trị.
"Cám ơn các cô. Ðến nay là hơn
7 năm tôi ở trong các trại trên đất Bắc, tôi uống trà
xanh này khá nhiều. Có nghĩa là tôi uống được. Còn các
cô than nghèo, thật ra đất nước nghèo, người dân nghèo,
điều này cả nước biết mà. Tôi xin hỏi, các cô có biết
tôi là thành phần nào ở vùng này không?"
"Dạ có, vì nơi anh ở là trại
Ba Sao, nơi anh đang ngồi là nhà chúng em ở Nông Trường Ba
Sao, nên chúng em biết".
"Vâng. Cám ơn các cô".
Một cô có tên là Ánh, hỏi tôi:
"Anh có đến đây lần nào chưa?"
"Ðây là lần đầu tiên. Chẳng
lẽ cô nghĩ tôi muốn đi là đi được sao?"
"Xin lỗi anh". Im lặng một
lúc, cô ta nói tiếp:
Chắc anh chưa biết hoàn cảnh
của chúng em. Trong Ðội 4 này có 102 công nhân, nhưng có đến
100 nữ mà chỉ có hai nam công nhân thôi à". Tên võ trang
cắt ngang dường như nó quê vì không cô nào nói chuyện với
nó:
"Trong số 100 cô, có bao nhiêu
cô có chồng?"
"Có hai chị có chồng".
Cô
Lan trả lời.
"Buồn nhỉ?"
"Anh nói anh buồn hay anh nói cho
chúng em?"
Tên võ trang ú ớ mãi mà chưa trả
lời, tôi mỉm cười:
"Có lẽ cán bộ Minh muốn làm người
thứ 3 lập gia đình ở đây nhưng chưa rờ ý các cô ra sao
thì phải".
Cô tên Ánh nói như một lời than:
"Không ai đến đây với chúng
em đâu anh!" Ngưng một lúc, dường như cô ta đang xúc động!
"Chúng em biết số phận của
chúng em trong xã hội này lắm anh. Có khi cả năm mới có một
vài anh vì lý do gì đó mới tạt vào đây, chứ chẳng anh
nào muốn làm bạn với những cô gái lam lũ quanh năm chỉ
quanh quẩn những đồi chè như chúng em đâu!"
"Tôi là người miền Nam, nhưng các
cô đừng nghĩ là tôi quá lời về miền Nam chúng tôi. Miền
Nam chúng tôi có rất nhiều đồi trà mênh mông bao quanh thành
phố Plei Ku và vùng Bảo Lộc, mà là có từ bốn năm chục
năm trước. Nhưng ngay trong mấy chục năm chiến tranh mà công
nhân vẫn có mức sống cao cùng với mọi tiện nghi trong gia
đình, và hưởng mọi tiện nghi tân tiến trong xã hội nữa.
Thật lòng mà nói, tôi không hiểu tại sao đời sống của
các cô như thế này?" Tôi xin hỏi thêm, theo các cô thì những
cô gái ở các vùng khác có cuộc sống khá hơn các cô ở
đây không?"
Tên võ trang đáp ngay: "Tại vì
chế độ trong đó thoáng hơn".
Tôi đáp: "Có thể là như vậy".
Lẽ ra tôi phải nói chính xã hội
chủ nghĩa làm cho dân nghèo, đất nước nghèo, nhưng dù gì
thì thằng này cũng là Công An cai tù, nói như vậy cũng đủ
rồi. Câu của hắn vừa rồi, không hiểu là hắn muốn bẫy
tôi, hay trong lúc bất chợt hắn bộc lộ nhận thức về chính
trị trong con người thật của hắn? Hắn hỏi tôi:
"Anh có đọc bài báo viết về
Nông Trường Chè Sông Bôi chưa?"
"Có, vì tôi phụ trách đọc báo
trong buồng giam".
Cô tên Lan hỏi tôi: "Bài báo
nói gì vậy anh?"
"Tôi không biết là có nên nói hay
không nữa". Ðó là cách gợi thêm tính tò mò của cô ta nên
tôi bỏ lửng như vậy. Tên võ trang châm mồi:
"Bài báo nói bên Nông Trường
Sông Bôi có đến mấy trăm cô chưa chồng đấy mà".
Cô Lan tỉnh bơ: "Tưởng gì chứ
tin đó thông thường thôi. Hiện giờ công nhân nữ ở Nông
Trường nào cũng thế đấy. Bộ anh Minh tưởng Nông Trường
này ít à!"
"Tôi thấy bài báo nói ở đó hơn
400 cô chưa chồng, nhưng không thấy nói tổng số các cô ở
đó là bao nhiêu nên chưa thể nói là nhiều hay ít".
"Họ nói chưa đúng đâu anh …..".
Tên võ trang cắt ngang: "Chẳng
lẽ cứ câu chuyện này mãi sao!
Như một lời than, cô Lan nói:
"Thú thật với các anh, chuyện
của chúng em ở cái xó rừng này quanh quẩn chỉ thế thôi.
Ðó là sự thật không thể chối bỏ, đến mức chúng em xem
nó bình thường nên chẳng tránh né gì cả".
Không thể chần chờ được nữa
Vì phải một tiếng đồng hồ đi bộ để còn kịp giờ về
trại, tôi giục tên võ trang ra về. Cô Lan vào trong cầm ra
một bọc giấy nhỏ:
"Anh Minh cho anh này nhận trà xanh
đem về trại uống được không?"
"Ðược". Anh Hoa nhận đi".
Cô ta quay sang tôi:"Anh mang trà
này về trại uống. Ở đây chúng em chỉ có thế".
"Cám ơn cô. Chào các cô".
Sau lời chào đó, tất cả các cô
bước ra cửa vẫy tay như một cữ chỉ thân thiện. Trên đường
về, tôi hỏi:
"Bộ thanh niên ở vùng này không
thích cưới vợ là công nhân ở các Nông Trường sao cán bộ?"
"Anh không biết. Thời bây giờ
chẳng anh nào lao đầu vào cưới các cô không có kinh tế
cơ bản cả. Tôi không rõ trong Nam các anh ra sao, nhưng ngoài
này (tức đất Bắc), sắc đẹp là thứ yếu, kinh tế
(ý nói có tiền) mới là chủ yếu".
"Cán bộ có thể nói trường hợp
điển hình được không?"
"Bất cứ cô nào trong số đó,
nếu chuyển sang làm mậu dịch viên (tức là đứng bán
hàng) là tôi cưới ngay. Làm mậu dịch hoặc nghề máy khâu
(thợ may) thì có đồng vào, chứ cưới vợ mà vợ không đẻ
ra tiền lại đẻ ra con thì chết sớm thôi. Thanh niên ngoài
này (tức trên đất Bắc) thế đấy".
"Tôi nhớ ra rồi. Có lần cán bộ
Giao nói với anh em chúng tôi rằng, sở dĩ cán bộ Giao không
cưới cô Liên em gái cán bộ Thịnh (khuỳnh), mà cưới cô
nào đó làm thợ may ở Ninh Bình vì cô thợ may có tiền vô
hằng ngày, dù rằng cô đó kém cô Liên về sắc đẹp. Cán
bộ Giao còn nói cô Liên chỉ là công nhân nhà bếp, vài chục
đồng lương mỗi tháng làm sao mà sống".
"Thanh niên miền Bắc chúng tôi
vậy đó anh. Anh biết vợ cán bộ Lực không?"
"Biết, vì khi Ðội chúng tôi trồng
rau dưới đồng, cô ấy hay xuống xin rau".
"Xấu như ma lem mà ông Lực vẫn
cưới, chỉ vì bố vợ ông Lực là Ðại Úy trưởng phòng
tổ chức của trại, nên ông Lực nương vào bố vợ để
tiến thân. Nhờ vậy ông Lực mới được cái chức trưởng
toán trực trại chứ bình thường thì đừng hòng".
"Cán bộ có biết vụ cán bộ Hèo
từ hôn với cô nào đó không?"
"Có chứ. Ông Hèo bị ông bố
ép quá, ông Hèo mới chịu làm lễ đính hôn với cô công
nhân trồng cói (tức lát làm chiếu). Mà anh có nghe nói
gì về cô đó không?"
"Không, cán bộ".
"Cô ấy nom xinh xinh nhưng vì không
có kinh tế cơ bản, nên sau một tháng đi lại với nhau là
ông Hèo bỏ luôn".
"Theo cách nhìn của tôi thì cán
bộ Hèo hành động như vậy không đúng. Thà không chịu từ
lúc đầu, đằng này cán bộ Hèo dắt cô ta về quê cả tuần
rồi dứt giây là không tốt".
"Anh nói theo anh ở trong Nam, chứ
thanh niên ngoài Bắc này nhất trí (tức đồng ý) với
hành động của ông Hèo".
Qua câu chuyện vừa rồi, tôi nhận
ra vài điểm sau đây:
- Thật lòng mà nói, lời của các
cô gái xã hội chủ nghĩa ở Nông Trường trà vừa rồi, chính
là những lời than tự con tim các cô ấy rất là tội nghiệp!
Các cô nói lên sự cùng cực về vật chất, và cùng cực
về tình yêu trai gái như một số phận! Chấp nhận một cách
tự nhiên như hơi thở từ giây này sang giây khác vậy! Nhưng
tôi không cho là số phận, mà chính là tội ác của lãnh đạo
cộng sản Việt Nam.
- Lời của tên Minh võ trang "tại
vì chế độ trong đó thoáng hơn", tôi tin là hắn bộc lộ
bản chất thật trong con người của hắn. Hắn nhận ra điều
đó, nhưng hắn không thể nói với "đồng chí"của hắn, và
trong lúc bất chợt hắn không kịp nén lại bên trong mà thốt
lên lời. Chừng như hắn nhận ra sự lỡ lời đó nên hắn
xoay sang đề tài khác.
- Vậy là quan niệm hôn nhân của
thanh niên xã hội chủ nghĩa trên đất bắc này không còn
lồng trong cái gọi là lý tưởng cộng sản nữa, mà là gói
trong vật chất dù chỉ là mớ vật chất nhỏ nhoi của cô
thợ may hay cô gái bán hàng mà họ gọi là "mậu dịch viên".
Hoàn toàn không còn đạo nghĩa trong hôn nhân nữa.
Những nhận xét trên đây, chính
là từ ông Hồ và từ những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt
Nam, vừa xây dựng con người trên nền tảng duy vật vừa
phá tan đạo đức dân tộc để thay vào đó cái gọi là "đạo
đức cách mạng", chỉ biết nghe theo đảng và chết cho đảng.
Hoàn toàn không có cái gì thuộc về bản thân của những
thế hệ thanh niên xã hội chủ nghĩa cả.
Miên man trong câu chuyện xã hội
chủ nghĩa mà lần đầu tôi được biết qua những cô gái
vừa nghèo vừa khổ, mà về đến Ðội lúc nào không hay.
Khi tiếng chú Hổ gọi tôi mới ngưng suy nghĩ vì đến cái
chòi của chúng tôi rồi.
Tôi rút cây viết ra vì trong cây
viết có cái đồng hồ nhỏ xíu mà vợ tôi cho hồi đầu
năm nay, thấy còn thì giờ, tôi đi một vòng xem qua những
đám bí rợ và khoai mì. Bí rợ thì vài tuần nữa là hái
được, nhưng khoai mì còn phải vài tháng nữa. Trồng khoai
mì thì sau khi bỏ "cọng hom" xuống cái hốc, cứ chờ đến
ngày nhổ lên lấy củ, trong khi dây bí rợ bò tứ tung phải
kéo đầu nó để lên các tảng đá hoặc những nhánh cây
nhỏ cho nó bám vào. Khi bí rợ ra hoa mà hoa thì có "hoa đực
hoa cái", cứ mỗi sáng anh Nguyễn Xuân Dung (Ðại Tá Thiết
Giáp) được phân công, len chân vào đám bí ngắt "hoa đực"
đem cắm vào "hoa cái" gọi là "thụ phấn" để có đủ âm
dương mà kết thành trái. Ðúng ra theo tự nhiên thì "hoa cái"
thụ phấn do ong, bướm, kiến, đậu trên hoa đực rồi bám
vào hoa cái, thế nhưng "nước sông công tù" nên dư nhân công
để làm "cái việc ấy" thay ong bướm. Khi từ nụ hoa kết
thành trái thì phát triển nhanh lắm. Ðến khi không cần cho
kết trái nữa sau khi mỗi giây chỉ để 2 trái cho nó lớn,
chúng tôi tha hồ ngắt đọt bí và bông bí luộc hay nấu canh
đều ngon cả. Tôi nói luộc hay nấu canh, quí vị quí bạn
nghe như những món ăn "đâu ra đó", chớ thật ra chỉ là nồi
nước với đọt bí bông bí bên trong, đổ nước ra gọi nó
là luộc, để nguyên nước cho vào chút muối chút bột ngọt
gọi nó là canh.
Nỗi khổ của hai ba thế hệ.
Nơi mà chúng tôi chọn làm cái lều
nhỏ xíu để nấu nước cho Ðội và anh em tự nấu cái gì
đó để ăn, là ngã ba đường mòn. Ðó là con đường mòn
dài theo thung lũng, có cái ngã ba leo lên cái dốc núi khá cao
để qua thung lũng bên kia núi thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, vì
bên đó có nhiều người dân từ Phủ Lý vào khai phá trồng
trọt. Trong số những người dân làm lụng bên đó có một
gia đình bốn người, gồm: Một ông già khoảng 60 tuổi với
3 đứa cháu: Một cô gái khoảng 20 tuổi, và hai cậu bé 12
và 14 tuổi. Theo lời ông cụ thì mỗi lần vào là ở đó
một tuần, về lại Phủ Lý vài ngày thì trở vô. Nhìn thấy
cả gia đình gánh khoai mì từ thung lũng bên kia, leo lên đỉnh
núi cao, lại tuột dốc xuống thung lũng chúng tôi đang làm,
lại leo lên cái đỉnh núi nữa mới xuống đến con đường
đá gần nhà thăm nuôi để ra Ba Sao rồi về Phủ Lý. Những
củ khoai mì cột chặt ở hai đầu cây tre mà gánh. Ông cụ
với cô gái, mỗi người khoảng 15 kí lô, mỗi cậu bé 7 kí
lô. Nhìn tận mắt cái lam lũ của gia đình này thật là tội
nghiệp! Cuộc sống của họ bi đát quá! Hơn 20 năm sống trong
xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc cằn cỗi này, họ
chỉ được ăn những củ khoai mì mà họ đổ ra biết bao
công lao cộng với hiểm nguy của núi rừng mới có được!
Nếu muốn ăn gạo, phải bán 3 kí lô khoai mì mới đủ mua
1 kí lô gạo.
Từ khi Ðội chúng tôi vào đây,
mỗi khi gia đình này, hoặc những gia đình khác đi ngang đều
ghé vào lều xin nước uống, vì chúng tôi luôn có nước trà.
Một hôm tôi hỏi:
"Mỗi lần vào rẫy, bác phải mang
theo thức ăn hay vào mua trong đó?"
"Ðâu có mang gì theo ngoài gạo
hoặc bắp với muối. Trong đó cũng đâu có gì ăn được
ngoài rau, mà rau đâu phải lúc nào cũng có. Khi trồng chưa
ăn được, phải chia nhau vào rừng tìm những thứ ăn được
hái về ăn".
"Bác làm gì ăn khi có rau?"
"Luộc chấm với muối chớ có
làm gì khác đâu ông".
"Bác có quen dùng bột ngọt không?"
Ông già hỏi lại: "Ông nói bột
ngọt là gì thế?"
Cậu bé nhanh miệng: "Là mì chính
đó Nội".
Tôi hỏi cậu bé: "Vậy là ở nhà
có dùng phải không cậu bé?"
