- chín -
Xã hội xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
(1988-1990)
*****
Từ nhà tù nhỏ là các trại tập
trung, tôi bước vào nhà tù lớn là xã hội xã hội chủ nghĩa
Việt Nam sau khi có giấy "chứng minh nhân dân", còn thật sự
tôi có phải là "công dân xã hội chủ nghĩa" hay không, lại
là việc khác.
Ðằng sau cánh cửa sắt trại tập
trung, tôi chỉ vươn tầm nhìn vào xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và nhìn ra thế giới, ngang qua đài phát thanh Hà Nội ngày
được nghe năm bảy ngày không, và tờ báo Nhân Dân. Cả hai
phương tiện truyền thông này cũng như tất cả những gì
gọi là truyền thông báo chí đều của đảng với nhà nước
cộng sản. Hoàn toàn không có bất cứ một phương tiện truyền
thông nào của tư nhân cả. Vì vậy mà lượng thông tin vừa
ít ỏi vừa nặng về tuyên truyền, mà tuyên truyền thì không
đúng sự thật. Ngoài nguồn tin tức đó, thỉnh thoảng anh
em chúng tôi nhận tin từ thân nhân hoặc từ các bạn ở ngoại
quốc gởi về, bằng cách chọn lọc những trang báo có bài
cần cho chúng tôi trong tù đọc, dùng gói quà gởi về Việt
Nam. Ðám Công An đâu biết những bài báo đó nói gì, vì có
những bài bằng Anh ngữ, cũng có những bài bằng Việt ngữ,
nhưng những trang báo sau hành trình nửa vòng trái đất, trang
báo đã bèo nhèo hết trơn nên họ cho vào trại.
Giờ đây, sống trong xã hội xã
hội chủ nghĩa hay là nhà tù lớn, đang trong thời kỳ gọi
là cởi trói báo chí, hy vọng là tôi có thể nhận ra nền
giáo dục Việt Nam cộng sản, vì tôi hiểu rằng, giáo dục
là nền tảng đào tạo con người, từ đó dẫn đến xây
dựng và phát triển quốc gia.
Chuyện nhà đất.
Nhà và đất, là một trong những
mục tiêu trước mắt của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt
Nam từ trung ương đến tận các địa phương, tranh đoạt
từ bất cứ ai là công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ mà họ tạo
được những gian trá mánh khóe như nhà rộng, nhà vắng chủ,
nhà nước mượn, nhà nước quản lý, ..v..v.., để cướp
đoạt làm tài sản riêng, dù rằng không ít trường hợp họ
ẩn dưới danh nghĩa như là lợi ích xã hội chủ nghĩa, mà
lợi ích xã hội chủ nghĩa là gì thì họ cũng chẳng giải
thích được.
Trước hết là một số sự kiện
gian trá đó ngay trong cư xá Bắc Hải chúng tôi. Nhớ lại
những ngày giữa tháng 5 năm 1975, Công An Phường 15 với Công
An Quận 10, đã chiếm đoạt 174 căn nhà của các vị Tướng
Lãnh và sĩ quan di tản, mặc dầu trong những nhà đó vẫn
còn thân nhân của những người di tản. Sau khi tất cả sĩ
quan cư ngụ trong cư xá đều vào trại tập trung, Công An Phường
15, Công An Quận 10 và cơ quan nhà đất Quận 10, hợp nhau hết
đuổi đi mà họ gọi là vận động, đến đe dọa chiếm
đoạt tịch thu bất cứ nhà nào họ muốn. Ðợt chiếm đoạt
đó không được bao nhiêu nhà vì các chị chống đối dữ
dội, nói cho đúng là liều mạng mà chống lại lệnh của
họ rồi ra sao thì ra, cho nên họ quay sang cách khác cũng gọi
là "vận động" bằng cách dụ dỗ hiến nhà cho nhà nước
thì chồng trong trại tập trung được về sớm. Cách này xem
chừng họ thành công hơn đợt trấn lột trong những tháng
cuối năm 1975.
Ở những khu khác như thế nào không
rõ, chớ trong cư xá Bắc Hải chúng tôi phải công nhận cái
"tinh thần trấn lột của cộng sản rất kiên trì". Nhiều
gia đình của các bạn tôi thật sự "trúng kế dụ dỗ" của
họ, nên đã đổi nhà lớn trong cư xá nhận nhà nhỏ ở nơi
nào đó hoặc hiến nhà cho chúng nó, như gia đình cựu Ðại
Tá Phan Xuân Nhuận, cựu Ðại Tá Ðinh Xuân Kế, cựu Ðại
Tá Nguyễn Văn Huấn, cựu Trung Tá Giang Văn Trọng, ..v..v..
Có trường hợp bi thảm hơn nữa như gia đình cựu Trung Tá
Trần Chí Thẩm. Chị Thẩm cũng là người rất cương quyết
giữ lại căn nhà để ở, nên bị Công An khu vực và Công
An Phường 15 Quận 10 bắt chị hằng ngày phải đến văn phòng
họ ngồi đó, từ đầu giờ đến cuối giờ làm việc, và
liên tục như vậy suốt mấy tháng liền. Một hôm chị đến
thăm tôi, nhân đó chị kể cho tôi nghe nỗi đau của chị
khi bị chúng nó gạt:
"Anh nghĩ coi. Suốt mấy tháng đó
tôi nhất quyết không đưa hồ sơ nhà cho họ, nhưng một hôm
họ nói với tôi là đưa giấy tờ nhà cho họ coi để họ
giải quyết dứt khoát. Tôi cứ tưởng họ thay đổi ý kiến.
Tôi lấy hồ sơ từ trong túi xách ra đưa cho họ. Xem xong,
lập tức họ bỏ vào tủ khóa lại, và ra lệnh:
"Ngày mai chị phải dọn ra khỏi
nhà". Nói xong là họ đuổi tôi ra và đóng cửa văn phòng".