"Dạ có, nhưng ít khi lắm, vì
phải mua".
"Bây giờ tôi biếu bác một ít
đủ nấu canh trong mấy hôm ông với các cháu ở trong rẫy.
Dù sao thì có chút canh dễ ăn hơn".
Tôi quay sang chú Hổ:
"Hổ ơi! Chú ráng cho ông cụ đầy
hai muỗng bột ngọt nghe Hổ".
Nhìn thằng bé cứ mân mê gói bột
ngọt chút xíu trên tay với nụ cười vừa dễ thương vừa
tội nghiệp! Tuồng như nó đang nghĩ là sẽ được những
bữa ăn ngon do cái gói nhỏ xíu này vậy!
Ông già run run: "Cám ơn ông. Thật
là quí hóa quá".
"Không có chi đâu bác. Chắc bác
cũng biết rằng, trong hoàn cảnh chúng tôi chẳng phải nhiều
nhõi gì, nhưng giúp nhau được gì thì anh em chúng tôi không
hẹp bụng đâu".
"Chúng tôi biết. Ngoài Phủ Lý
cũng biết. Tuy các ông như vậy (ý nói ở tù thì phải),
nhưng
cuộc sống của các ông vẫn hơn chúng tôi nhiều. Chúng tôi
làm gì có cơm trắng như các ông, chỉ mong ăn no chứ đâu
dám mong ăn ngon".
"Thật tình là tôi không ngờ cuộc
sống của người dân đất Bắc xã hội chủ nghĩa này, kém
cuộc sống của người dân trong Nam chúng tôi không thể tưởng
tượng được, dù rằng chúng tôi phải đương đầu với
chiến tranh triền miên do ngoài này vào gây ra"
Ông già buông một lời than rất
tội nghiệp: "Ngoài này nghèo lắm ông ơi!"
Trong cái chòi của chúng tôi có
cái "vạt giường nhỏ xíu" và cái bàn ăn cũng nhỏ xíu, là
tôi trả công cho hai cô con gái của anh chị Tạ bằng 100 gờ-ram
bột ngọt. Hai con bé vào rừng tìm những sợi dây leo cỡ
ngón tay út, phơi vài nắng cho dai rồi kết lại thành cái
vạt giường nằm êm lưng lắm. Cái chân bàn bằng cây rừng,
cái mặt bàn làm bằng cây chổm. Trước khi về trại phải
đem giấu trong bụi rậm chớ để đây là mất, vì khu vực
này có tù hình sự thường đi ngang để vào làng cùi mua gì
đó cho quản giáo hoặc cán bộ của các bộ phận khác.
Thời gian cứ tuần tự trôi qua,
và đám bí rợ đến ngày cắt trái. Ðội chúng tôi cắt và
gom lại một chỗ, Ðội khác vào đây khiêng về. Phải một
tuần lễ mới cắt hết trái. Tổng cộng lần cắt bí này
mà họ gọi là "thu hoạch" đầu tiên, bộ phận kế hoạch
cân được 2.600 kí lô. Thật ra, trước khi cắt bí thì anh
em chúng tôi "tự do ăn cắp" những trái nho nhỏ đem về trại
luộc, xào, kho, hay nấu canh. Còn tại chỗ thì cắt ăn công
khai. Ngay cả quản giáo với võ trang, cho dẫu có lục lọi
cách mấy cũng không thể nào tìm thấy tất cả trái bí. Khu
vực này khoảng 2 cây số vuông, rất nhiều tảng đá hốc
đá mà ở đó giây bí trái bí chen lẫn với cỏ tranh và cây
dại hoa dại. Tôi, anh Trần Ngọc Thống, và anh Nguyễn Xuân
Dung chuyên viên thụ phấn, chúng tôi biết rõ những trái bí
nằm ở đâu vì chúng tôi giấu nó từ lúc còn nhỏ, nên chúng
tôi chỉ chỗ cho các bạn ăn cắp. Với lại theo lời của
cán bộ Cảnh -quản giáo- thì bộ phận kế hoạch cho là "được
mùa bí" nên họ chỉ kiểm soát qua loa chớ không hạch hỏi
gì. Nói chung là họ không thể tìm thấy "cái bê bối" về
cái gọi là "chỉ tiêu" đã giao cho chúng tôi.
Tôi xin nhấn mạnh, cái không khí
dễ chịu đó không phải do chính sách của họ, mà là do chúng
tôi "mua chuộc" quản giáo với võ trang mới có kết quả như
vậy. Bất cứ lợi ích nào cũng có cái giá của nó mà. Trong
nhà tù cũng vậy, nếu mình nhận ra được "yếu điểm" của
họ trong khi mình có thể và có cách trả giá thì cái giá
sẽ nhẹ nhàng thôi.
Bếp của Ðội có anh bạn sồn
sồn và hai chú bạn trẻ. Trẻ là chú Hổ nấu cơm và chú
Phùng A Ốn nấu nước. Sồn sồn là anh Trương Ðình Thăng
(Ðốc Sự Hành Chánh) lấy củi cung cấp cho chú Ốn. Anh Thăng
cẩn thận lắm, khi vác củi về còn chặt nhỏ và phơi khô
mới giao "nhà bếp" của Ðội. Nhờ vậy mà cứ vào đến
chòi một lúc là chú Ốn gọi các bạn đến lấy nước sôi,
vì dòng nước bên cạnh trong khi có sẵn củi khô. Các bạn
cần nấu cơm thì đến suối vo gạo, cho nước vào rồi đem
gởi chú Ốn vừa nấu nước vừa nấu giùm những lon gô hoặc
gà mèn cơm hoặc canh. Những cái có quai thì chú máng quanh
miệng thùng nước, những dụng cụ nấu nướng mà không quai,
chú cào than ra ngoài và để lên đó.
Một hôm anh Thăng vác củi về là
tấn công tôi:
"Anh Hoa, hai dì cháu con nhỏ đó
hỏi thăm anh kìa".
"Gì kỳ vậy. Hai dì cháu nào mà
hỏi bất tử vậy cha nội?"
"Ðừng có vờ vịt nữa. Tuần trước
có hai người, một sồn sồn một trẻ, ghé lều xin nước
uống đó chớ ai. Có không? Khai mau lên?".
"A! Hôm ấy là chú Hổ mời uống
nước chớ hổng phải tôi à nghe. Lúc tôi vác cuốc về lều
cũng là lúc bà ta đi ra, chớ có nói gì đâu mà bây giờ hỏi
thăm".
Anh Thăng cười cười:
"Tôi hổng biết, bà ta hỏi thăm
thì tôi chuyển lời thôi. Còn muốn biết có hay không thì
hôm nào dì cháu người ta đi ngang chận lại mà hỏi".
"Anh quỷ quái lắm. Ðã quen với
ai trên núi rồi về đây kiếm chuyện phải hông? Khai thiệt
nghe coi".
Chú Hổ nhảy vào: "Anh Thăng có
bồ rồi anh Hoa ơi".
Anh Thăng xuống giọng:
"Ði trên núi, người ta chào mình
thì mình chào lại chớ có gì đâu".
Tôi bắt bí anh: "Vậy là nhận rồi
hén. Người ta là ai? Khai lẹ lên".
"Người ta là dì cháu đấy. Sao
mà hỏi kỹ thế".
"Hỏi kỹ đặng nghiên cứu xem có
nên mét hay không vậy mà".
Anh Thăng cười lớn:
"Ðó" thì chưa rõ, chớ "đây" có
hiếu với vợ lắm, đừng hòng mà đe với dọa".
Tôi bèn cười theo: "Ðây cũng thế.
Vậy là Phe ta rồi. Cho bắt tay cái đi".
Vài nét đặc biệt.
Trong Ðội 5 chúng tôi hầu như mỗi
người có cái nét gì đó, hay gọi cho oai là cái "tài" gì
đó, chẳng hạn như: Anh Huỳnh Văn Trứ (cựu Dân Biểu) là
"kỹ sư" sửa đồng hồ. Ðồng hồ hư nhận sửa đã đành,
đồng hồ không hư cũng nhận sửa cho hư rồi sửa lại hết
hư để khỏi cuốc đất. Anh Nguyễn Khoa Phước (cựu Nghị
Sĩ) là ca sĩ già với giọng rất hấp dẫn "phụ nữ", nhưng
tiếc một điều là trong trại tập trung này không có tù nữ.
Ông Lê Văn Sớt (Phủ Ðặc Ủy Tình Báo) nằm cạnh tôi, tóc
bạc trắng nhưng không bỏ sót buổi tập thể dục nào. Tôi
với ông Sớt, ai dậy trước thì kêu người kia. Chúng tôi
tập ngay trong mùng từ mờ sáng trước khi trực trại mở
cửa buồng giam, chớ ra sân làm gì có thì giờ mà tập. Chú
Nguyễn Văn Thuận (Sĩ quan Cảnh Sát) trong số các bạn trẻ
của Ðội 20, chuyên viên trốn lao động nhưng có tài kể
chuyện chưởng với những chi tiết được "pha chế" làm cho
nội dung trở nên ly kỳ hấp dẫn. Chú Tâm "mập" cũng là
bạn trẻ trong Ðội 20 cũ, "mê" khơi khơi một cô khi thấy
cô ta về làng cùi thăm thân nhân. Mê đến nỗi lúc say rượu
mà miệng cứ nói câu "nàng ơi, nàng đừng bỏ ta nghe nàng".
Bạn bè cười quá trời, vì anh chàng Tâm thương cô nào đó
chớ cô ta có thương lại đâu. Tình yêu một chiều đó quí
vị quí bạn à! Ðến chú Nguyễn Kim Tiếng (Cảnh Sát đặc
biệt), cũng là bạn trẻ trong Ðội 20 cũ, từ lúc ở tù không
một thân nhân nào đến thăm. Ấy vậy mà từ hai bàn tay trắng
trơn dần dần trở thành một trong những tù chính trị "giàu
sụ" nhờ "bán hàng lậu" trong trại và ngoài trại. "Hàng lậu"
thoạt nghe tưởng như ghê gớm lắm nhưng thật ra chỉ là
những món lặt vặt như nắm rau, con cá, hộp sữa, trái chuối,
củ khoai, … mua bên ngoài mang "chui" vào trại bán, mua áo quần
từ bên trong mang "chui" ra ngoài bán. Nét đặc biệt của anh
bạn trẻ này là khách hàng của chú, chẳng những là bạn
tù trong trại, mà khách hàng còn là dân bên ngoài trại, và
cả Công An cũng là khách hàng của chú nữa. Ngay đám Công
An "tóc dài" bán hàng cho chú Tiếng đủ thứ hết, ngược
lại thì mua áo quần lẫn những thứ hàng thường dùng do
trong Nam sản xuất hoặc hàng ngoại quốc, như xà bông thơm,
viên thuốc tây, kem đánh răng, răng vàng, nhẫn vàng, nói chung
là thượng vàng hạ cám trong trại tù có đủ hết. Cái hoạt
cảnh vui nhộn hơn hết là lúc Nguyễn Kim Tiếng, cầm cây
kềm cạy cái răng vàng còn trong miệng một bạn cần bán
để có tiền mua thuốc lào. Phải công nhận Nguyễn Kim Tiếng
vóc dáng không có gì hấp dẫn, nước da ngâm đen, nhưng nói
chuyện kèm theo nụ cười rất có duyên.
Khi có phương tiện trong tay kể
cả tiền, chú bạn trẻ này dần dần mua chuộc được "Thịnh
khuỳnh", và mua luôn tên phụ trách giáo dục trại Nam Hà A
là Vũ Quấcnữa. Nhờ vậy công việc "mua bán chui" vào trại
ra trại an toàn, mặc dù nội qui nghiêm cấm. Ðến mức mua
nguyên con dê của tên Niệm, phụ trách giáo dục toàn trại,
khiêng vào trại bán lại anh em gần như công khai nhưng an toàn.
Thấy vậy, Ðội 5 chúng tôi chuẩn
bị Tết Nguyên Ðán đầu năm 1984. Nguyễn Kim Tiếng Tình nguyện
mua nguyên con heo làm sẵn từ những Công An "tóc dài", đem
vào trại bán lại cho anh em có thịt ăn Tết, chỉ cần lời
bộ đồ lòng nấu cháo cho cả Ðội ăn là được. Thế là
chiều 30 Tết, anh em trong Ðội được ăn cháo lòng đúng nghĩa
của nó. Ðiểm đáng quan tâm là tất cả anh em trong Ðội,
đều chung tay góp sức vào tổ chức tất niên chiều nay. Bạn
nào làm được việc gì thì nhận ngay việc ấy, kể cả công
việc lặt rau, kiếm củi, gánh nước, chụm củi, ..v..v.. Cũng
xin nói thêm là mỗi khi chúng tôi "chui" được con dê hay con
heo vào trại xẻ thịt bán cho nhau, thì y như rằng, đám Công
An trực trại cũng có bữa nhậu không mất tiền. Âu đó cũng
là "sòng phẳng theo luật chơi", vì nếu không như vậy thì
không thể nào "chui cả con heo con dê" vào trại được.
Anh em chúng tôi khoái nhất là mua
cá do đám quản giáo với võ trang mang vào trại bán. "Khoái"
là vì bọn họ thức đêm thức hôm lặn lội xuống mấy cái
hồ dưới cánh đồng chiêm câu cá, nôm cá, để rồi sáng
sớm chúng nó đem cá chui vào cái khe thoát nước từ trong
trại ra ngoài, sau đó chúng nó vào cổng trại túm cá trong
cái bao đem bán cho chúng tôi. Chính Vì vậy mà chúng tôi sử
dụng chút tiền với vật dụng có được, để khai thác đúng
mức cuộc sống thiếu thốn của chúng nó, ảnh hưởng trực
tiếp vào sinh hoạt hằng ngày của tù chính trị chúng tôi
càng lúc càng dễ thở hơn. Có lần tên cán bộ Quan, trong
khi uống cà phê với anh Phạm Kim Qui, hắn buột miệng:
"Tôi không hiểu tại sao khi mấy
anh mới đến trại, chúng tôi bắt mấy anh phải đứng xa
đến 6 mét mỗi khi cần nói chuyện với chúng tôi. Thật ra
mấy anh rất tốt".
Tất nhiên là hắn chỉ nói với
chúng tôi chớ đâu dám để "đồng chí" của hắn nghe câu
nói ấy, Vì chúng nó có bao giờ tin vào "đồng chí" chúng
nó đâu.
Trong trại tập trung Nam Hà A này,
tuy là qua những góc cạnh nhỏ thôi, nhưng chúng tôi có nhận
xét chúng nó rất luộm thuộm về mặt tổ chức. Chẳng hạn
như cấm mang tiền vào trại, nhưng khi tiền vào trại rồi
thì tha hồ mua những thứ mà chúng nó đưa vào trại hoặc
ngang qua các anh phụ trách mua hàng ở căn-tin của chúng nó
ngay bên ngoài trại. Có lần bọn chúng đi săn được con nai,
xẻ thịt để ở căn-tin bán từ sáng đến chiều không hết,
bọn chúng mang vào bày ở giữa sân trại bán lấy tiền mặt
mà không hỏi han gì về số tiền mặt đó ở đâu ra. Sự
thể như vậy, nhưng khi chúng nó khám xét lục soát buồng
giam mà thấy tiền là tịch thu ngay trong khi chúng tôi không
thể phân bua gì được, vì trái nội qui. Cho nên mua bán có
vẻ dễ dàng, nhưng lúc nào cũng phải cất giấu tiền bạc
cẩn thận. Phần tôi, tôi giấu tiền trong cái hộp đựng
sữa bột mà tôi thường dùng loại này để gởi được nhiều
trang thư về vợ tôi. Chiếc nhẫn thì giấu trong cái túi da
đựng kem, bàn chải, xà bông, và dao cạo râu. Cái túi này
có hai lớp mà phần đáy khá dày, để vào ngay lằn xếp và
may dính vào đó.