Ðến đây chị ngưng lại vì xúc
động! Một lúc sau chị tiếp:
"Lát nữa anh theo tôi đến xem cái
gọi là cái nhà mà mẹ con tôi ở sau khi dọn ra khỏi nhà
tôi. Tôi kể tiếp anh nghe. Khi tôi bị họ gạt lấy hồ sơ
chủ quyền nhà, uất ức quá, tôi lảo đảo về nhà và gần
như gục ngã trước cửa! Mẹ con tôi che cái mái ngay trong
sân chắn một phần lối lên nhà (tầng trên) mà ở. Nấu
nướng tạm bợ cũng được, nhưng tắm giặt phải nhờ nhà
chị bạn ở đầu dãy. Khổ lắm anh ơi!"
Vâng. Tôi theo chị đến "cái nhà"
mà chị và các cháu đang ở. Quí vị quí bạn có thể nhớ
lại đoạn tôi kể cái lán trại của trại tập trung Yên
Bái lợp bằng cây chổm, nằm trên vạt giường "chổm" nhìn
lên trần nhà thấy cả bầu trời đầy sao và cả mây bay
gió thổi nữa, nhưng giọt mưa không rơi xuống. Còn "cái gọi
là nhà" của chị Thẩm mà tôi đang đứng xem, mái nhà trống
trải nên nhìn rõ gió thổi mây bay, và có bao nhiêu giọt mưa
rơi trên cái mái nhà thì ngần ấy giọt mưa xuống hẳn bên
trong nhà chị. Tất cả đều ướt! Ðầu năm 1988, anh Thẩm
ra trại và cùng ở nơi đây!
Trong trại tập trung, trong thời
gian đầu cứ như "điếc không sợ súng" nên tôi đối đầu
với những toán thẩm vấn tôi, dần dần đối đầu với
đám Công An cai tù. Thật lòng mà nói, nếu như từ đầu tôi
"không điếc nên sợ súng" thì chưa chắc tôi có chút kinh
nghiệm đối đầu với cộng sản lúc còn trong trại tập
trung cũng như bây giờ đã ra khỏi nó, dù rằng bây giờ tôi
đang ở trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà bất cứ ai từng
là nạn nhân cộng sản, đều gọi là "trại tập trung lớn".
Nhân lúc anh chị tôi từ Sa Ðéc lên Sài Gòn làm hồ sơ để
lấy lại căn nhà số X12bis cũng trong cư xá Bắc Hải, mà
anh chị tôi theo lời dụ dỗ gian trá mà họ gọi là "vận
động", đã gởi căn nhà cho họ để về quê hồi năm 1976,
nay chuẩn bị dọn trở về đây. Chỉ riêng cái sự kiện
"gởi nhà cho nhà nước" cũng là cái chính sách lạ kỳ của
nhà nước cộng sản.
Vì anh chị tôi bận nên tôi đến
Phòng Nhà Ðất Quận 10, mà chính tôi cũng muốn tiếp xúc
với họ "trong nhà tù lớn" này xem sao. Ðến cơ quan quản
lý nhà đất Quận 10. Trong góc phòng, một nhóm "viên chức
nhà nước cộng sản" đang kể chuyện đêm qua xem phim dù lúc
ấy đã hơn 10 giờ sáng, một cô nhỏ nhắn trong số đó bước
đến hỏi tôi trong khi gở tay anh chàng có nét mặt hơi thô,
đang quàng lên vai cô ta:
"Anh có việc gì?"
Con gái Sài Gòn xã hội chủ nghĩa
bây giờ ăn nói cụt ngủn, với lại cái giọng nói sao mà
khó ưa quá.
"Tôi nộp hồ sơ giùm anh chị tôi
xin lấy lại căn nhà đã gởi cho nhà nước".
Cô ta õng ẹo:
"Ðâu có nhà nào gởi mà lấy
với không lấy. Chúng tôi chỉ nhận nhà hiến thôi. Ðưa hồ
sơ coi".
Cô ta lật qua lật lại mà tôi nghĩ
là cô ta chẳng hiểu nội dung gì cả, rồi vào phòng trong
đưa cho anh chàng có lẽ là trưởng phòng. Vì cửa không đóng,
tôi thấy hắn cũng lật qua lật lại đọc tới đọc lui,
rồi đưa tay ngoắc tôi vào:
"Ðã hiến rồi, không xét".
Tôi đáp: "Anh xem biên bản đi, anh
chị tôi gởi chớ đâu có hiến".
"Gởi hay hiến cũng vậy thôi".
"Anh nói vậy mà anh nghe được à!
Trong tự điển Việt Nam mình chữ gởi với chữ hiến hoàn
toàn khác nghĩa. Gởi có nghĩa là sẽ lấy lại, còn hiến
là không lấy lại. Chữ với nghĩa rất rõ ràng, sao anh nói
vậy?"
Hắn lườm tôi một lúc, tương
tự như Công An Thịnh "khuỳnh" trại tập trung Nam Hà A lườm
tôi lúc xét quà của tôi vậy:
"Tôi nói rồi. Không xét là không
xét. Chừng nào anh chị của anh có hộ khẩu ở đây tôi mới
xét".
"Gì kỳ vậy. Anh không trả nhà
làm sao về đây ở được mà anh đòi hộ khẩu. Anh đại
diện cho nhà nước về nhà đất ở Quận mà anh trả lời
như vậy dân làm sao nghe cho thông".
Tôi với hắn có hơi lớn tiếng
làm cho những người bên ngoài vẫn còn kể chuyện phim, có
lúc cười lớn tiếng. Họ bước đến cửa, nhìn tôi. Tôi
nhìn họ một lượt, rồi quay ra. Hắn phán một câu cộc lốc:
"Anh để đơn đó. Về đi. Xét
sau"
"Chừng nào anh trả lời cho người
đứng đơn?"