Ðến đêm, anh em chúng tôi trong
buồng giam này cùng đón Giao Thừa bằng hoạt cảnh Sớ Táo
Quân, có đủ Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Nam Tào Bắc Ðẩu,
với Táo Quân. Nếu quí vị quí bạn đứng bên ngoài cửa
sổ đầu hồi buồng giam, sẽ thấy chúng tôi cười đến
ra nước mắt, và ngay sau đó là từng nhóm năm ba người quây
quần bên những gói bánh mứt, những cái ca cái lon nước
trà hoặc cái gì đó đựng chút cà phê. Nhóm nào trong số
chúng tôi cũng nói chuyện râm ran với ý tưởng lạc quan về
ngày ra khỏi trại tập trung, nhưng không có chuyện nào dẫn
đến kết luận rõ nét cả, vì lẽ chưa đủ yếu tố vững
chắc mà toàn là đồn đoán trong dư luận, dư luận ở Sài
Gòn, dư luận trong trại, và dư luận ngay trong buồng giam chúng
tôi.
Trong những ngày nghỉ Tết, hầu
như tất cả tù chính trị chúng tôi quây quần với cờ tướng,
bóng bàn, bóng chuyền, nhưng ba môn thể thao này có khuynh hướng
chìm dần trong khi môn bóng tròn ngày càng được anh em hâm
mộ. Vài tháng nay, hai khung thành của cái gọi là "sân banh"
có lưới bọc phía sau và hai cạnh. Lưới này đan bằng dây
thừng phế thải từ kho của trại. Anh Dương Huy Nam, Tổ Văn
Hóa, xin được gói thuốc lá đầu lọc của một bạn vừa
được vợ đến thăm nuôi, làm "chìa khóa" (hối lộ) mở
cửa nhà kho khiêng vào trại đống giây mục đứt nhiều đoạn.
Lại phải trả công bằng 2 kí lô giò heo và 2 kí lô hủ tiếu
cho mấy anh tù hình sự đan 2 lưới khung thành. Tuy không sắc
sảo nhưng không đến nỗi tệ lắm. Nói nghe nhẹ nhàng suôn
sẻ như vậy, nhưng thật ra cuộc sống trong trại tập trung
mà chúng tôi làm được những chuyện như vậy không phải
là dễ dàng, nếu như không có niềm tin vào tương lai dù chưa
biết tương lai sẽ như thế nào, cộng với những phương
tiện trong tay.
Tấm ảnh đầu tiên.
Tết năm 1984 này có sự kiện được
xem là đặc biệt. Ðó là tên trại trưởng trại Nam Hà A
-Ðại Úy Lới- cho phép gia đình anh Nguyễn Viết Tân (Ðại
Tá Hải Quân) ở lại một tuần kể từ 27 Tết, để nuôi
anh Tân trong Tình trạng bại liệt do tai biến mạch máu não.
Gia đình anh Tân gồm vợ và con gái tên Phương Nga. Nhà trực
trại dành một phòng trống nhỏ xíu để anh Tân khiêng từ
trong trại ra nằm, vợ và con anh Tân từ nhà thăm nuôi vào
đó chèm sóc anh. Hết giờ làm việc chiều, vợ con anh Tân
trở ra nhà thăm nuôi, trong khi anh Tân được các anh Phan Văn
Minh (Ðại Tá Không Quân), Nguyễn Văn May (Ðại Tá Hải Quân),
và anh Phan Văn Phương (Thiếu Tá Hải Quân) khiêng vào trạm
xá. Chị Tân và cháu Phương Nga có trường dạy "nữ công
gia chánh" cùng tên Phương Nga ở góc đường Phạm Ngũ Lão,
gần chợ Thái Bình, Sài Gòn. Chị Tân có mang theo nguyên liệu
và dụng cụ làm bánh, kể cả mua than từ Hà Nội. Nhờ vậy
mà mỗi đêm, chị Tân với "con gái rượu" của chị làm và
nướng bánh, để sáng mang vào nhà trực trại hoàn chỉnh
phần "bắt bông kem" để tặng Ban Giám Thị với trực trại
gọi là "có đi có lại cho toại lòng nhau". Chị cũng tặng
cho anh em chúng tôi gần phần nửa trong số bánh chị và con
gái của chị làm. Ðều đều như vậy trong một tuần lễ
chị được phép chèm sóc chồng.
Sáng Mồng Một Tết, theo đơn xin
của chị Tân, tôi được ra nhà trực trại ngay trước cổng
trại gặp chị. Lúc ấy cháu Nga lấy trong giỏ ra cái máy
ảnh, tôi nói khẽ:
"Nga, con cẩn thận". Vừa nói tôi
vừa chỉ tấm vách có chiều cao lưng chừng:
"Bên kia họ trông thấy và theo dõi
nghe con. Nếu họ bắt gặp con chụp ảnh, có thể họ sẽ
tịch thu cái máy, mà hổng chừng sẽ có biện pháp gì đó
trong những lần thăm nuôi sau này nữa nghe con".
"Dạ. Con cám ơn bác, con sẽ cẩn
thận. Con chụp lén cho bác một tấm ảnh đem về đưa cho
bác gái".
Thế là cháu Nga ra ngoài cửa xem
có tên Công An nào ở đó không. Vắng vẻ, cháu quay lại đứng
ngay cửa và bấm máy thật nhanh. Sau này vợ tôi đem ra mới
thấy là ảnh không rõ vì đâu có thì giờ tìm góc cạnh lấy
ánh sáng. Tuy tấm ảnh không thành công về mặt kỹ thuật,
nhưng với tôi thì thành công về tâm lý, vì từ nửa vòng
bên kia trái đất, các con tôi trông thấy tôi qua tấm ảnh
mờ mờ đó.
Ðến trước ngày hết phép, chị
Tân lại làm đơn xin cho tôi ra nhà trực trại lần nữa. Chị
nói với tôi:
"Anh biết không. Khi được trại
cho phép ở lại một tuần, má con tôi mừng lắm. Nhưng ban
đêm ở nhà thăm nuôi, má con tôi sợ lắm anh ơi! Nhà thăm
nuôi sát chân núi, bên cạnh chỉ có dãy nhà của Công An,
còn trước mặt là cái thung lũng mịt mù bóng tối. Nói thiệt
với anh, má con tôi không dám ngủ cho nên phải thức làm bánh
choán thì giờ còn hơn là nằm mà run, vì lúc nào cũng nghe
như có bước chân bên ngoài. Không biết họ canh gác tuần
tra hay rình rập ám muội gì thì không rõ, nhưng lúc nào má
con tôi cũng sợ hãi!"
"Tôi nghĩ, không phải chúng nó canh
gác gì đâu vì chúng nó đâu có sợ chị trốn mà canh giữ
chị. Nếu thật sự bên ngoài có người đi lại thì không
ai khác hơn là bọn chúng nó đó chị".
"Suốt đêm, tôi với con Nga đâu
dám ra ngoài. Hai má con cột cánh cửa dính vô cái ghế đặng
không cho bên ngoài đẩy vào. Chỉ làm được như vậy thôi
anh à".
"Thành ra tuần lễ Tết này chị
với cháu Nga vất vả quá, nhưng bù lại có được thời gian
trực tiếp chèm sóc anh Tân, phải hông chị?"
"Con Nga nó vui lắm anh".
Tôi phải vào trại ngay để kịp
đá banh. Tôi thuộc đội banh hạng B nên đá trước để còn
thì giờ cho hai đội hạng A. Tôi nói hạng A với hạng B chắc
là quí vị quí bạn nghe có vẻ như "đâu ra đó" lắm, nhưng
thật ra cứ anh nào nhanh tay lẹ chân mà biết kỹ thuật đá
banh chút ít là hạng A, còn lại là hạng B chớ có gì ghê
gớm đâu. Ðang mùa Ðông khá lạnh, cứ khoảng 5 giờ chiều
là màn đêm xuống rồi. Sân trại toàn đá dăm mà chúng tôi
gọi là "sân banh", chiều nay "khán giả" đông nghẹt. Khán
giả tù chính trị lẫn khán giả Công An vào xem. Cái lý do
thu hút khán giả hôm nay là vì có "con gái rượu" của anh
chị Nguyễn Viết Tân đứng xem. Cháu Phương Nga, khoảng 20
tuổi. Chỉ có "khán giả dân" duy nhất này trở thành cái
"đinh" của khán giả Công An. Ðội hình đội banh buồng 5
chúng tôi với chú Ðinh Vượng trong khung thành, tôi hậu vệ
thòng ở giữa, hậu vệ bên phải bên trái là anh Nguyễn Ðức
Ðào với anh Hoàng Bá Thông. Trận banh bắt đầu độ 15 phút
thì tạm ngưng, vì tên võ trang mới lên phiên gác cổng bước
vào hỏi cháu Phương Nga:
"Cô là ai mà vào đây?"
"Tôi đến thăm ba tôi là Nguyễn
Viết Tân. Thấy đá banh vui tôi vào xem".
Hắn nạt: "Ði ra ngoài ngay".
Tiếng một bạn nào đó trong số
khán giả tù chính trị chúng tôi:
"Với phụ nữ phải lịch sự một
chút chớ".
Hắn quay tìm hướng có tiếng nói:
"Anh nào phát biểu đó?"
Ðâu có bạn nào điên mà lên tiếng,
thế là hắn quê. Càng quê hắn càng tức, nhưng cũng tiết
ra một chút lịch sự: Mời cô đi ra".
Không tên Công An nào có mặt lên
tiếng cả, vì đó là quyền của tên võ trang gác cổng. Lại
có tiếng của một bạn tù chính trị: "Vừa phải thôi chứ".
Hắn không lườm lườm tìm ai nói
nữa mà theo cháu Phương Nga ra cổng, rồi leo lên "chuồng cu"
tiếp tục nhiệm vụ gác cổng.
Những ngày Tết trôi qua... Ðội
5 chúng tôi trở vào thung lũng cỏ tranh, chuẩn bị đất xuống
10.000 cọng hom khoai mì cho "chỉ tiêu" năm 1984. Ngày đầu tiên
vào thung lũng, tên Cảnh -quản giáo- và tên Minh -võ trang-
đồng ý cho Ðội chúng tôi nghỉ trọn ngày. Tôi ướm thử
tên quản giáo:
"Nhân ngày Tết, cán bộ có thể
cho một số anh em chúng tôi sang khu nghĩa trang cắm nhang cho
bạn bè nằm ở đó được không cán bộ?"
Hắn suy nghĩ một lúc:
"Tôi đồng ý nhưng anh phải hết
sức cẩn thận, Vì mấy ổng thấy chẳng những mấy anh bị
mà tôi cũng bị kiểm điểm nữa đó".
Tôi dặn chú Hổ lo cơm trưa cho
hắn. Chú chịu khó đi dọc theo thung lũng nhổ cải trời về
luộc ăn với thịt heo kho cũng được lắm nghe chú. Tôi với
10 anh nữa vẹt lau sậy và nhanh chân sang chân núi, nơi có
một số mộ của các bạn. Ðến nơi, tôi trao mỗi anh 5 cây
nhang do hôm trước chị Tân cho tôi. Chúng tôi chia ra mỗi bạn
đi một hướng, cứ thấy ngôi mộ thì khấn vái cắm nhang
mà không phân biệt mộ của ai. Thật ra cũng khó nhận ngôi
mộ lắm, vì mấy anh tù hình sự đấp sơ sài rồi trâu bò
đạp lên, nên thấy đất cao cao một chút có vẻ như ngôi
mộ là cắm nhang. Trong khi một số bạn theo tên võ trang vào
làng cùi, xem họ ăn Tết ra sao, và nếu có gì mua được thì
mua.
Sau khi trở về chòi, tôi với anh
Thống đi vòng quanh khu trồng cây "so đũa" mà bộ phận kế
hoạch giao Ðội chúng tôi trồng thử. Chúng tôi trồng hai
bên đường mòn dọc theo dòng nước quanh co giữa thung lũng,
khi nó cao ngang đầu người trông đẹp lắm. Cây "so đũa"
là cây nhiệt đới, bông của nó nấu canh chua hoặc xào ngon
lắm, vì trên đầu của bông có cái hộc nhỏ chứa một chút
mật, còn thân cây làm củi. Mùa hè và mùa thu, cây so đũa
phát triển tốt như trồng ở miền Nam vậy, nhưng mới hai
tháng mùa đông nó khuỵu hết trơn.
Trồng khoai mì xong, chúng tôi phải
trồng 1.200 hốc bí rợ mà họ gọi là bí đỏ, sau bí rợ
là trồng bí đao mà họ gọi là bí xanh. Bí rợ trồng theo
hốc cho bò lên những tảng đá, bí đao trồng theo luống và
làm giàn hình chữ A, cao 8 tấc (0.8 thước), để hai hàng giây
bí leo lên. Vì thung lũng này toàn đá tảng, cho nên có những
giàn bí chỉ có năm bảy giây mỗi bên thôi.
Tổ Văn Hóa.
Một buổi chiều về đến cổng
trại, tên Lực trực trại điểm số cho Ðội vào, nhưng hắn
bảo tôi:
"Anh cứ để Ðội vào, còn anh
đứng lại".
Khi Ðội vào trại xong, hắn ra lệnh:
"Ngay chiều nay, anh nhận bàn giao
của anh Dương Huy Nam với trách nhiệm Tổ trưởng văn hóa,
vì anh Nam được tha ra trại. Nhận xong, anh dọn tư trang sang
buồng 7".
"Cán bộ làm tôi bất ngờ quá".
"Thôi. Vô trại lo công việc đi,
ở đó mà bất ngờ với không bất ngờ".
Anh Dương Huy Nam là đảng viên Việt
Nam Quốc Dân Ðảng nhưng tôi không rõ anh thuộc hệ phái nào,
nhưng có điều tôi thắc mắc anh là thành viên đảng chính
trị mà lại được ra trại một mình.
Anh Nam hướng dẫn tôi phải làm
gì, khi có đơn thăm nuôi từ trực trại đưa vào, khi có báo
do bộ phận giáo dục đưa vào, cho mượn sách và đòi sách,
tổ chức vài môn thể thao để anh em vui Tết, nói chung là
chẳng có gì gọi là quan trọng cả, vì tên Vũ Quấc là Tổ
Trưởng Giáo Dục mà Tổ văn hóa này dưới quyền hắn. Nói
cho dễ hiểu là làm theo lệnh của hắn chớ có tự mình đâu.
Cái công tác tham mưu có gì ghê gớm mà Vũ Quấc cứ hỏi
tôi:
"Anh có nắm được không?"
"Báo cáo "ban" có".
Ở trại tập trung này, tất cả
tù chính trị chúng tôi lẫn tù hình sự, phải gọi những
Công An dù là lính, hạ sĩ quan, hay sĩ quan, là "cán bộ". Nhưng
còn một "tầng lớp" nữa mà chúng tôi phải gọi là "ban".
Ban, nguyên chữ là "Ban Giám Thị" nhưng gọi tắt là ban. Khi
đứng trước tên nào đó trong thành phần Ban Giám Thị mà
cần báo cáo, phải nói: "báo cáo ban" …. Ban Giám Thị trại
này chỉ năm ba người gì đó tôi không rõ, nhưng trường
hợp Vũ Quấc mà anh em tù cũ -trước khi chúng tôi từ Yên
Bái đến đây- đều gọi là "ban". Do vậy mà khi cần nói
gì với hắn, phải mở đầu: "Báo cáo ban" trở thành cái
lệ không miễn trừ, dù hắn không thuộc thành phần để
được gọi là "ban", nhưng nếu gọi hắn là cán bộ thì cái
mặt của hắn trở nên cau có và có chuyện ngay.