"Khi nào xét xong sẽ trả lời".
"Anh cho tôi biên nhận để anh chị
tôi hoặc tôi mang đến làm bằng chứng nói chuyện mới được
chớ".
"Sợ mất thì mang về mà giữ".
"Tôi không sợ mất, nhưng thông
cáo trên báo là các cơ quan nhà nước mỗi khi nhận đơn đều
có biên nhận để dân tiện liên lạc khi cần. Tôi chỉ làm
theo hướng dẫn của nhà nước thôi".
Cô bé lúc nãy: "Viết cho ổng đi,
ở đó mà đôi co cho lắm chuyện ".
Khi ra đến cửa, tôi nghe tiếng
con bé nào đó:
"Ông già này hổng phải thứ
vừa đâu nghe. Lần sau phải để ý ổng".
Qua lần đó, chỉ mới đụng chạm
sơ sơ thôi, tôi thấy nền giáo dục xã hội chủ nghĩa 20
năm trên đất Bắc và 15 năm trên toàn cõi Việt Nam, đã tạo
nên những con người không một chút tử tế nào cả. Họ
ăn nói theo cái tư tưởng dối trá trấn lột mà không cần
cái lý cái lẽ trong văn chương chữ nghĩa Việt Nam. Nói càn
nói đại miễn là đạt được mục đích cho họ, trường
hợp bị chất vấn đến mức không tìm được cách tránh
né, lúc ấy họ liền nhân danh đảng với nhà nước cộng
sản của họ để "áp đảo" người đối diện. Từ Bắc
vào Nam, bài bản của họ y chang như vậy.
Dự định của tôi là thông qua
báo chí và từ các bạn ra trại tập trung trước tôi, để
tìm hiểu về các lãnh vực trong xã hội mà trọng tâm là
lãnh vực giáo dục, kinh tế, và tư pháp. Nhớ lại ngay sau
đại hội của đảng cộng sản hồi cuối 1986, ông Nguyễn
Văn Linh nhân danh Tổng Bí Thư tuyên bố cởi trói cho báo chí
nói thật về những chuyện trong xã hội mà trước đây bị
cấm, cho nên có những bài báo phải công nhận là "bạo",
nghĩa là nói thẳng thừng. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, ông
ta ra lệnh ngăn cấm gay gắt hơn trước nữa. Nhờ vào thời
gian cởi trói báo chí mà tôi thu thập được một số bài
báo về các lãnh vực mà tôi đặt trọng tâm tìm hiểu, nhất
là lãnh vực giáo dục.
Vợ tôi vào tù.
Nhưng ghi chép chưa được bao nhiêu
thì vợ tôi bị Công An bắt vào tù. Chuyện như thế này:
Sáng ngày 24 tháng 12 năm 1987, Công
An khu vực đến nhà tôi:
"Chào anh. Anh đến có chuyện gì
không?"
"Ðội anh ninh Công An Quận 10
mời chị đến văn phòng làm việc".
"Anh có thể cho tôi biết việc gì
không?"
"Anh chị đến đó thì biết".
"Vậy thì còn gì nói nữa. Mấy
giờ vợ tôi phải đến đó?"
"Lúc 10 giờ sáng nay. Ðội an
ninh phụ trách vượt biên ở đường Hòa Hảo chớ không phải
đường Nguyễn Tri Phương. Anh biết chỗ đó không?"
"Anh cho tôi địa chỉ, chúng tôi
sẽ đến".
Cái cơ quan này ở trong đường
hẻm, trên tầng 2. Tên Công An mặc thường phục xưng là Hoàng,
nhưng không biết đó là tên thật hay tên giả của hắn nữa.
Hắn đốp chát liền:
"Có người nộp đơn thưa chị
vào năm 1982 đã giới thiệu cho 6 người vượt biên bằng
tàu. Chị có xác nhận không?"
"Tôi có giới thiệu mấy đứa em
và cháu trong đại gia đình tôi chớ không phải người ngoài".
"Trong đơn người ta nói chị
nhận vàng, nhưng không đi được mà tiền chị không trả.
Chị còn giữ vàng đó không?"
"Không. Tất cả tôi đã đưa cho
nhóm trung gian. Nếu tôi không đưa hoặc đưa không đủ, họ
đâu hẹn ngày giờ cho các em các cháu tôi đến bãi lên tàu.
Tôi nhắc lại, những người đó đều là em và cháu tôi chớ
không ai khác".
"Nhưng mà đám tổ chức với
nhóm trung gian bị bắt nên đâu có ai lên tàu".
"Ðúng là không ai lên tàu nhưng
vàng đã đưa cho họ trước rồi. Khi bị phát giác mạnh ai
nấy chạy, trong khi nhóm tổ chức cũng như nhóm trung gian đã
nhận vàng rồi".
Hắn cứ hỏi tới hỏi lui mấy
câu hỏi đó rồi vặn vẹo theo cách "ép cung" để vợ tôi
nhận theo mớm cung của hắn. Nếu nhận, tức là còn giữ
vàng.
Ngày 25, rồi ngày 28/12, cũng tên
Công An khu vực đến gọi vợ tôi, và tên Hoàng vẫn mấy
câu đó mà hỏi như hôm 24 vừa qua.
Sáng ngày 29/12/1987, theo lệnh gọi
của họ, vợ chồng tôi đến trụ sở Công An Quận 10 đường
Nguyễn Tri Phương. Vẫn là hắn nhưng không hỏi cung nữa,
mà hắn ra lệnh:
"Từ bây giờ, chúng tôi tạm
giam chị để tiếp tục điều tra làm sáng tỏ nội vụ. Chị
đưa tất cả nữ trang, đồng hồ, tiền bạc cho chồng chị
rồi theo tôi".
Nước mắt vợ tôi lăn dài hai bên
má! Tôi cũng sắp khóc đến nơi, nhưng kịp giữ lại, và
nói bên tai vợ tôi khi tôi tháo đôi bông tai:
"Em! Ðừng khóc trước mặt chúng
nó! Em ráng ngăn lại, khi vào nhà giam, Em khóc tự nhiên cho
vơi bớt nỗi buồn. Em nhiều nghị lực lắm mà. Bất cứ
xảy ra việc gì, Anh luôn bên cạnh Em trong mọi hoàn cảnh".
Tôi lấy khăn tay lau nước mắt
vợ tôi. Sau khi cho tất cả nữ trang vào túi, tôi nắm hai
tay vợ tôi thật chặt, rồi quàng vòng tay ôm vợ tôi ngay
cửa Công An Quận 10, như thể tôi đang truyền hơi ấm và
cả nghị lực cho vợ tôi, trước khi vợ tôi theo tên Công
An vào phòng giam!
Khi bước qua ngưỡng cửa, vợ tôi
quay nhìn. Chúng tôi thật buồn!
Tôi lững thững ra cổng, đến tháo
khóa chiếc xe gắn máy PC. Trước khi rồ máy ra đường Nguyễn
Tri Phương, tôi lau những giọt nước mắt hai bên má! Tôi
cố nén được nỗi buồn trong tim, nhưng tôi không thể ngăn
được những giọt nước mắt chầm chậm xuống, nó trôi
một cách tự nhiên như lúc chúng tôi chia tay vào trưa ngày
14 tháng 6 năm 1975 khi tôi vào trại tập trung vậy!
Về nhà, tôi soạn vội ít áo quần,
khăn, mền, thuốc uống, vài thứ cần dùng thường ngày, và
ghé mua ổ bánh mì thịt trên đường trở lại nhà giam gởi
vô cho vợ tôi. Tên gác cổng nói:
"Không được. Sáng mai mới là
ngày thăm nuôi".
"Hay là anh giúp đưa vào vợ tôi
ổ bánh mì với cái mền thôi, vì từ sáng đến giờ vợ
tôi chưa ăn gì cả".
Im lặng một lúc, hắn trả lời
cụt ngủn: "Ðưa đây. Về đi".
Tôi đến nhà người chị bà con
xem có thể nhờ người nào đến giúp được không. Xem như
có chút may mắn, đến 8 giờ 15 phút tối, những gì tôi cần
gởi vào vợ tôi đều gởi được. Họ đưa lại mảnh giấy
nhỏ, đúng là nét chữ của vợ tôi cho biết là nhận đủ.
Ðêm đó, tôi thức suốt đêm! Và
tôi tin là vợ tôi trong nhà giam vừa nóng vừa buồn cũng không
thể nào ngủ được! Sau hơn 12 năm cô đơn trong gian nhà rộng
lớn, cô đơn về người thân, cô đơn về các con sau khi các
con vượt biển, cô đơn về tình vợ chồng, vợ tôi đã giữ
vẹn lòng chung thủy trong nỗi buồn không thể chia sẻ! Người
Vợ đã 19 lần từ đất Nam "gánh gạo nuôi chồng" trên đất
Bắc, bất chấp cái lạnh buốt của mùa đông, cái oi bức
của mùa hè, cái gian khổ trên hành trình Sài Gòn-Hà Nội-Phủ
Lý-Nam Hà, và cái hiểm nguy của xã hội xã hội chủ nghĩa!
Mỗi lần gặp nhau, chỉ riêng cách nhìn nhau không thôi, đã
đủ "truyền hơi ấm" cho nhau rồi!
Vậy mà, chỉ sau 107 ngày sống bên
nhau, thì Công An -cũng là Công An- tìm cớ bắt vợ tôi vào
trại giam về một vụ vượt biển từ hơn 5 năm trước. Lúc
tôi vào trại tập trung, dĩ nhiên là tôi buồn lắm, nhưng
chưa có nghĩa gì so với nỗi buồn đêm nay!
Phải chăng, "chúng nó bắt vợ tôi
để đe dọa tôi, vừa moi tiền moi vàng từ chúng tôi?" Ðiều
này có thể lắm!
Ngày 4/1/1988, tôi gởi đơn đến
Công An Quận 10 yêu cầu giải thích trường hợp bắt vợ
tôi. Mãi đến ngày 12/1 họ mới gọi tôi đến và giải thích
như thế này:
"Tôi nói cho anh biết. Theo đơn
thưa thì năm 1982 (chuyện xảy ra 6 năm trước), nhóm tổ chức
vượt biển đã bị bắt và bị án 3 năm tù, còn nhóm trung
gian được trả tự do sau hơn 1 năm giam cứu, khi họ đồng
ý trả lại vàng đã nhận của người vượt biển. Trong đơn
cũng nói đến vợ anh có nhận 16 chỉ vàng nhưng không đưa
cho nhóm trung gian. Bây giờ nhà nước buộc vợ anh phải trả
lại cho nhà nước thì vợ anh được tự do mà không bị truy
tố ra tòa".
Tôi hỏi: "Anh có thể cho tôi xem
đơn đó được không?"
"Anh đùa với tôi hả?"
"Tôi hỏi mượn, anh không cho thì
thôi".
"Anh biết anh là gì không?"
"Biết chớ. Tôi là công dân nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam". Vừa trả lời tôi
vừa cho tay vào túi quần sau để lấy cái bóp có cái thẻ
"chứng minh nhân dân" trong đó. Hắn thấy tay tôi thò ra sau,
hắn quát:
"Anh làm gì thế?"
"Tôi lấy cái chứng minh nhân dân
đưa anh xem chớ có gì đâu mà anh hoảng hốt".
"Anh cải tạo mấy năm?"
"Tôi ở tù 12 năm 3 tháng".
"Tại sao anh được tha?"
"Tại ông trại trưởng đưa tôi
cái lệnh tha ra trại".