Hắn nói thêm: "Anh có điều gì
không rõ phải hỏi anh Nam để được hướng dẫn".
"Báo cáo ban, tôi không có gì phải
hỏi thêm".
Tôi đang muốn ra sân Vì trận banh
gọi là tiễn anh Dương Huy Nam ra về, đang ồn ào ngoài sân
trại. Sở dĩ có trận banh "giao hữu" giữa Ðội banh tù chính
trị chúng tôi với Ðội banh Công An "cai tù" để tiễn anh
Nam, Vì phong trào đá banh bắt đầu từ anh Nam, nối vào anh
Phước về tổ chức, và tôi phụ trách cung cấp banh do vợ
tôi xin của các chị bạn. Cuối cùng tôi cũng vào đá hiệp
hai. Ðội tù chúng tôi thắng Ðội cai tù 4-2.
Trở lại Tổ Văn Hóa. Năm 1978,
khi chúng tôi từ trại Yên Bái chuyển xuống đây, văn phòng
Tổ Văn Hóa trong gian nhà ọp ẹp mà họ gọi là "câu lạc
bộ". Trong một cơn mưa giông đã đè cái câu lạc bộ nằm
sát mặt đất, mới chuyển vào khuôn viên buồng giam số 10,
sử dụng gian nhà để đồ đạc làm văn phòng, còn buồng
10 làm nơi hội họp và được gọi là "hội trường".
Tổ Văn Hóa, ngoài Tổ trưởng,
còn có cụ Hoàng Văn Úy (Việt Nam Quốc Dân Ðảng), anh Ðinh
Tiến Dũng (Thiếu Tá An Ninh Quân Ðội. Anh Dũng là em ruột
của kịch sĩ Thanh Hoài), anh Khiêm (Thiếu Tá bộ binh), và
bạn tù trẻ Ðinh Vượng (tổ chức Phục Quốc). Ðó là trong
văn phòng, còn phụ trách làm vườn trong khuôn viên buồng
10 là ông Vũ Văn Vỵ (đảng chính trị). Công việc gồm có:
- Nhận đơn thăm nuôi do trực trại
đưa vào, ghi vào sổ, gọi các anh có gia đình đến thăm,
hướng dẫn ra cổng cho trực trại.
- Nhận báo. Vài ba ngày tên Vũ Quấc
hoặc tên Dục -phụ tá tên Quấc- đem vào một lần. Chuyển
đều cho các buồng (tù hình sự không có). Khi các buồng hoàn
trả, cho vào tủ cất.
- Trong trại có xảy ra việc gì
làm mất trật tự thì đến giảng hòa, nếu không được
thì báo cho đám trực trại vào giải quyết. Các buồng giam
tù hình sự đánh đấm đâm chém như cơm bữa, không đánh
nhau cũng là tranh cãi ồn ào.
- Nếu có bạn nào bệnh bất ngờ,
đi mời bác sĩ (cũng là bác sĩ tù) ở trạm xá lên hoặc
khiêng bệnh nhân xuống trạm xá.
- Ðiều hành công việc cho mượn
sách. Trong ngăn sách có khoảng 700 cuốn, có đến hơn phân
nửa là sách dịch của Nga.
- Vài ba tháng, bộ phận giáo dục
có đem phim vào chiếu ở sân trại. Thông báo các buồng đến
xem. Phần lớn là phim của Nga.
- Tổ chức văn nghệ và thể thao
nhân ngày Tết, do anh em chúng tôi thực hiện.
Trại trưởng mới, tù dễ thở.
Bận rộn nhiều nhất của chúng
tôi là đá banh. Từ đầu năm 1984, chúng tôi được tổ chức
đá banh nếu có thì giờ chớ không cần đến ngày nghỉ nữa.
Thường thì các Ðội làm thông tầm về trại khoảng 2 đến
3 giờ chiều, hễ "cáp độ" được là ra sân đá ngay. "Cáp
độ mà tôi dùng ở đây, được hiểu là có được hai Ðội
thì đá chớ với nhau cho vui, chớ không mang tính chất ăn
thua bằng vật chất. Xem như phụ trách cáp độ là ông Lê
Phước Thưởng (đảng chính trị), tuy lớn tuổi nhưng tinh
thần thể thao còn cao lắm. Ông thường đến các buồng cáp
độ ra sân, có khi cáp độ ngay tại chỗ lao động nữa. Ông
là cầu thủ Ðội "lão tướng", đá hậu vệ, nhưng nhớ khoảng
sau 10 phút là phải đưa lão tướng khác vào thay, để ổng
ra ngoài đứng thở.
Ðội banh lão tướng chúng tôi gồm:
Anh Cao Văn Ủy thủ môn, ông Lê Phước Thưởng, ông Nguyễn
Hữu Vị (Phủ Ðặc Ủy Tình Báo), ông Lê Văn Sớt (Phủ Ðặc
Ủy Tình Báo), anh Phạm Kim Tấn góc trái (Trung Tá Cảnh Sát),
anh Nguyễn Thành Long (Phủ Ðặc Ủy Tình Báo), và anh Trương
Ðình Thăng (Ðốc Sự Hành Chánh). Nhưng chỉ sau hai trận thì
Ðội banh "trẻ" phản đối cầu thủ Thăng dữ quá, với lý
do cầu thủ lão tướng mà chưa đến 50 tuổi. Thế là phải
"loại" anh Thăng ra và đưa cầu thủ Bùi Ðức Tài vào. Anh
Tài là cầu thủ góc mặt. Tôi phụ trách trọng tài có cái
còi hẳn hòi, chỉ vào trận khi thiếu "lão cầu thủ".
Trong khi "phong trào" đá banh -tạm
gọi như vậy- giúp anh em chúng tôi không bị nhốt trong buồng
giam, thỉnh thoảng tên Vũ Quấc(tên của hắn viết như vậy
đó), cán bộ giáo dục trại vào kiếm chuyện. Có hôm hắn
nói đá banh gây ồn ào trong trại, có hôm hắn dọa đóng
cửa buồng giam, và rồi hắn yêu cầu tên Lực, cán bộ trực
trại nhốt tất cả vào buồng giam, nhưng tên Lực trả lời
là Ban Giám Thị cho phép. Vì đó là quyền của trực trại
nên hắn im. Trong thời gian gần đây, tên Quấc tỏ ra lấn
quyền Trưởng Trại A mà tiêu biểu là gần như quyết định
về thời gian thăm nuôi của tù chính trị chúng tôi. Không
rõ hắn với Ðại Úy Lới -Trưởng Trại A- như thế nào mà
mỗi khi hắn cho ý kiến "thuận" sau khi nhận tiền đút lót,
thì hầu như Trưởng Trại đều chấp thuận đơn xin thăm
gặp gia đình theo ý kiến của hắn. Theo tên Dục, phụ tá
cho hắn thì hắn đang âm mưu "hạ bệ" tên Lới để hắn
lên nắm chức Trưởng Trại A này.
Dưới nét nhìn của chúng tôi, tên
Thịnh "khuỳnh" trực trại là loại ác ôn về những sinh hoạt
của tù trong phạm vi quyền hạn của hắn, trong khi Vũ Quấc
vừa độc vừa đểu khi hắn cho ý kiến cái gọi là "nhận
xét về mức độ cải tạo" của tù. Có thể nói một cách
chắc chắn rằng, không một tên Công An nào trong trại Nam
Hà A này chơi với hắn cả.
Cuối cùng thì trại Nam Hà A cũng
có Trưởng Trại mới, nhưng không phải Vũ Quấc, mà là Ðại
Úy Công An Bùi Dênh. Cũng từ đó, tên Vũ Quấc mờ dần ở
vị trí "cán bộ giáo dục trại A". Vẫn theo tên Dục, những
đơn xin thăm gặp gia đình của tù chính trị, tuy rằng Vũ
Quấcvẫn có ý kiến nhưng không còn tính cách quyết định
như thời tên Lới nữa. Tuy Bùi Dênh là loại "vai u thịt bắp",
nhưng hắn có chút ít cởi mở đối với tù chính trị chúng
tôi. Tôi nhấn mạnh về "chút ít cởi mở" của Bùi Dênh,
là do chính hắn sau một chuyến công tác trong Nam trở về
Bắc, chớ không phải cởi mở do chính sách của Bộ Công
An. Tiêu biểu cho "chút ít cởi mở" đó là Bùi Dênh cho phép
gặp gia đình 24 tiếng đồng hồ, đôi khi được 48 tiếng,
và có trường hợp bệnh hoạn cần gia đình chèm sóc sẽ
được xét thăm gặp trọn tuần. Mặt khác, Bùi Dênh còn khuyến
khích chúng tôi tiếp tục giữ "phong trào" đá banh.
Phải công nhận rằng, được thăm
gặp một ngày hay hai ngày, nói chung là nhiều giờ, ngoài chuyện
riêng tư còn giúp vợ chồng hiểu sâu thêm hoàn cảnh gia đình
nhất là cuộc sống và học hành của các con, sau khi chúng
tôi bị đẩy vào các trại tập trung. Từ đó, người chồng
có cơ hội "rót" vào tai vợ những lời khen nhẹ nhàng, người
cha "rót" vào tai con những lời khuyến khích nồng nhiệt cùng
với những hướng dẫn cần thiết, bởi lời khuyến khích
hay lời hướng dẫn của những người chồng người cha bị
nhốt trong bốn bức tường trại tập trung có ảnh hưởng
mạnh mẽ, nếu như khéo léo tế nhị trong cung cách xử sự
với vợ với con. Và cao hơn nữa, trong một đôi ngày bên
nhau có khả năng củng cố thêm tình cảm thân thương gia đình,
nâng đỡ thêm nghị lực để vượt qua cuộc sống đầy bất
trắc trong xã hội mà nhóm lãnh đạo cuồng tín cai trị, luôn
ập lên đầu gia đình các sĩ quan viên chức và cán bộ Việt
Nam Cộng Hòa cũ!
Nhìn chung, trong đầu trưởng trại
Bùi Dênh có mưu định gì thâm độc đối với tù chính trị
chúng tôi hay không thì không rõ, nhưng có điều trước mắt
là anh ta tạo không khí giảm bớt tính cách hà khắc với
chúng tôi. Nhớ lại thời trưởng trại Huy "hô", cái không
khí trong trại tập trung này lúc nào cũng nghẹt thở, bởi
những gì xếp vào loại hắc ám nghiệt ngã đều có ở đây.
Cho đến cuối thời tên Huy có nới lỏng đôi chút do các
anh em Ðội Trưởng chúng tôi tranh đấu đòi hỏi, như ban
đêm đem đồ vật vào buồng giam để tránh mất trộm, và
nấu ăn có thêm dinh dưỡng. Thời trưởng trại Lới "lé",
sự sa ngã của đám Công An từ trực trại, quản giáo, võ
trang, đến đám Công An hướng dẫn thăm nuôi rất rõ nét,
chung qui do tù chính trị chúng tôi mua chuộc bằng tiền và
nhất là bằng vật chất. Vì bất cứ sản phẩm gì do xã
hội xã hội chủ nghĩa sản xuất với phẩm chất quá ư tồi
tệ, nên những sản phẩm mà anh em chúng tôi có là từ ngoại
quốc gởi về, hoặc ít nhất là do sản xuất trong miền Nam
vẫn cao hơn, nên khả năng thu hút họ rất mạnh trước cuộc
sống thiếu thốn của họ.
Thấy đám trực trại cũng như đám
quản giáo buồng giam giảm bớt mức độ khắc khe, từng bước,
các anh trực buồng giam xới khoảnh đất bé xíu phía sau buồng
để trồng vài luống rau có thêm chất dinh dưỡng. Dần dần
những bầu những mướp đậu rồng đậu đũa che kín bờ
tường, bên dưới thì hành ngò cải xanh cải bắp ớt cà
xanh tươi. Không thấy phản ứng của họ, nhóm chúng tôi trong
tổ văn hóa cũng xới khoảnh đất phía sau "hội trường"
trồng rau trồng đậu. Nhìn vào chẳng bao nhiêu, nhưng thật
sự những hoa màu ít ỏi đó cũng góp phần đáng kể cho bữa
ăn của chúng tôi, nhất là các anh bị bệnh kinh niên.
Về "thư chui" mà trong suốt thời
gian trong Ðội trồng rau tôi gởi vào "hộp thư chết", nhưng
khi vào tổ văn hóa thì tôi rất lo là không biết phải bằng
cách nào để tiếp tục gởi thư chui. Nhưng rất may là có
chú Ðinh Vượng rất trẻ, thường giúp đám trực trại những
thứ lặt vặt mà chúng nó cần, nên chú được đám trực
trại cho ra vào cổng trại với nhà trực trại khi cần. Do
vậy mà tôi nhờ chú lận lưng "thư chui" đưa ra cho anh tù
hình sự từ nhà thăm nuôi vào trực trại, hoặc vào bếp
của Công An bên ngoài trại. Một đôi khi chú Vượng ra tận
nhà thăm nuôi, bằng cách len lỏi luồn lách giữa các dãy
nhà lụp xụp của Công An, rồi xuống lưng chừng triền núi
ra tận nhà thăm nuôi, tạt vào nhà của đám Công An phụ trách
ở đây để mời chúng nó hút thuốc hay biếu gói cà phê,
sau đó xin phép chúng nó chạy qua nhà thăm nuôi đưa cho các
bà các chị thăm tù chính trị chúng tôi nữa. Phải có "tí
hối lộ" với vài lời "giao tế" như vậy mới "thuận buồm
xuôi gió".
Công việc tương đối nguy hiểm,
nhưng Ðinh Vượng nhanh tay lẹ chân mà lại mau miệng nữa,
nên chẳng mấy khi bị chúng nó bắt tại trận, chẳng qua
là nghi ngờ thôi. Nếu bị bắt, Ðinh Vượng xuống nước
năn nỉ, điều mà các anh lớn tuổi như chúng tôi không thể
hạ mình làm như vậy. Lại có khi Ðinh Vượng mang vào trại
một lúc đến mấy ngàn đồng trao lại các bạn, và hoàn
toàn mang giùm chớ không nhận đồng thù lao nào cả. Trước
kia Ðinh Vượng là chuyên viên cơ khí phục vụ Sư Ðoàn 3
Không Quân, bị bắt năm 1976 khi tham gia vào tổ chức Phục
Quốc.
Tổ văn hóa chúng tôi lại dọn
sang buồng giam số 1, ở chúng với tổ văn nghệ của anh Phạm
Kim Qui, và tổ chèn nuôi của anh Chu Mạnh Bích (Ðại Úy Không
Quân).
Những màn kịch cỡm.
Vào hạ tuần tháng 1 năm 1985, hơn
100 anh được ra về. Trước ngày chánh thức có lệnh tha ra
trại, nhiều tin đồn đãi đưa vào trại là người này có
tên người kia có tên, bắt nguồn từ những Công An "tóc dài"
có liên lạc buôn bán chui hoặc thường nhờ vả thuốc men
của tù chính trị. Anh Huỳnh Văn Châu (Không Quân) đang trong
tổ thợ điện của trại, chạy tìm tôi đang chèm sóc vườn
rau "mini":
"Anh ơi! Em có tên về rồi. Con "Hoa
điện" vừa cho em hay và em đã hỏi lại thì đúng rồi".
"Hoa điện" là tổ trưởng điện,
là quản giáo của anh Châu.
"Hay quá. Vậy thì anh có thì giờ
thu xếp chuyện gia đình cho ổn, chớ tình trạng của anh mà
còn kéo dài, tôi e là gãy gánh thiệt đó".
"Em cũng lo lắm anh".