Hắn đập bàn: "Trước mặt tôi
anh không được đùa".
‘Tôi nói thật mà. Ông trại trưởng
đưa tôi cái giấy ấy cùng với 91 bạn đồng tù của tôi
nữa, và dùng xe Molotova đưa chúng tôi đến ga xe lửa Nam Ðịnh.
Tôi nói đúng sự thật mà anh cứ cho là tôi đùa. Bộ tôi
điên hay sao mà dám đùa với Công An".
Tôi lấy từ trong bóp đưa cái giấy
ra trại cho hắn xem, nhưng hắn đẩy ghế, đứng dậy, đi
uống nước, chừng như cho hạ cơn tức thì phải. Rồi hắn
đi đâu một lúc mới quay lại, và xoáy vào những chỉ vàng
mà hắn nói là truy thu cho "công quỹ". Ðiều này chỉ có họ
với Trời mới biết chớ ai mà biết được nó đi vào đâu
nếu tôi đưa họ. Hắn nói:
"Anh cố gắng xoay xở càng sớm
càng thuận lợi cho vợ chồng anh".
"Thật lòng mà nói, tôi chưa hề
nghe vợ tôi nói về việc này. Với lại theo tôi biết, luật
pháp qui định nếu quá 5 năm mà vấn đề không đặt ra thì
xem như triệt tiêu. Nếu đúng vậy thì vấn đề vượt biển
từ năm 1982 đến nay hơn 5 năm rồi, sao lại truy cứu?"
Hắn gằn giọng: "Anh không có
quyền hỏi tôi".
"Vậy theo anh, tôi phải hỏi ai?
Chẳng lẽ người dân thắc mắc không hỏi cơ quan liên hệ
thì hỏi ai".
Hắn vẫn xoay quanh những chỉ vàng
mà tôi cho là mục đích như tôi suy đoán:
"Bây giờ anh muốn vợ anh ra sớm,
cách hay nhất là anh xoay xở khoảng 17 hay 18 chỉ vàng để
trả cho công quỹ, thì vụ này sẽ xếp lại vĩnh viễn".
"Lúc nãy anh nói 16 chỉ vàng, sao
bây giờ anh nói 17 hay 18. Vậy con số nào đúng? Còn trường
hợp tôi không thể xoay xở đủ số đó thì chuyện gì xảy
ra?"
"Nếu anh không xoay xở thì khác,
nếu anh xoay xở mà không đủ thì khác. Anh chọn cách nào?"
"Tôi sẽ xoay xở nhưng chưa biết
kết quả thế nào. Anh có thể cho tôi biết một chút gì như
một lời hứa giảm số lượng chỉ vàng, để tôi nghĩ là
tôi có thể xoay xở được không?"
"Ðược. Tôi cho anh biết. Lệnh
của Sở Công An là truy thu lại được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Anh hiểu rồi chứ?"
"Tôi hiểu, nhưng cùng lúc tôi lại
thắc mắc câu anh vừa nói. Từ ngày đầu, anh nói vợ tôi
nhận vàng của người nhờ giới thiệu vượt biển, sao bây
giờ lại trả cho công quỹ?"
"Trong trại cải tạo, anh có học
bài "nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo"
không?"
"Tôi không học bài đó, nhưng thấy
câu đó trên báo. Ý anh muốn nói dân làm chủ các tài sản,
nhưng nhà nước giữ những tài sản đó phải không?"
"Anh không có quyền thắc mắc,
cũng không được hỏi ngược lại tôi. Anh trả lời tôi là
có chấp nhận hoàn trả số vàng đó hay không? Nếu không,
vấn đề sẽ kéo dài và có thể vợ anh sẽ ra tòa".
"Tôi chấp nhận, nhưng con số chính
xác thì tôi chưa biết là bao nhiêu, vì tôi cần vay mượn
từ bà con chúng tôi. Tôi sẽ đến gặp anh sau".
"Ðược. Khi nào anh sẵn sàng
thì gặp tôi".
Ðúng là họ, cho dù là quân đội,
công an, hay bất cứ viên chức nào trong cái xã hội này cũng
chỉ được dạy dỗ một chiều, nên khi bị hỏi ngược lại
mà trả lời không được thì họ mang đảng với nhà nước
ra trấn áp. Trên trái đất này chỉ có chế độ cộng sản
lý luận quái đản ngang ngược ấy. Vậy mà những tên sĩ
quan quân đội như Trung Úy Khảm, Trung Úy Bật, ..v..v của
trại tập trung Yên Bái, những tên sĩ quan công an như Trung
Tá Lưu Văn Hán trưởng trại tập trung Nam Hà, Ðại Úy Vũ
Quấc, giáo dục trại Nam Hà A, .. v..v.. lại hãnh diện vểnh
mặt khi họ nói cái lý luận "nhân dân làm chủ nhà nước
quản lý đảng lãnh đạo" là do đảng cộng sản Việt Nam
tìm ra, và các nước cộng sản anh em của họ khâm phục họ
lắm (!).
Ngày 13 tháng 1 (1988), theo qui định
của họ thì hôm nay là ngày thân nhân vào thăm nuôi. Từ lúc
8 giờ, tất cả thức ăn phải đưa họ đem vào cho người
được thăm nuôi sau khi họ kiểm soát. Lúc 9 giờ 30, họ hướng
dẫn tôi vào gian phòng thật nhỏ, vợ tôi ngồi sẵn nơi đó
rồi. Trước mặt công an trại giam, vợ tôi ngồi trên ghế
và đó là chiếc ghế duy nhất, tôi đứng sát cạnh ghế và
ghì đầu vợ tôi vào tôi. Vợ tôi khóc! Chờ vơi bớt nỗi
buồn qua dòng nước mắt, tôi xoay qua vừa nâng cằm vợ tôi
vừa nhè nhẹ xoay mặt vợ tôi và chúng tôi nhìn thẳng vào
nhau. Ðó là cách tôi truyền thêm nghị lực cho vợ tôi bằng
ánh mắt yêu thương trong tình chồng vợ. Vài phút sau, hắn
đứng dậy bảo tôi ngồi vào ghế đó, tức là chúng tôi
ngồi đối diện nhau mà ở giữa là cái bàn nhỏ:
"Anh chị được gặp nhau trong 15
phút". Và hắn bước sang phòng bên cạnh.
Vợ tôi nói:
"Họ cứ gắn cho Em còn giữ 16 chỉ
vàng, trong khi mấy đứa em cháu đưa bao nhiêu thì Em đưa cho
người trung gian hết. Mấy đứa nó là người nhà của mình
chớ có phải ai khác đâu, mà họ cứ bắt Em nhận là còn
giữ".
"Em cứ bình tĩnh mà khai, cho dù
họ hỏi bao nhiêu lần Em cũng khai như vậy. Em hoàn toàn yên
tâm tất cả các mặt. Những người ác ý cùng với công an
tấn công mình hai mặt: Về luật pháp và về tình cảm chúng
mình. Em để tay lên bàn cho Anh".
Và chúng tôi nắm chặt tay nhau.
Tôi nói tiếp:
"Hôm qua Anh hứa với họ là sẽ
nộp cho họ 16 chỉ vàng, và Anh nói với họ rằng, số vàng
đó là Anh đổi lấy tự do cho Em chớ không liên quan đến
lời dựng chuyện trong đơn của ai đó. Anh có yêu cầu hắn
cho xem cái đơn tố cáo gì đó, nhưng hắn không đưa mà hỏi
Anh thời gian cải tạo bao lâu, hắn còn hỏi móc "tại sao
Anh được tha", có ý như hắn muốn nói Anh ngoan cố như vậy
mà sao Anh được tha đó Em".
Ngưng lại. Vòng qua bàn, hôn lên
mái tóc vợ tôi, và tiếp:
"Về mặt tình yêu, Anh bảo vệ
Em tuyệt đối. Vợ chồng mình sống trên dư luận của cái
xã hội đầy gian trá này. Mình sống cho mình chớ không phải
cho bất cứ ai ngoài vòng bà con. Chúng mình tin tưởng tuyệt
đối vào điều này, không một ai cho dù quỷ quyệt đến
đâu cũng không lay chuyển được niềm tin của chúng mình
nghe Em".
"Em không sợ gì cái bọn đàn bà
cộng sản xấu lòng xấu miệng đâu. Anh phải hứa với Em
là Anh phải giữ gìn sức khỏe, Anh ốm là Em buồn hơn là
Em ở trong nhà giam nữa nghe Anh".
"Em cũng vậy nghe Em".
Tên công an trở lại cho biết là
hết giờ. Tôi nắm tay vợ tôi thật chặt trong khoảnh khắc,
trước khi vợ tôi theo tên công an vào phòng giam.
Ðêm đó tôi ngủ yên giấc, vì
thấy vợ tôi giữ vững nghị lực, trong khi em trai của vợ
tôi từ Vĩnh Long có mang theo vàng nên cho tôi mượn lúc chiều.
Ngày 14/1, tôi nộp đơn xác nhận
là tôi sẵn sàng nộp 16 chỉ vàng. Theo lời hẹn, ngày 16/1
tôi đến gặp hắn, và hắn cho biết:
"Theo chỉ thị của Sở Công An
phải giải quyết cụ thể, chớ không chỉ nộp vàng là chấm
dứt sự việc".
"Như vậy là không thực hiện như
dự định phải không?"
Im lặng một lúc, hắn nói:
"Anh có bao nhiêu thì nộp bấy nhiêu
để có điều kiện thuận lợi trình lên Sở giải quyết
sớm cho anh".
"Anh vừa nói là Sở không đồng
ý, nhưng câu nói vừa rồi anh làm tôi khó hiểu".
"Tuy chỉ thị của Sở như thế,
nhưng anh có bao nhiêu cứ nộp bấy nhiêu. Ðể có thuận lợi
cho anh, anh cầm giấy này bảo vợ anh ký vào đây thì sự
việc nhanh hơn".
Nói xong, hắn đưa tôi tờ giấy
đánh máy sẵn. Tôi xem nhanh, và đưa lại hắn:
"Tôi không đồng ý nội dung này.
Anh gài vợ tôi còn giữ 16 chỉ vàng mà thật ra là không có.
Hơn 12 năm trong các trại tập trung, tôi bị thẩm vấn tất
cả là 48 ngày, tôi đâu có ngờ nghệch đến mức tôi thắt
dây thòng lọng vào cổ vợ tôi".
"Anh nói cái gì mà thắt dây thòng
lọng?"
"Tôi nói tờ giấy này. Nếu vợ
tôi ký vào đây thì rõ ràng là vợ tôi tự xác nhận lời
khai với các anh là sai. Chẳng những tôi mất vàng, mà các
anh có thể đưa vợ tôi ra tòa nữa. Ðó là điều mà tôi
muốn nói trong câu vừa rồi".
"Anh học cái lối lý luận đó
ở đâu vậy?"
"Cần gì phải học mới biết, cứ
xem nội dung trên trang giấy là nhận ra ngay mà".
Mặt hắn đỏ lên:
"Ðược. Anh không nghe thì thôi.
Khi nào tôi gọi, anh có bao nhiêu nộp bấy nhiêu. Anh về đi".
Sau đó tôi đến tham khảo ý kiến
một anh công an, em vợ của anh Phạm Văn Tự. Anh Tự là bạn
cùng khóa 5 Thủ Ðức với tôi. Anh trẻ này giải thích:
"Công an quận có quyền nhận
tiền và vàng đưa vào công quỹ, nhưng họ phải làm biên
bản, phải viết biên nhận có chữ ký đưa lại anh thì sự
việc mới đúng. Nếu họ không làm biên bản cũng không viết
biên nhận cho anh, anh phải yêu cầu họ làm như vậy. Nếu
họ vẫn không làm thì anh xin gặp Trưởng Công An Quận trình
bày".