"Hãy cố lên. Ðã có được thời
gian, anh đừng để vấn đề vuột khỏi tầm tay nghe Châu".
Anh Ngợi cũng tìm tôi:
"Anh ơi! Em cũng có tên về rồi
Anh. Anh Châu có nói với anh chưa?"
"Có. Châu mới nói với tôi đây.
Anh về là nhanh tay lẹ chân tổ chức đám cưới cô bạn gái
chờ anh hơn chục năm rồi. Tình yêu như vậy tôi cho là đẹp
lắm, vì thời gian thử thách quá dài".
"Em sẽ cố gắng nhưng phải về
mới biết rõ sự việc".
Phải nhận rằng, anh em tù chính
trị chúng tôi xôn xao trong ý nghĩa tốt, có thể nói vui vẻ
là khác. Tối đến, anh Châu với tôi ngồi đối diện hai
bên sàn gác. Châu nói:
"Anh ơi! Một trăm mấy anh em mà
tụi nó chia làm hai chuyến đi, cách nhau vài ngày, và nghe đâu
chuyến thứ nhì có quay phim nữa".
"Liệu về kịp Tết hông Châu?"
"Con Hoa nó nói em về đến Sài Gòn
trước giờ Giao Thừa. Thôi thì miễn về là được rồi anh,
sớm muộn cũng không sao".
Quả thật khi họ đọc danh sách
thì những anh được thông báo trước đều đúng, và đi làm
hai chuyến cũng đúng luôn. Ngay sau khi họ đọc danh sách ra
trại, tổ văn hóa chúng tôi bận tíu tít, Vì họ bảo viết
đến mấy bản danh sách, cùng lúc gọi các anh đến "hội
trường" làm thủ tục. Anh Khiêm trong tổ văn hóa được về
trong đợt này. Anh em có tên ra về cùng với khá đông anh
em không có tên cũng có mặt trong khuôn viên buồng 10, về
thì vui đã đành nhưng chưa về cũng vui, vì nhắn gởi về
gia đình. Tụm năm tụm ba trò chuyện khá ồn ào, pha lẫn
trong tiếng của đám Công An gọi từng anh vào làm thủ tục.
Chuyến thứ nhất lên xe trại ra Phủ Lý để lên Hà Nội,
các bạn trong chuyến thứ nhì chuẩn bị cho đoàn quay phim
dường như của Thụy Ðiển đang thu hình các Ðội trồng
rau gánh rau về trại. Cứ mỗi lần có phái đoàn đến thăm
trại cho dù là cộng sản hay tư bản thân cộng, Bộ Công
An từ Hà Nội xuống hướng dẫn trại trưởng tổ chức màn
kịch để phô trương. Muốn phô trương phải che giấu cái
tồi tệ của họ, mà chính vì che giấu lại làm cho màn kịch
của họ trở nên tồi tệ hơn. Mời quí vị quí bạn theo
dõi 3 màn kịch tồi.
Màn kịch thứ nhất.
Thật là vô duyên khi hai đội banh
tạp nham bị bắt buộc vào sân đấu với nhau để họ quay
phim. Theo lời của đám trực trại thì Bộ Công An muốn đoàn
quay phim ngoại quốc thấy cảnh sinh hoạt của tù chính trị,
nhưng theo chúng tôi nhận xét thì nhóm quay phim chú trọng thu
hình những lối ra vào khu vực các buồng giam, vì họ đặt
hai máy thu hình ở hai đầu sân thu hình sự đi lại của anh
em chúng tôi ra vào các hành lang đó. Không hiểu họ khai thác
góc cạnh nào trong sự đi lại của anh em chúng tôi, nhưng
rõ ràng là họ chú trọng những hình ảnh đó hơn là trận
banh trên sân.
Ðến tổ dịch tài liệu do anh Lại
Ðức Chuẩn phụ trách, được chọn lọc hẳn hòi chớ không
phải toàn tổ đều tham dự trình diễn tại hội trường,
trong khi tổ văn nghệ do anh Phạm Kim Qui phụ trách trình diễn
nhạc hòa tấu. Trong màn này có lẽ họ muốn phô trương "sinh
hoạt của tù chính trị trí thức" là như vậy đó.
Màn kịch thứ hai.
Sau đoạn phim về trận banh tạp
nham với hai tổ dịch thuật và văn nghệ, đến đoạn phim
tù chính trị ăn cơm chiều với "thực đơn" đặc biệt. Ðám
trực trại cho dọn cái gọi là nhà ăn của buồng giam số
1, để ở đó một cái bàn với sáu ghế ngồi. Cả mấy trăm
tù chính trị mà chỉ có một bàn ăn duy nhất, làm sao che
giấu cái bản chất dối trá trước phái đoàn truyền thông
quốc tế? Vậy mà họ vẫn cứ thực hiện. Sáu anh tù chính
trị được chỉ định ngồi vào bàn ăn "kịch cỡm" này,
họ bắt phải mặc áo quần mà họ nói là đẹp nhất. Tôi
với cụ Hoàng Văn Úy đến từng anh thuyết phục nên mặc
đồ thường thôi, Vì hy vọng đoàn quay phim này sẽ có tác
dụng thuận lợi cho mình khi họ phổ biến trên hệ thống
truyền thông thế giới. Các bạn đồng ý, nhưng củng cố
gắng một chút tươm tất, nếu không sẽ không yên với đám
an ninh của trại. Tôi và anh Long đứng nhìn nhóm Thụy Ðiển
thu hình. Anh chàng chuyên viên chỉ đưa ống kính quét một
lượt phần trên bàn, rồi anh ta ngồi bệt trên sàn xi-măng,
đưa ống kính vào các ống chân bàn chân của "thực khách"
và thu thật chậm nên không sót bàn chân anh nào cả. Ðó là
những bàn chân nứt nẻ bị bùn đen bám vào, cộng với nước
phèn ngấm vào da, làm cho những bàn chân trở nên sàm sỡ,
và người quay phim khai thác một cách rất nghệ thuật về
những chứng tích không thể chối cãi trong trại tập trung
của cộng sản Việt Nam.
Màn kịch thứ ba.
Lúc ấy trời tối hẳn, vì mùa
đông nên thì giờ ban ngày ngắn hơn thì giờ ban đêm. Họ
hoàn toàn thu hình mà không hỏi bất cứ ai về bất cứ điều
gì. Nhóm quay phim Thụy Ðiển yêu cầu Công An cho mở các phên
cửa sổ để có chút ánh sáng thu hình vài sinh hoạt trong
buồng giam số 1. Nghe thông dịch xong, tên Công An từ Hà Nội
xuống ra lệnh cho Công An trại:
"Không được. Nói với chúng
nó nếu mở tấm phên thì mấy anh này chịu lạnh không nỗi".
Thật ra không phải đám Công An
Hà Nội sợ tù chính trị chúng tôi lạnh đâu, và đây là
bằng chứng vẫn do tên Công An Hà nội nói:
"Bọn này ghê lắm! Chúng nó quay
toàn những cảnh không như Bộ hướng dẫn chúng nó trước
khi vào trại. Không cho chúng nó quay nữa".
Sau cái lệnh không cho mở tấm phên
cửa sổ, anh chàng chuyên viên thu hình Thụy Ðiển cao lêu
nghêu, lặng lẽ ra chỗ xe của anh ta ngoài sân đem vào cái
ống trắng giống ống đèn néon nhưng lớn một chút, dài
khoảng 6 hay 7 tấc gì đó. Hóa ra cái ống ấy là đèn điện
tử, tỏa một vùng ánh sáng thật dịu nhưng thật mạnh trong
khoảng chừng một thước vuông, đủ để họ lần lượt
thu hình 3 quang cảnh. Cảnh 1 là anh Ðặng Hoàng Long (họa sĩ
và là thông dịch viên Anh ngữ) cùng với một bạn nữa (dường
như là anh Bửu Uy) đang đánh cờ tướng. Cảnh 2 là anh Nguyễn
Hữu Vị (Trung Tá, Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo) có hàm
râu dài trắng phếu, đang ngồi vá chiếc áo mùa đông, trông
thật là buồn! Và cảnh 3 là anh Phạm Văn Thuần (Ðại Tá,
Phủ Thủ Tướng) dưới ánh đèn leo lét đang cắm cúi viết
"thư Tình già" gởi về cho "má bầy trẻ". Cái gọi là bàn
viết của anh Thuần chỉ là cái mền chồng lên cái gối do
mấy bộ quần áo tù cuộn lại. (Mấy tháng sau đó, con gái
của anh Vị từ Paris gởi về anh Vị tấm ảnh "anh ngồi vá
áo" do chụp lại từ trong tivi mà cuộn phim đó trình chiếu
trên hệ thống tivi nước Pháp).
Trước khi rời trại, một anh chàng
trong nhóm quay phim của Thụy Ðiển cầm cái micro dài, đứng
giữa sân áng chừng 5 phút, trong khi anh chàng quay phim thu hình
anh ta. Trại trưởng Dênh nói với đám trực trại đang đứng
nhìn:
"Cứ để nó thu, cho nó thấy
sự yên tĩnh trong trại. Ðiều đó tốt thôi".
Hôm sau, các Ðội xuất trại xong,
tên Niệm -phụ trách giáo dục của toàn trại- vào tổ văn
hóa:
"Anh Hoa. Anh Vũ Tiến Phúc có đi
lao động không?"
"Tôi không biết cán bộ".
Hắn quay sang tên Lực trực trại:
"Ðồng chí Lực, cho người xuống
đồng tìm anh Phúc, bảo về trại ngay".
Nửa giờ sau, hắn nói với anh Phúc
đang đứng trước mặt:
"Anh đã có tiến bộ về tư tưởng
thông qua phóng sự do đài truyền hình Cần Thơ thực hiện
hai tháng trước. Ông Bộ Trưởng xem xong đoạn phim đó ra
lệnh thả anh về. Anh tiến hành thủ tục ra trại ngay hôm
nay để cùng về với toán kia".
Xin nói thêm một chút. Khoảng năm
1977, lúc bị nhốt trong trại tập trung trên Yên Bái, anh Vũ
Tiến Phúc có nói với tôi rằng, anh có liên hệ gia đình
với cộng sản Võ Trần Chí, Bí Thư thành ủy Sài Gòn mà
chúng nó lắp cái tên ông Hồ vào chữ Sài Gòn. Theo người
nhà của anh cho biết, thì Võ Trần Chí muốn lãnh anh ra trại
nhưng anh không chấp nhận. Anh nói anh không muốn dính dáng
tới cộng sản dù là anh em.
Về đoạn phim mà tên Niệm gọi
là "phóng sự", thật ra anh em tù chính trị chúng tôi không
ai biết về cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Cần Thơ
tại trại Nam Hà A này cả. Chỉ biết là họ có thu hình anh
Vũ Tiến Phúc và anh Lâm Chánh Ngôn (Ðại Tá, Sư Ðoàn 21 Bộ
Binh). Hôm đó là buổi chiều, họ thu hình hai anh đứng cuốc
đất trên khoảng đất nhỏ xíu ngay góc cái giếng lớn cạnh
cổng chánh của trại. Khoảng đất "đầu thừa đuôi thẹo"
này chưa bao giờ trồng trọt gì cả. Còn phỏng vấn lúc nào
và ở đâu, chúng tôi hoàn toàn không hay biết. Nếu cho rằng
đài truyền hình Cần Thơ muốn phỏng vấn những cựu sĩ
quan Việt Nam Cộng Hòa từng phục vụ vùng đồng bằng Cửu
Long mà đài truyền hình này xem là địa phương, thì đâu
phải chỉ có anh Phúc và anh Ngôn, mà có các anh Nguyễn Văn
Của, Nguyễn Văn May, Huỳnh Thanh Sơn, và nhiều nữa. Phải
chèng đó chỉ là cách nói của trại như là lý do ra về của
anh Phúc do ông Bộ Trưởng "tử tế và rộng lượng quá",
chỉ cần lúc nhàn hạ ngồi xem một đoạn phim là đủ yếu
tố để quyết định thả tù, loại tù mà ông Thủ Tướng
Phạm Văn Ðồng đã tuyên bố là không thể tha thứ.
Buổi trưa, tất cả các anh rời
trại chuyến thứ hai, cộng thêm anh Vũ Tiến Phúc, tập trung
ở khuôn viên buồng 10 chờ lên xe ra Phủ Lý. Ðám trực trại
không cho tiếp xúc với anh em còn ở lại. Lệnh là như vậy,
nhưng giờ trưa chẳng có tên nào vào trại, thế là anh em
chúng tôi tha hồ nhắn gởi về nhà.
Khi tập trung để đám trực trại
điểm số, cũng là lúc nhóm quay phim Thụy Ðiển làm công
việc thu hình. Nhóm này thu hình khi anh em ra cổng trại đi
bộ lên chỗ xe buýt đậu trước nhà tên Trung Tá Lưu Văn
Hán, trại trưởng toàn trại Nam Hà. Nghe đám trực trại nói
chuyện, mới biết là nhóm quay phim Thụy Ðiển thu hình tại
nhà ga Hà Nội, sau đó lên phi cơ vào Sài Gòn để thu hình
các anh tại nhà ga Hòa Hưng.
Tháng sau đó, một anh bạn được
vợ đến thăm, nhờ đó mà anh em chúng tôi biết nhóm quay
phim Thụy Ðiển theo anh Ðoàn Viết Cảnh -trong số được
tha- và gia đình về đến nhà, nhưng không rõ là họ có phỏng
vấn gì không.
Khoảng hai tháng sau đó, tên Lực
trực trại, vào buồng giam số 1 chúng tôi nói chuyện linh
tinh. Sau khi uống tách cà phê, hắn nói:
"Mấy thằng Thụy Ðiển đểu
lắm. Nó quay phim các anh ở đây nó không hỏi ai điều gì,
nhưng khi về bên đó nó thuyết minh ngược lại hết làm cho
Bộ Công An bị phê bình dữ dội".
"Họ thuyết minh thế nào vậy cán
bộ?"
"Khi thu hình Ðội trồng rau trên
đường về trại, Ban Giám Thị bảo bó cuốc xẻng lại và
vác về cho nó thấy là cẩn thận, nhưng lời thuyết minh trong
phim cho rằng trại bắt các anh vác củi về cho trại sau giờ
lao động. Nó nói như vậy là vì nó chỉ thu hình từ phía
trước, mà phía trước chỉ là những cán cuốc cán xẻng
chớ đâu thấy lưỡi cuốc lưỡi xẻng. Còn lúc nó đứng
thu âm thanh ở giữa sân, nó thuyết minh là sự khắc nghiệt
đến mức mà hằng ngàn tù nhân cũng không dám phát ra một
âm thanh nào cả, nghĩa là một không khí im lặng đến ghê
rợn! Ðểu đến thế!"
"Ðúng là chúng nó đểu rồi". Ðó
là lời của cụ Hoàng Văn Úy nói theo kiểu vuốt đuôi tên
Lực, nhưng trong lòng anh em chúng tôi thầm cười "cái đểu
rất đểu với bọn cộng sản quá đểu". Thế là những màn
kịch tồi đã bị nhóm thu hình Thụy Ðiển vạch trần một
cách nghệ thuật. Xin cám ơn các bạn Thụy Ðiển trong nhóm
quay phim ấy.
Lại một cái Tết trong tù.
Sau khi các anh thuộc chuyến thứ
hai ra về, tù chính trị chúng tôi còn lại vừa hơn 400, chuẩn
bị "ăn Tết". Tết đầu 1985 này có cái đặc biệt, rất
đặc biệt. Ðó là trại trưởng Bùi Dênh cho phép tất cả
vợ con của tù chính trị đang có mặt tại nhà thăm nuôi
tính đến ngày 30 Tết, được ở lại "ăn tết" với chồng.
Theo cái lệnh đặc biệt đó, các anh sau đây được sống
với vợ con trong 3 ngày Tết: Anh Vĩnh Thái, (Trung Tá Nhảy
Dù), anh Trần Hiệp Thới, anh Nguyễn Minh Công, anh Huỳnh Quang
Minh, và anh Huỳnh Chí Tài (anh Tài quốc tịch Hong Kong).
Lần đầu tiên, sáng Mồng Một,
phái đoàn tù chính trị gồm các anh Ðội Trưởng và Tổ
Trưởng, do tên Dục hướng dẫn lên nhà trại trưởng chúc
Tết. Nhưng Lưu Văn Hán, trại trưởng toàn trại đã về quê
ăn Tết, giao lại cho Ðại Úy Tân, phụ trách giáo dục toàn
trại. Tên Niệm mở đầu:
"Nhân ngày đầu năm, Ban Giám Thị
muốn tiếp xúc với đại diện trại viên (họ gọi tù chính
trị chúng tôi là trại viên) và các gia đình đang được
thăm gặp thân nhân, để chuyển lời thăm hỏi và chúc mừng
đầu năm của Trại Trưởng. Bây giờ mời một anh đại diện
phát biểu".
Trước khi ra cổng trại, các bạn
tôi giao tôi trách nhiệm đáp lời nếu như họ bảo tù chính
trị chúng tôi làm việc đó. Sau khoảnh khắc im lặng, tôi
đẩy ghế, đứng dậy:
"Thưa Ban Giám Thị và các cán bộ,
thưa các Anh các Chị. Tôi được phép thay mặt các bạn tôi
có mặt trong phòng này, chúc Ban Giám Thị, chúc các cán bộ
và gia đình, một năm mới nhiều sức khỏe. Xin chúc các Anh
Chị được vui vẻ bên nhau trong mấy ngày Tết lạnh buốt
nơi đây. Tôi xin hết lời".
Nói xong, tôi vòng qua bên kia bàn,
trao cho con gái của anh chị Thới và hai con của anh chị Tài,
mỗi cháu một nhánh đào bé bỏng mà tôi ngắt từ cành đào
thật lớn bên cạnh, với lời chúc mừng các cháu thêm một
tuổi.
Ðến chị Trần Hiệp Thới thay
mặt các chị, chúc Tết Ban Giám Thị và mời họ một trái
dưa hấu. Trái dưa này của chị Vĩnh Thái đưa chị Thới
làm quà đầu năm, xem như "có qua có lại" cho sòng phẳng.
Không phải trưởng trại A Bùi Dênh
chúc Tết chúng tôi, mà là Ðại Úy Tân, phụ trách giáo dục
toàn trại. Cùng lúc, mấy tên Công An trong bộ phận tổ chức
và kế hoạch mời chúng tôi uống trà với thuốc lá đen.
Thường ngày chúng nó có việc cần là vào trại bảo chúng
tôi làm việc như điên, bây giờ chúng tôi ngồi vào bàn để
chúng nó mời thuốc mời trà lia lịa.
Sau đó, các anh chị được thăm
gặp nhau trở ra nhà thăm nuôi, anh em chúng tôi quay vào trại.
Vẫn là những trò giải trí như năm trước, cờ tướng, đá
banh, đánh banh (bóng chuyền). Ðó là phần nhiệm của tổ
văn hóa, còn đàn hát thì buồng giam nào cũng có. Các bạn
"chạy sô văn nghệ" tại các buồng giam như anh Lương Trọng
Lạt (Thiếu Tá Cảnh Sát), anh Phạm Quang Tĩnh (Ðại Úy Cảnh
Sát), anh Phạm Duy Thanh (Thiếu Tá Cảnh Sát), anh Nguyễn Phan
Ðệ (Ðại Úy), anh Phạm Gia Ðại (viên chức cơ quan ngoại
giao Hoa Kỳ tại Nha Trang), anh Bửu Uy (Phủ Ðặc Ủy Trung Ương
Tình Báo), anh Ðặng Hoàng Long (họa sĩ, thông dịch viên),
và anh Nguyễn Văn Quí (Ðại Tá Cảnh Sát). Thật ra thì rất
nhiều anh không thuộc tổ văn nghệ, nhưng tiếng đàn giọng
hát vững vàng lắm. Ngoài các anh kể trên, còn có các anh
Lâm Minh Sơn (Thiếu Tá) có biệt danh "Sơn gà tre" vì khi đá
banh anh chạy nhanh lắm, Lê Thành Kỉnh (Tuyên Úy Phật Giáo),
Chu Mạnh Bích (Ðại Úy, lái phi cơ C130), Nguyễn Minh Chí (một
trong những bạn rất trẻ), anh Phan Văn Minh (Ðại Tá Không
Quân), anh Vĩnh Thái (Trung Tá Nhẩy Dù), ..v.. v...
Ðâu đã hết, còn có các anh thuộc
hàng "thợ ca" như anh Nguyễn Khoa Phước (Nghị Sĩ), anh Vĩnh
Biểu (Ðại Tá), anh Phạm Kim Tấn, Nguyễn Hữu Vị, anh Ðinh
Tiến Dũng, anh Nguyễn Dũng, anh Nguyễn Văn Năm (Ðại Úy, lái
khu trục phản lực), Trương Ðình Thăng, Triệu Huỳnh Vờ
(anh Thăng với anh Vờ là Ðốc sự hành chánh). Trong số này
có hai "thợ đàn với thợ ca" thuộc hạng siêu là anh Nguyễn
Văn Năm với anh Nguyễn Dũng. Hai bạn này cạnh nhau, sau khi
nằm yên trong mùng thì anh Năm đàn anh Dũng ca. Tiếng đàn
với tiếng ca thật nhỏ. Nói nghe có vẻ quá lời, thật ra
hai anh có thể đàn hát tới sáng cũng chưa hết bài hát thuộc
lòng nữa quí vị quí bạn à!
Tối Mồng Một Tết trong buồng
giam số 1, chúng tôi quân quần bên nhau trên sàn gác, uống
trà uống cà phê đàn ca hát xướng. Chỉ cần một tiếng
đồng hồ, anh Ðặng Hoàng Long vẽ xong một hoạt cảnh bằng
bút chì. Ôi thôi, "ca nhạc sĩ" đủ kiểu ngồi nằm vừa đàn
vừa hát, áo quần ngổn ngang trên những giây giăng mùng, những
túi những lon móc đầy trên vách, đằng sau "ban nhạc" là
anh Nguyễn Văn Sảo (Ðại Tá An Ninh Quân Ðội) "thưởng thức
văn nghệ bỏ túi" trong thế ngồi bó gối, có vẻ như anh
đang buồn ngủ? Cứ sau khi đám trực trại khóa cửa buồng
giam, chúng tôi tự cho mình được tự do ca hát, mà hát toàn
những bài liên quan đến đời sống chiến đấu lẫn đời
sống Tình cảm thời chiến tranh giữ nước. Hát nhạc ngoại
quốc, phải công nhận anh Lê Minh Ðảo (Thiếu Tướng), anh
Phạm Kim Tấn, anh Bửu Uy, anh Vĩnh Biểu, anh Phạm Gia Ðại,
anh Chu Mạnh Bích, thuộc nhiều mà hát hay. Trong chốn riêng
tư của con người, đêm đêm cái đám Công An quản giáo với
Công An võ trang, vào đứng hay ngồi bên ngoài cửa sổ các
buồng giam có đàn hát để nghe. Những khi không nghe đàn hát,
chúng nó còn yêu cầu chúng tôi hát những bài hát mà chúng
nó muốn nghe.
Ngày Mồng Hai Tết, anh Lại Ðức
Chuẩn, tổ trưởng tổ dịch thuật bên buồng giam số 2, tổ
chức văn nghệ có ăn trưa hẳn hòi. Từ 9 giờ sáng đến
1 giờ trưa ngưng lại ăn cơm. Ăn xong tiếp tục phần hai,
nhưng có lẽ do "mỡ heo" (từ thịt kho) bám vào thanh quản
nhiều quá nên "các ca sĩ" xuống phong độ và chấm dứt sớm.
Thưa quí vị quí bạn, đó là niềm
vui trong cái đắng cay của những người thua trận chúng tôi,
nhưng đó cũng là cách góp phần giúp chúng tôi giữ vững
nghị lực mà tin tưởng ngày mai, dù ngày mai vẫn là niềm
hy vọng chưa có câu trả lời rõ nét.
Còn lại một ngày nghỉ nữa, tôi
đưa anh Ðặng Hoàng Long mấy tờ giấy "bristol" mà tôi ăn
gian của mấy tên Công An nhờ tổ văn hóa trang trí đám cưới
của chúng nó, để anh Long vẽ chân dung cho anh nào muốn lưu
lại cái kỷ niệm đắng cay trong trại tập trung!
Tưởng cũng nên kể lại quí vị
quí bạn biết qua cách trang trí đám cưới của chúng nó để
có khái niệm về lễ cưới của thanh niên xã hội chủ nghĩa
trên đất Bắc. Phần phụ trách trang trí là anh Ðinh Tiến
Dũng với anh Ðặng Hoàng Long. Trên tờ giấy trắng dầy, anh
Long vẽ hai trái tim đỏ lòm chồng lên nhau, viết hai mẫu
tự đầu của "cô dâu chú rể" ngay giữa hai trái tim. Trên
cuống hai trái tim có hai sợi dây "tơ hồng" quyện vào nhau,
do hai con chim bồ câu cắn hai đầu dây đó trong tư thế đang
bay. Vẽ xong, dán lên tấm phông trắng treo trên vách sân khấu
hoặc tương tự như vậy nếu ở nhà riêng. Bên trên có hàng
chữ "trăm năm hạnh phúc" cắt giấy màu dán lên. Trong khi
đó, anh Dũng dùng loại giấy xấu có màu xanh lá cây cắt
thành bụi tre. Gần trên ngọn tre có mặt trăng bằng giấy
màu vàng. Cạnh bụi tre, vẫn giấy màu xanh, cắt hình một
nam một nữ dìu nhau dưới ánh trăng. Toàn bộ đó dán bên
trái tấm phông, còn bên phải tấm phông dùng giấy màu tím
màu vàng màu đỏ cắt hình một ban nhạc với đầy đủ nhạc
công nhạc khí với trống. Trên nền trắng còn lại, cắt
những ngôi sao với những nốt nhạc dán lên đó. Ðấy là
tấm phong gọi là hoàn chỉnh cho một đám cưới.
Anh Long với anh Dũng thường phá
chúng nó bằng cách, vẽ hai sợi dây vừa quấn vào nhau mà
vừa đá nhau, còn anh Dũng cho chân chúng nó đá nhau dưới
ánh trăng, nhưng chỉ có "phe ta" biết chớ chúng nói làm sao
biết được cách chơi "xỏ lá" đó.
"Lớn lên làm tù áo hoa".
Trung tuần tháng 9 năm 1985, và đây
là lần thứ ba chúng nó đổi tiền. Lần thứ nhất vào tháng
9 năm 1975, lúc ấy họ tự qui định 1 đồng của họ bằng
500 đồng Việt Nam Cộng Hòa cũ. Lần thứ nhì họ gọi là
thống nhất hai đồng bạc miền Nam với miền Bắc theo trị
giá đồng bạc miền Nam. Bây giờ họ lại tự qui định 1
đồng mới bằng 10 đồng cũ. Nói cách khác, 1 đồng bây giờ
bằng 5.000 đồng Việt Nam Cộng Hòa trước.
Sáng sớm ngày đổi tiền, khi nghe
cái loa của trại loan tin tôi chạy tìm tên Dục, đang là cán
bộ giáo dục của trại A trong khi chờ tên khác đến thay
vị trí tên Vũ Quấcbuộc phải về hưu:
"Cán bộ có thể đổi giúp giùm
tôi ít tiền được không?"
"Anh có nhiều không?"
"Tôi và các bạn gộp lại được
1.200 đồng".
"Ðược. Anh đưa tôi".
Ðến chiều, hắn mang vào trại
đưa tôi 120 đồng mới. Tôi đưa nó 20 đồng:
"Cán bộ giữ cái này uống cà phê".
"Không. Các anh chẳng có bao nhiêu,
giữ mà tiêu".
Ðể cho sòng phẳng, sáng hôm sau
tôi tặng hắn cái áo thể thao với màu sắc rất đẹp. Trông
thấy là mắt hắn sáng trong khi miệng cám ơn lia lịa. Áo
này tôi mua lại của anh Nghiêm hồi năm ngoái với giá 200
đồng. Ở đâu không biết chớ tại trại tập trung này, đám
Công An mê hàng sản xuất từ Hoa Kỳ lắm, cứ thấy nhãn
hiệu USA là sáng mắt ngay.
Công An Dục rất trẻ, tuy đôi lúc
bốc đồng nhưng chẳng mấy khi gắt gỏng. Hắn cũng "ngậm"
như những tên khác, nhưng được một điều là khi có việc
nhờ hắn thì hắn làm ngay. Hầu hết anh em chúng tôi chủ
trương sòng phẳng dứt khoát với đám Công An để không dây
dưa với chúng nó.
Về trường hợp tên Vũ Quấcra
rìa và bắt buộc phải về hưu, làm cho hắn xem những "đồng
chí áo vàng" (đồng phục của Công An) của hắn là thù địch.
Chuyện là mấy tháng trước, hắn xin đi áp tải tù chính
trị duy nhất vào Nam, đó là anh Ung Ngọc Nghĩa, trước kia
là đảng viên chính trị. Anh Nghĩa là em ruột của Ung Ngọc
Ky, tên cộng sản tập kết ra Bắc năm 1954. Trong khi Vũ Quấcvào
Nam, "cái đám chi bộ đảng" của hắn tại trại Nam Hà A này,
đưa tên hắn vào danh sách đề nghị cưỡng bách về hưu.
Vũ Quấc là tên Công An vừa tham vừa thâm lại vừa độc,
ngay cả với những đồng chí của hắn nếu như họ không
đứng trong phe cánh với hắn. Theo tên Dục nói lại thì trong
một tháng ở Sài Gòn, Vũ Quấc được anh Dương Huy Nam hướng
dẫn đến một số các anh tù chính trị về trước để xin
tiền. Trở về trại là hắn tối tăm mặt mũi, khi biết bị
"đám đồng chí" của hắn chơi một đòn quá nặng.
Tôi không rõ là hắn đã gởi đơn
tố cáo các đồng chí của hắn ra sao, nhưng hắn nói với
tôi thế này:
"Rồi đây sẽ có phái đoàn trung
ương đến đây thanh tra, nếu họ có hỏi anh thì anh nói là
cả trại này chỉ có ông Quấc là có uy tín thôi, còn thì
thối nát cả".
Thưa quí vị quí bạn, đúng là
cái đám Công An trại này thối nát cả, nhưng Vũ Quấclà
tên thối nát hơn tất cả, mà ăn nói cũng ngược ngạo hơn
tất cả. Hắn nói như vậy, rõ ràng là hắn không hiểu tôi
chút nào, và đó là sự thành công của tôi. Tôi nói "thành
công", vì tôi luôn "giữ cái tẩy" để chúng nó không nhận
ra được con người thật của tôi. Lúc nào cần sòng phẳng
tôi sòng phẳng, lúc nào cần xỏ lá là xỏ lá. Có lẽ nhờ
vậy mà hắn hiện nguyên hình của một tên Công An ác ôn
độc hại khi hắn nói với tôi câu ấy.