Thời gian chờ đợi là thời gian
buồn ghê gớm quí vị quí bạn à! Quanh đi quẩn lại trong
gian nhà rộng lớn chỉ có tôi, thằng cháu tên Vũ gọi vợ
chồng tôi là Dì Dượng, ở nhờ để theo học tại trường
đại học tài chánh, và con bé tên Hiền mà Má tôi đưa từ
Nha Mân lên sống với vợ tôi từ mấy năm qua. Tôi gom góp
lại hằng mấy trăm tấm hình và hằng ngàn trang giấy bị
cả tiểu đội lính cộng sản vào chiếm nhà tôi một tuần,
lục soát đào bới bên trong nhà để tìm tiền bạc vàng vòng,
có lẽ do không tìm thấy gì hết nên bọn họ tức giận xé
tung tóe các trang hình và các trang giấy viết vứt đầy nhà,
vợ con tôi gom lại cho vào cái bao bố loại đựng 100 kí lô
gạo cất giữ. Giờ đây tôi sắp xếp lại những trang hình
theo thứ tự thời gian và dán vào album. Còn cái đống giấy
rất giá trị về lịch sử, tôi sử dụng rất nhiều thời
gian sắp xếp lại và dán từng trang, rồi xếp theo thứ tự
trang giấy. Nhiều trang giấy bị mất số thứ tự, tôi phải
trải đầy sàn nhà, xem lại từng nội dung mới xếp theo thứ
tự được, nhưng số trang mất cũng khá nhiều. Tôi phải
dựa theo những trang giấy viết lại lúc ở trại tập trung
Nam Hà gởi "chui" về cho vợ tôi, và tôi moi ra từ ký ức.
Cuối cùng, tôi hoàn chỉnh được tập album hơn 100 trang, và
đóng lại được 4 tập tài liệu từ những trang ráp nối.
Tôi làm công việc này gần như suốt ngày cho đến nửa đêm
mới nghỉ, và liên tục trong 9 ngày.
Hằng tuần vào ngày thứ tư, tôi
gởi thức ăn và những vật dụng thường dùng vào vợ tôi.
Mỗi khi đến thăm tôi ở trại tập trung Nam Hà trên đất
bắc, vợ tôi mang cho tôi những gì thì bây giờ tôi cũng gởi
vào vợ tôi gần như tương tự, cộng thêm thịt heo nạc kho
tiêu, cá lóc kho tiêu, với cơm nóng. Có ngon hay không tôi không
dám chắc, nhưng có điều chắc chắn là chính tôi nấu những
món đó. Ngoài ra có kèm theo cái thư vắn tắt cho vợ tôi
biết tình hình hai bên gia đình, và các con ở Hoa Kỳ.
Ngày 25/1/1988, Công An Phường gọi
tôi đến Công An Quận, một tên nói:
"Hai ngày nữa (tức ngày 27/1/1988),
anh nộp vàng cho Ðội An Ninh để sự việc kết thúc sớm,
nếu để sau Tết sẽ đưa vợ anh sang Viện Kiểm Sát thì
thời gian chậm lại".
Ðúng hẹn, tôi đến Ðội An Ninh
gặp tên công an phụ trách thẩm vấn vợ tôi, và nộp cho
hắn 16 chỉ vàng. Hắn bảo tôi ngồi chờ. Một lúc sau hắn
trở lại:
"Chuyên viên đã thử rồi. Vàng
tốt".
"Anh có làm biên bản và biên nhận
cho tôi không?"
"Ai chỉ anh thế?"
"Mấy cô công an trong trại tập
trung chỉ tôi đó".
Hắn nhìn tôi một lúc, chừng như
xem tôi có đùa với hắn không thì phải. Hắn đưa tôi xem
biên bản, thấy đúng tôi ký vào đó. Hắn đưa tôi biên nhận
cũng đúng số lượng mà hắn đã nhận. Sau khi cho vào cái
hộp có dán giấy niêm phong, hắn vừa đứng dậy vừa nói:
"Anh về nhà chờ. Khi có kết
quả tôi báo cho anh".
"Theo anh thì bao giờ vợ tôi được
tự do?"
"Ðộ một tuần vì còn phải
hoàn tất hồ sơ để sau này Phường không gây phiền phức
cho anh chị nữa".
"Anh có thể cho tôi gặp vợ tôi
được không?"
"Chiều mai anh trở lại sẽ biết".
Chiều hôm sau tôi trở lại, hắn
nói:
"Hồ sơ chưa kết thúc nên lãnh
đạo không đồng ý. Anh chờ thêm thời gian".
Thật lòng mà nói, qua lời của
hắn nhất là hắn nói chỉ thị của Sở Công An "truy thu được
bao nhiêu thì hay bấy nhiêu", làm cho tôi suy đoán số vàng
này cũng như những trường hợp tương tự, sẽ không vào
nơi mà hắn gọi là công quỹ mà là vào túi riêng của bọn
họ. Suy đoán như vậy nhưng tôi vẫn phải làm theo lời hắn,
vì sự kiện nào trong cuộc sống cũng có cái giá của nó,
và sự kiện bọn họ tạo cái cớ để bắt vợ tôi cùng
lúc như trấn áp tôi vừa trong trại tập trung trở về, cũng
vậy thôi. Tôi đã nộp cho hắn rồi, nếu như hắn không thả
vợ tôi như hắn đã nói thì cái giá quá đắt, nhưng nếu
như tôi không nộp 16 chỉ vàng cho hắn thì cái giá của tôi
phải trả đắt hơn nhiều. Tôi nói "đắt hơn nhiều" không
phải là số lượng chỉ vàng, mà là trách nhiệm tinh thần
của tôi, của người chồng hơn 12 năm trong các trại tập
trung mà vợ tôi chăm sóc bằng tất cả tâm hồn người vợ.