Ðiển hình cái tham cái độc của
Vũ Quấc. Tháng 1 năm 1985, khi anh Liêm (Thiếu Tá) Ðội trưởng
đội thợ mộc được ra trại, hắn bảo anh Liêm phải ăn
cắp dụng cụ đồ nghề của thợ mộc gồm cưa, bào, đục,
giũa, búa, khoan, đem về buồng giam, rồi lúc thuận tiện sẽ
có tù hình sự đến lấy đem ra phòng hắn bên ngoài cổng
trại. Ðến chú Vượng có thời gian giữ kho dụng cụ, trước
khi được ra trại, hắn bảo ăn cắp mai xén đất, cuốc bàn,
cuốc chim, xà beng, búa tạ, dao lớn dao nhỏ dao dài dao ngắn,
bao bọc lại rồi lén mang đến phòng hắn vào buổi trưa.
Ðâu đã hết tham, hắn xuống buồng giam số 18 thấy mấy
tấm "lưới chống B40", hắn bảo mấy anh tù hình sự tháo
ra rồi gập lại cho ngắn gọn, bỏ vào giỏ rác, buổi trưa
khiêng ra cổng đổ vào đống rác. Hắn lại bảo anh hình
sự phục vụ khu doanh trại, chờ giờ nghỉ trưa lén mang đến
phòng hắn, để hắn mang về nhà đúc cái sân thượng nho
nhỏ. Nhưng cái số của hắn đã mạt càng thêm mạt, vì cuộn
lưới cuối cùng trên đường đến phòng hắn thì tên Công
An gác cổng kêu dừng lại xét, và bắt tại trận. Không biết
hắn có bị gì không, nhưng anh hình sự bị đuổi về Ðội
đi lao động, không được phục vụ ngoài khu doanh trại nữa.
Cái khác biệt giữa theo đội đi lao động với phục vụ
khu doanh trại bên ngoài, tuy cùng là lao động nhưng lao động
khu doanh trại tự do hơn, Vì chỉ có một mình nên sự đi
lại dễ dàng, nhưng ngược lại khi tên Công an nào bảo gì
thì làm nấy.
Về hưu cũng là một vấn đề dưới
chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Không phải nói về
hưu là nghỉ ngay đâu. Trước khi thật sự nghỉ hưu, họ
được về nhà nghỉ chơi từ hai đến năm năm tùy từng đơn
vị, sau đó mới thật sự về hưu. Trong thời gian "đuổi
gà cho vợ" họ vẫn hưởng những quyền lợi như đang làm
việc, như tiền lương, được phân phối gạo, thịt, đường,
với giá như cho không.
Trại trưởng mới, tù nghẹt
thở.
Không biết có phải do "chính sách
riêng" của Bùi Dênh về việc nới lỏng đối với tù chính
trị chúng tôi hay không, mà sau Tết thì Ðại Úy Tân, cán
bộ giáo dục toàn trại Nam Hà, thay thế Bùi Dênh trong chức
vụ trưởng trại Nam Hà A. Chỉ biết rằng, theo mấy "thằng
chèo" biệt danh do chúng tôi đặt ra để chỉ đám Công An
cai tù, trong khi người dân vùng này gọi chúng nó là "chó
vàng", nói chuyện với nhau thì nguyên nhân do Bùi Dênh "nới
lỏng chúng tôi" nhưng lại "siết chặt chúng nó". Chữ trói
chặt, chúng tôi suy đoán có lẽ do Bùi Dênh nắm quyền trực
tiếp tự quyết định những vấn đề liên quan đến sinh
hoạt của tù chính trị thì phải, bởi đó là cánh cửa để
chúng nó kiếm "chút cháo" từ chúng tôi.
Cũng không biết có phải vì vậy
hay không, mà tên Tân "bô lô ba la" khi nắm quyền trưởng trại
là bắt đầu siết chúng tôi lại, và phần thăm gặp gia đình
là hắn siết chặt nhất. Ðiển hình là rất ít trường hợp
được thăm gặp 24 tiếng đồng hồ, và tuyệt đối không
có trường hợp nào quá 24 tiếng đồng hồ cả. Hạn chế
gắt gao nấu nướng và trồng rau cải trong khuôn viên buồng
giam. Có lần đám tù hình sự coi chúng tôi đá banh rồi đánh
nhau đến đổ máu, thế là hắn cấm đá banh luôn. Từ đó,
không khí trong trại trở nên nghẹt thở như lúc ban đầu.
Chưa hết, hắn còn ngăn cấm những ai đến thăm thân nhân
mà mang giúp quà cho người khác, nghĩa là chỉ được mang
quà cho thân nhân thôi. Thường khi thì vợ anh Huỳnh Chí Tài
mang theo rất nhiều quà của các chị bạn với ít tiền công
để làm lộ phí, thế là chị Tài bị bắt buộc phải mang
về. Nhưng chị ấy mang ra bưu điện Ba Sao gởi, thông thường
thì bưu điện Ba Sao gọi trong trại ra lãnh, và trường hợp
này thì Tổ văn nghệ của anh Phạm Kim Qui được cử đi.
Ðẩy xe cải tiến ra bưu điện
Ba Sao nhận bưu kiện, cũng là niềm vui nho nhỏ của tù chính
trị chúng tôi. Cứ mỗi lần đi như vậy, một số anh em chúng
tôi gởi tiền cho các bạn ra đó mua thức ăn, con gà con cá
củ khoai bó rau hay bánh kẹo. Thường khi hướng dẫn ra bưu
điện Ba Sao là tên Dục phụ trách cùng với một tên võ trang.
Tổ Văn nghệ đưa tiền cho tên Dục giữ lúc ra cổng trại,
dọc đường thì hắn đưa lại anh em. Tất nhiên khi mua hàng
thể nào cũng mua cho hắn món gì đó để gọi là sòng phẳng,
thế là mọi việc đâu vào đó. Ðến Ba Sao, mấy bà trong
cái chợ chồm hổm đó thấy tù chính trị chúng tôi là mừng
lắm, có món gì cũng mời gọi vì các bà ra giá bao nhiêu chúng
tôi mua bấy nhiêu mà không cần trả giá, mà lại mua nhiều
nữa. Các bà bán hàng gọi chúng tôi là "tù miền Nam" trong
khi đám thanh thiếu niên gọi chúng tôi là "tù áo hoa". Cả
hai tên gọi mà người dân ở đây gắn cho chúng tôi, nghe
như chỗ thân tình chớ không nhằm châm chọc.
Một hôm, anh Thanh hỏi mấy cậu
bé đứng xem mua hàng:
"Em học lớp mấy?"
Mấy đứa cùng trả lời, đứa
lớp 5 đứa lớp 4. Anh Thanh hỏi tiếp:
"Lớn lên mấy em muốn làm gì?"
Ðám trẻ như tranh nhau trả lời,
tuy cách dùng chữ có khác nhau nhưng cùng chung một nghĩa:
"Em muốn làm tù áo hoa".
Không phải riêng anh Thanh mà các
anh cùng đi đều ngạc nhiên. Một anh hỏi tiếp: "Tù áo hoa
tức là như mấy anh đây phải không?"
Thằng bé tỉnh bơ, cứ như trong
sự suy nghĩ non nớt của nó hình thành từ bao giờ: "Phải".
"Tại sao em muốn làm tù áo hoa?"
"Tại vì làm tù áo hoa sướng
hơn".
Trả lời xong là cả "đám cháu
ngoan của ông Hồ" vừa cười vừa chạy, cứ như chúng nó
bằng lòng với lời bày tỏ ước vọng tương lai của chúng
nó vậy.
Thưa quí vị quí bạn, "tù áo hoa"
vì những bộ đồ rằn ri tức đồ trận mà anh em chúng tôi
mặc, do họ lấy trong các kho của quân lực Việt Nam Cộng
Hòa và phát cho chúng tôi sử dụng, và chúng tôi thường mặc
khi thời tiết vào đông. Do vậy mà các "đấng nhi đồng với
thanh thiếu niên xã hội chủ nghĩa" nơi đây gọi chúng tôi
là "tù áo hoa". Nhưng tại sao các "đấng thiếu niên" đó nói
như một ước vọng khi lớn lên làm tù áo hoa sướng hơn?
Chữ "sướng hơn" mà cậu bé lớp 5 sử dụng, trong một mức
độ nào đó, đã thể hiện rõ nét về đời sống người
dân quá khổ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa 20 năm trên
đất Bắc này, hay ít nhất cũng là trong khu vực nơi đây!
Khổ đến mức tuổi lên mười cũng nhận ra được, và lớp
tuổi này cũng nhận ra mức sống của tù chính trị chúng
tôi trong trại tập trung để so sánh.
Trở lại với Ðại Úy Tân, trưởng
trại. Hắn có giọng nói ngọng nghịu, cái tật hay nói nhưng
sau khi nói quá nhiều thì hắn nói là hắn không muốn nói
nhiều. Chúng tôi nói hắn "bô lô ba la", vì khó khăn lắm hắn
mới thoát ra khỏi một đề tài để sang đề tài khác. Vì
sự hách dịch và bóp chẹt thăm gặp gia đình, bóp chẹt sinh
hoạt trong trại, và cả lao động nữa, một số anh em chúng
tôi, nhất là anh Qui với anh Chuẩn, thường cho hắn khi hắn
ngửa tay xin thuốc tây cho vợ chồng hắn, đồng ý bóp chẹt
lại hắn. Họa hoằn lắm mới nhả ra cho hắn chút chút sau
vài lần xin. Ðó là cách "trả đũa thụ động" mà chúng tôi
có thể làm được.
Chẳng hiểu chúng nó sắp xếp ra
sao, mà tên Thắng "chuột" lại được làm quản giáo nhà thăm
nuôi nữa. Chúng tôi gắn cho hắn chữ "chuột" theo sau cái
tên của hắn, vì "cái mỏ" của hắn dài và nhô ra trông như
mỏ con chuột vậy. Tân "bô lô ba la" với Thắng "chuột" kết
lại nhau, càng làm cho trại Nam Hà A này mất sinh khí.
Tháng 6 năm 1986, sau khi vợ tôi đến
thăm, cùng với các chị bạn trở lên Hà Nội đề về Sài
Gòn. Lúc ấy vùng Thanh Hóa bị cơn bão tàn phá nhiều nhà
cửa cầu đường, và xe lửa không lưu thông được vì một
đoạn đường rầy hư hỏng. Tất cả các chị từ Sài Gòn
ra thăm nuôi đều bị kẹt lại, mà theo thông báo của nhà
ga Hà Nội ít nhất phải chậm lại một tuần. Vợ tôi với
chị Tài và hai con của chị, mua một ít trái cây trở xuống
trại tập trung Nam Hà trao cho chồng. Không phải riêng của
tôi với anh Tài, mà còn vài chị bạn cũng gởi thêm chút
ít. Nói nghe có vẻ nhiều lắm, nhưng thật ra mỗi người
chỉ một gói vài kí lô thôi vì sợ trại không cho gặp.
Tên Tân đi khỏi, tên Thụng trại
phó không cho gặp. Tên Thung là tên đã uy hiếp tôi bằng cách
dùng cây nhọn xoáy nhẹ vào lưng tôi khi phái đoàn Pháp chọn
tôi để gặp họ. Tôi nhét cho tên Dục 100 đồng, hắn xoay
xở thế nào với đám trực trại mà hắn dắt tôi ra nhà
thăm nuôi lúc giữa trưa, và chỉ ở đó trong một tiếng đồng
hồ. Khi theo tên Dục vào trại, tôi yên tâm là sáng mai vợ
tôi với chị Tài mới ra Phủ Lý. Thế nhưng khi tôi vào đến
nhà trực trại thì Thắng "chuột" lù lù tới. Hắn hằn học
với tôi, kèm theo nụ cười lúc nào cũng nham hiểm:
"Ai cho anh ra gặp vợ anh?"
"Tôi không biết. Cán bộ gọi tôi
thì tôi đi".
"Anh có mang thư ra không?"
"Không". Tôi trả lời cộc lốc
mà không dùng chữ báo cáo cán bộ.
"Anh có mang tiền vào không?"
"Cán bộ gọi cán bộ trực trại
xét tôi đi".
"Tôi sẽ xét vợ anh xem có thư
anh thì anh biết tay tôi".
"Cán bộ có quyền thì cán bộ cứ
xét đi".
Sau đó không biết Thắng "chuột"
nói nặng nói nhẹ gì vợ tôi, mà chú hình sự tôi thường
"thuê" chuyển thư "chui", khi vào trại cho tôi biết là vợ
tôi với chị Tài cùng hai con của chị ấy, đi bộ ra Ba Sao
ngay lúc xế chiều. Anh ta nói thêm là đoạn đường từ trại
ra Ba Sao cũng như từ Ba Sao ra Phủ Lý, từ giờ đó không có
xe nào ra Phủ Lý cả.
Lần thăm nuôi sau đó, vợ tôi thuật
lại chuyện hôm ấy như thế này. Hắn hạch hỏi:
"Chồng chị có đưa thư cho chị
mang về không?"
"Không có thư gì cả, vì tôi đến
thăm thì chồng tôi đâu cần gởi thư".
"Bây giờ chị phải đi khỏi
nhà thăm nuôi".
Tức quá! Vợ tôi, chị Tài và hai
con của chị, đi bộ ra Ba Sao, hy vọng có xe ra Phủ Lý. Người
dân ở đây cho biết là không có xe nào ra Phủ Lý vào giờ
này đâu, mà ở Ba Sao cũng không có nhà trọ. Thế là vợ
tôi với chị Tài quyết định đi bộ, cũng nuôi chút hy vọng
mong manh là dọc đường biết đâu có chuyến xe nào ra Phủ
Lý quá giang. Cứ thế mà đi! Ði 17 cây số đường đồi đất
đá! Không chiếc xe nào ra Phủ Lý! Không một quán nước bên
đường để giảm cơn khát! Chập choạng tối mới đến Phủ
Lý! Chờ xe lửa lên Hà Nội. Trở lại đến nhà trọ thì
tay chân đều sưng lên, trong khi bụng đói, người mệt lả!
Trong tình cảnh đó, các chị bạn giúp đỡ xoa bóp và nấu
cho chén cháu đỡ lòng thay vì cơm nặng bụng. Hai ngày sau
mới giảm bớt, và hai ngày sau nữa lên xe lửa về Sài Gòn.
Thật lòng mà nói, tôi không thể
nào tưởng tượng được là vợ tôi đã đi bộ trên quãng
đường dài đến như vậy! Và cũng không thể nào tưởng
tượng được là vợ tôi chịu đựng nỗi cái tức trong lòng
do tên Thắng "chuột" gây ra, dẫn đến cái khổ về thể xác
đến như vậy!
Ðiều gì đã giúp vợ tôi vượt
lên cái đau cái tức đó? "Phải chèng là tình yêu chồng cộng
với tình thương con?" Vợ tôi đã xác nhận như vậy, và nói
bên tai tôi rằng:
"Khi Anh vào tù, cuộc sống của
Anh và tương lai các Con chính là cuộc sống của Em, như mình
đã đồng ý với nhau từ những ngày đầu viết thư qua lại
cho nhau".
Ánh sáng cuối đường hầm.
Trước khi nhận ra chút ánh sáng,
xin mời quí vị quí bạn đến thăm tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân
một chút. Trong thời gian bị giam tại trại Nam Hà này, ông
gởi mua sách học tiếng Nga để tự học. Tôi nghĩ là ông
học khá lắm, vì ông nói với tôi là tiếng Nga cũng không
có gì khó học đâu. Tôi quen biết với ông từ năm 1964.
Tại trạm xá có một "bác sĩ" Công
An, nhưng thật sự là bác sĩ Trương Văn Quýnh điều hành.
Bác sĩ Quýnh từng là Giám Ðốc Bệnh Viện Sài Gòn chuyên
về cấp cứu, ông có uy tín trong giới y khoa thuở ấy. Phần
lớn bác sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa đều bị giam ở các
trại tập trung trong Nam, nhưng bác sĩ Quýnh và một số ít
bác sĩ khác bị chúng nó đưa ra giam giữ cùng chúng tôi trên
đất Bắc, do là thành viên của đảng chính trị hoặc do
chúng nó gắn cho cái tội trời ơi gì đó. Tuy lúc ấy bác
sĩ Quýnh không thấy rõ nếu không nói là gần như bị mù,
nhưng ông giúp anh em chúng tôi rất nhiều về kinh nghiệm chuyên
môn của ông. Anh em chúng tôi rất quí trọng ông.
Tôi nhớ hôm ấy là buổi sáng,
một anh đau răng đến trạm xá nhờ ông nhổ, ông Quýnh vừa
cười vừa nói.
"Ngồi đó đi, tôi nhổ răng không
đau đâu, anh đừng sợ". Lời của ông Quýnh.
Vì ông không thấy rõ, nên ông cho
tay vào miệng bệnh nhân lắc lắc từng cái răng, và hỏi
liền miệng:
"Phải cái này hông? Phải cái này
hông? Phải cái này hông?" Ðến cái răng thứ tư, bệnh nhân
đáp vội vàng:
"Ðúng rồi. Ðúng rồi. Cái đó
đó bác sĩ".
Bác sĩ Quýnh cầm cái kềm, lựa
thế để kẹp cái răng, và chỉ một tiếng "phựt" là cái
răng ngoan ngoãn theo cái kềm ra ngoài. Súc miệng xong, bệnh
nhân ngậm miếng bông gòn chút xíu rồi khoan khoái trở về
buồng giam. Chiều hôm ấy, anh "bệnh nhân" trở xuống trạm
xá, lớn tiếng từ ngoài cửa:
"Cái răng đau của tôi còn nguyên,
vậy mà ông nói ông nhổ răng không đau. Bây giờ ông nhổ
lại cho tôi đi".
Bác sĩ Quýnh tỉnh bơ:
"Tôi hỏi anh đàng hoàng, anh chỉ
cái răng cho tôi nhổ chớ có phải tôi tự ý đâu". Ông cười
cười với giọng nửa đùa nửa thiệt:
"Hồi sáng tôi có nói với anh là
tôi nhổ răng không đau, anh cũng đồng ý mà". Rồi ông trở
nên nghiêm chỉnh:
"Thôi. Ngồi xuống đây, tôi nhổ
cái răng đau cho anh với điều kiện anh phải chỉ đúng cái
răng đau nghe".
Trở lại trường hợp tiến sĩ
Nguyễn Duy Xuân. Sau khi khám bệnh ông Xuân trong lúc tôi đang
xin miếng bông gòn thoa vết trầy ở chân, bác sĩ Quýnh kéo
tay tôi bảo sờ ngực trái sát trên xương vai của ông Xuân:
"Cậu Hai có thấy gì không?" Ông
thường gọi đùa tôi là "cậu Hai".
"Không bác sĩ. Tôi không cảm thấy
gì hết".
Ông lại bảo tôi sờ lần nữa,
tôi vẫn không cảm nhận gì cả. Ông nói: "Vậy hả". Rồi
im lặng. Mãi đến khi ông Xuân rời khỏi trạm xá ông mới
nói tiếp:
"Sát trên xương vai trái ông Xuân
có cái u nho nhỏ, phải mạnh tay một chút mới cảm thấy.
Theo kinh nghiệm của tôi, đó là triệu chứng của ung thư.
Thông thường, cái u đau thì không nguy hiểm trong khi mấy anh
thấy đau thì sợ, nhưng thật sự cái u không đau mới là
nguy hiểm. Ông Xuân trong trường hợp thứ hai".
Tôi nghe vậy hay vậy chớ biết
gì đâu mà bàn luận. Mấy hôm sau, ông Xuân nghe được lời
chẩn đoán của bác sĩ Quýnh, ông xuống trạm xá phản đối
lời chẩn đoán đó của bác sĩ Quýnh.
Sau lần thứ hai bệnh viện Phủ
Lý khám nghiệm ông. Bác sĩ cộng sản tại đó hỏi bác sĩ
cộng sản trạm xá Nam Hà:
"Tôi nghe nói trong trạm xá của
trại có anh bác sĩ gì đó giỏi lắm, anh ấy còn trong đó
không?"
"Bác sĩ cộng sản của trạm xá
trả lời: "Còn. Anh ấy vẫn còn trong trại".
"Anh bác sĩ đó có nói anh này
(tức anh Xuân) bị bệnh gì không?"
"Anh Quýnh cho biết đó là triệu
chứng ung thư".
Anh bác sĩ cộng sản ở bệnh viện
Phủ Lý, buông một câu như lời khen thầm kín:
"Ít ra cũng có một bác sĩ chẩn
đúng bệnh. Ðúng là anh ấy giỏi".
Và rồi sau đó bệnh ung thư của
ông Xuân phát triển rất nhanh. Chỉ trong vài tháng, từ cái
u còn sâu dưới lớp da lớn dần và nổi cao lên trên, nếu
nhìn theo chiều dài cái trứng gà nhỏ thì nó lớn khoảng
một phần ba của cái trứng úp xuống. Lúc ấy ông Xuân không
ăn uống gì được nữa. Trại cho phép anh Phạm Hữu Trung
(Ðại Úy Cảnh Sát), từ buồng giam số 1 xuống trạm xá giúp
chèm sóc ông Xuân. Anh Trung rất kiên nhẫn, cứ mỗi lần cho
được một muỗng nước pha mật ong vào miệng ông Xuân, anh
dùng tay liên tục vuốt ở cuống họng mãi năm bảy phút sau
muỗng nước ấy mới xuống thực quản. Anh lại từ tốn
cho thêm muỗng nước khác vào miệng ông Xuân, và cứ liên
tục vuốt như vậy. Rồi cái u ấy di chuyển dần từ trái
sang phải, vừa di chuyển vừa tụt dần xuống đến thắt
lưng bên phải. Trong thời gian cái u ung thư di chuyển, cũng
là thời gian ông lịm dần theo cái chết. Và khi đến thắt
lưng, tiến sĩ kinh tế Nguyễn Duy Xuân chết hẳn! Lúc ấy
là cuối năm 1986 do ung thư di căn.
Theo lời tên Dục phụ tá giáo dục,
trại chụp tấm ảnh để hồ sơ sau này có cơ quan nào cần
thì tham khảo. Ðây là lần đầu tiên trong số rất nhiều
anh em chúng tôi chết tại đây, nhưng có bao giờ nghe họ nói
đến cái vụ chụp hình lưu hồ sơ như trường hợp này đâu.
Anh em chúng tôi, mỗi người một tay gọi là tẩn liệm ông
vào cái quan tài tồi tàn, nhưng không được phép chôn cất
ông như hồi anh Trần Hữu Dụng chết, mà họ giao cho hai anh
tù hình sự cột hai vòng dây, xỏ cây đòn dài theo quan tài
và khiêng như khiêng món hàng gì đó mà ra cổng trại. Gần
một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đứng trong sân trại nhìn
hai anh tù hình sự từng bước leo lên đường đỉnh sau nhà
thăm nuôi, đem chôn ở thung lũng bên kia trại. Ðám tang ông
Nguyễn Duy Xuân thật là buồn trong cái lạnh buốt của mùa
Ðông 1986! Thôi thì điểm đến cuối cùng của qui luật trong
cuộc sống của mỗi con người, có hoàn cảnh nào giống hoàn
cảnh nào đâu!
Tên Dục cho anh em chúng tôi trong
tổ văn hóa xem tấm ảnh chụp trước khi để ông vào quan
tài. Cứ vài hôm tôi xuống trạm xá thăm ông Xuân, nhưng khi
nhìn tấm ảnh, tôi vẫn không thể tưởng tượng nỗi mức
độ tàn tạ của ông. Người trong hình, chẳng qua chỉ là
bộ xương bao bọc bởi lớp da nhợt nhạt, ở đôi mắt tinh
anh của ông ngày nào nay là hai cái hốc sâu thẳm với màu
nâu đậm, những cái xương sườn hiện lên rất rõ. Nói chung
là không còn chút gì để nhận ra cái xác ấy là tiến sĩ
Nguyễn Duy Xuân, Viện Trưởng Viện Ðại Học Cần Thơ cả!
Ít lâu sau đó, cháu của ông Xuân
đến trại. Với những gì còn lại đã làm biên bản ngay
sau khi ông Xuân chết, trong đó thuốc tây rất nhiều, người
cháu yêu cầu trại giao cho cựu Chuẩn Tướng Trực sử dụng,
vì ông Trực với ông Xuân là "anh em cột chèo".
Thưa quí vị quí bạn, đầu năm
1987, sau vài năm gần như im hơi lặng tiếng về những đồn
đoán, vừa bừng lên niềm hy vọng dù còn là mong manh, do sự
kiện đại hội của cộng sản Việt Nam hồi cuối năm qua
(1986) đưa ra nghị quyết "đổi mới" còn gọi là "cởi mở".
Dù họ chưa có chính sách nào rõ rệt về đổi mới, nhưng
một xã hội xã hội chủ nghĩa ngày càng kiệt quệ đến
mức sát bờ vực thẳm, họ phải tìm cách để tồn tại.
Và từ trong cách mà họ tìm sự tồn tại đó, biết đâu
vấn đề tù chính trị chúng tôi lại là một cách góp phần
giúp họ chèng?
Những ngày đầu năm âm lịch năm
nay không có cái ồn ào vui nhộn với những thi đấu thể
thao, cờ tướng, văn nghệ như những năm gần đây, nhưng
bù lại là cái không khí vui vẻ bàn luận về "hy vọng ngày
ra trại". Ðó đây trong các buồng giam đều có cảnh tụm
năm tụm ba quanh chén trà điếu thuốc, râm ran bàn luận và
lần này kết thúc với lời chúc "đoàn tụ gia đình". Nhưng
trong chốn riêng tư, khá đông anh em tù chính trị chúng tôi
vẫn giữ mức lạc quan dè dặt. Trong sự dè dặt đó, tôi
nói với cụ Hoàng Văn Úy và ông Trương Ðình Nam, cả hai
cùng là đảng viên Việt Quốc:
"Cụ ơi! Tôi tin là trong đường
lối mới của họ có ảnh hưởng đến mình, nhưng tôi cho
rằng, nếu điều đó có thành sự thật cũng phải từ nửa
cuối năm nay hay chậm hơn nữa chớ không sớm đâu, vì họ
cần ổn định cơ cấu lãnh đạo mới của họ. Cụ với
ông Nam nghĩ sao?"
Cụ Úy đáp: "Tôi đồng ý là có
ảnh hưởng tốt, nhưng về thời gian có thể phải sang năm
(1988) chớ năm nay chưa đâu ông".
Cái không khí lạc quan có vẻ như
tràn ngập trại Nam Hà A này. Nơi chốn đông bạn bă thì mức
độ lạc quan theo cái lạc quan chung mà thường là lạc quan
quá mức, nhưng trong chốn riêng tư thì niềm lạc quan dè dặt
vẫn có, vì chẳng lẽ hơn chục năm trong các trại tập trung
mà không rút ra được kinh nghiệm gì về bản chất gian trá
và ngoan cố của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam sao!
Công An tên Sáng chánh thức giữ
chức cán bộ giáo dục trại Nam Hà A thay tên Vũ Quấc. Hắn
đến buồng này uống cà phê đến buồng kia ăn bánh uống
trà vì vẫn còn hương vị ngày Tết, trong lúc uống cà phê
tại buồng giam 1, hắn nói với chúng tôi:
"Các anh có triển vọng được
ra về nhờ đường lối cởi mở của đảng. Như thế nào
thì tôi chưa rõ, nhưng triển vọng như vậy không phải là
không thành sự thật đâu".
Khi hắn ra khỏi phòng, anh em chúng
tôi trong tổ văn nghệ, tổ chèn nuôi, với tổ văn hóa bàn
luận. Câu chuyện bàn luận của chúng tôi như thế này:
"Các bạn thấy có thể tin thằng
này được không?"
"Tôi nghĩ có thể tin được, Vì
hai điểm: Thứ nhất là tánh hắn không có cái bí hiểm như
tên Quấc"đểu", Thịnh "khuỳnh", hay Thắng "chuột". Chưa thấy
hắn gắt gỏng với anh em mình, cho nên tôi nghĩ hắn không
"nói đại" để uống tách cà phê của anh Qui đâu. Tin thì
mình chưa hẳn tin, nhưng nếu nhìn qua các khía cạnh khác có
thể giúp chúng ta có yếu tố để tin hắn hay không tin hắn.
Thứ hai là xã hội xã hội chủ nghĩa kiệt lực nếu không
nói là sắp sụp đổ, biết đâu sự kiện anh em mình ra trại
lại là sự đổi chác gì đó với Hoa Kỳ cũng nên. Tôi tin
lời hắn, nhưng tin trong mức dè dặt".
"Tôi cũng có nhận xét tương tự,
nhưng thêm một yếu tố nữa. Ðó là anh Ðàm Quang Yêu mới
nhận thư nhà cho biết, dư luận trong Sài Gòn về nguồn tin
anh em chúng mình ra về trong ngày gần đây, và sẽ sang Hoa
Kỳ mà Mỹ với cộng sản Việt Nam thỏa thuận rồi".
"Các anh tin thì tin, tôi chẳng tin
gì chúng nó cả".
"Chúng nó là ai mà ông nói? Ở đây
chúng mình bàn chuyện giữa Hoa Kỳ với tụi cộng sản Việt
Nam, chớ có phải thằng cộng sản nói đâu. Có tin hay hay
thì nói ra cùng nghe, còn đúng hay không còn phải chờ chớ
có gì đâu mà ông châm chích".
"Thôi, đừng cãi nhau các anh ơi!
Anh em cứ có tin gì cứ nói ra, biết đâu là từ những tin
tức đó mà mình tìm ra được cái lý vững vàng, cho dẫu
"cái lý vững vàng đó" có lợi hay không có lợi, nhưng ít
ra niềm tin của mình cần có cơ sở chớ".
Câu chuyện chưa kết thúc thì Thịnh
"khuỳnh" bước vào cổng khuôn viên buồng giam, chúng tôi xoay
sang chuyện bánh mứt. Hóa ra hắn vào đây tìm chú Nguyễn
Minh Chí -tù chính trị trẻ nhất trong buồng giam số 1- ra
dọn sạch sẽ nhà trực trại.
Ðầu tháng 5 năm 1987, vợ tôi từ
Sài Gòn ra thăm mang theo đồn đoán liên quan đến tin tức
làm xôn xao anh em tù chính trị chúng tôi. Thêm nữa, tin tức
không chỉ đồn đoán tại Sài Gòn, mà thư các con tôi từ
Hoa Kỳ cho biết, trong Cộng Ðồng Việt Nam bên đó cũng có
dư luận về tin tức này và tin tưởng sẽ là sự thật. Ngoài
tin tức sốt dẻo nói trên, lại có tin không vui của vợ tôi.
Ðó là sự kiện hồi tuần trước, trong khi vợ tôi lên xe
lửa tại Sài Gòn bị đám lưu manh giựt cái túi xách tay mà
trong đó có một số tiền đáng kể, gồm của vợ tôi và
của các chị bạn gởi ra để các anh có tiền về đường,
và cái túi quần áo cũng bị giựt. Nói chung là cả áo quần
lẫn tiền bạc đều mất hết. Sau khi khai báo với Công An,
vợ tôi quay về gom góp trong nhà và mượn của đứa em trai
để trả lại các chị và mua sắm ít đồ dùng. Dù bị mất
mát khá nhiều, nhưng vợ tôi vẫn cố gắng ra thăm tôi để
nói với tôi về việc anh em tù chính trị chúng tôi rất có
hy vọng được ra về.
(Tiếp theo Chương
tám)
|