Với suy nghĩ như vậy, nếu như tôi bị họ lừa tôi cũng
không ân hận đối với vợ con tôi, nhưng dấu ấn trong tôi
về bản chất gian trá tàn bạo của cộng sản nói chung và
công an nói riêng, sẽ thêm đậm nét. Ðây là khía cạnh tâm
lý gia đình, đồng thời là khía cạnh chính trị xã hội.
Thà chấp nhận bị lừa, còn hơn là để tình yêu vợ chồng
và tình cảm thân nhân thân quyến bị xói mòn suy giảm!
Thấp thỏm đợi chờ! Ngày qua ngày
chẳng thấy họ cho biết gì cả!
Ngày 5/2 (1988), tên công an thẩm
vấn vợ tôi, nhắn tên công an khu vực cho tôi biết là hồ
sơ đã chuyển sang Viện Kiểm Sát rồi, và bảo tôi đến
đó theo dời.
Ngày 6 tháng 2, tôi đến Viện Kiểm
Sát, họ nói chưa thấy hồ sơ gì cả. Họ chỉ dẫn:
"Nếu anh muốn biết thì làm đơn
để có thêm yếu tố cứu xét nhanh một chút khi hồ sơ bên
Công An chuyển sang".
Ngày 9/2, tôi bị lên cơn nóng dữ
dội. Khi giảm cơn nóng lại đến nhức đầu, mà là nhức
đầu kinh khủng! Sau 4 ngày đêm không ngủ được, cũng không
ăn được cơm hay cháo, chỉ uống chút sữa hộp, người tôi
xanh xao như mất hết hồng huyết cầu.
Chiều ngày 12/2, lại tên công an
khu vực cho biết, ngày 15/2 hay là 28 Tết vợ tôi sẽ được
tự do. Chỉ có thế đã đủ giúp tôi quên cơn đau, nhưng
tôi vẫn dè dặt vì ít ra đã một lần họ nói không đúng
rồi, và dè dặt hơn hết vì họ là cộng sản mà cộng sản
thì rất khó mà tin họ.
Ngày 13/2, tôi đến Công An Quận
10 theo lời gọi của họ, để nghe họ nói:
"Tôi cho anh biết là trên Sở
không thể giải quyết trước Tết, vì có vài vấn đề còn
rắc rối. Anh chờ".
Vậy là điều mà tôi dè dặt vừa
xảy ra. Tôi đến Viện Kiểm Sát với lá đơn có kèm bản
sao biên nhận của Ðội An Ninh/Công An Quận 10 nhận 16 chỉ
vàng, để xin thăm nuôi vợ tôi vào ngày 28 Tết. Viện Kiểm
Sát đồng ý bằng cách cấp cho tôi cái giấy phép thăm nuôi.
Ngày 28 Tết, tôi đến Công An Quận
10, họ lại bảo:
"Hôm nay đông quá nên không thể
thu xếp cho các anh chị thăm gặp thân nhân. Vậy, ai có quà
cứ để đây, sẽ có người mang vào nhà giam".
Tôi ngẩn ngơ! Vì cứ tưởng sẽ
được gặp vợ tôi để tôi tường thuật tất cả diễn
tiến những sự kiện trong thời gian qua. Tôi thử đến văn
phòng "tòa án nhân dân" Quận trình bày nội vụ, và xin họ
chỉ dẫn cần thiết, may ra có được gì không. Một người
mặc thường phục, có vẻ là thư ký hay cũng gần như vậy,
tiếp tôi:
"Anh đến có chuyện gì?"
"Tôi muốn trình bày một sự kiện
để xin anh giải thích giùm tôi".
"Anh nói đi".
Tôi tường thuật sự kiện từ
ngày đầu tiên đến hôm nay cho anh ta nghe.
"Tôi ghi nhận điều anh trình
bày. Khi thấy thuận lợi cho anh, tôi sẽ chỉ dẫn anh cách
viết đơn và gởi đến cơ quan nào".
Anh ta nói là ghi nhận nhưng chẳng
có ghi chép gì hết, làm cho tôi suy đoán là anh ta nói cho hết
giờ chớ chẳng có gì đáng tin cả. Biết làm sao đây!
Những tưởng chúng tôi được vui
Tết bên nhau sau 12 cái Tết cả hai chúng tôi cùng cô đơn!
Nhưng xã hội xã hội chủ nghĩa lại đẩy vợ chồng tôi
vào cảnh cô đơn lần nữa! Chẳng lẽ cuộc đời cần thêm
một thời gian thử thách nữa để xác định tình yêu và
nghị lực của vợ chồng tôi? Ðúng hay sai, tôi nghĩ không
ai giải thích được. Tôi cũng không tin vào lá số tử vi,
nhưng rõ ràng là trong lá số tử vi của vợ tôi lập hồi
năm 1978, có đoạn ghi thế này: "Ðời bà có khoảng thời
gian có chồng cũng như không vì chồng bị tù nhưng ông không
không có tội. Phần bà có lần bị kẹt vụ án suýt ngồi
tù, nhưng thoát nạn nhờ sao Thiên Giải. Sau đó, vợ chồng
đoàn tụ và hạnh phúc vẹn tròn".
Không biết sao Thiên Giải có dính
dấp gì đến 16 chỉ vàng mà tôi đã nộp cho Công An hay không,
nhưng đành chấp nhận đây là "vận hạn" của vợ tôi năm
49 tuổi mà trong lá số tử vi của vợ tôi có nói đến.
Ngày 16/2 tức 29 Tết, tôi cho con
bé Hiền về quê ăn Tết. Nhưng cùng ngày hôm nay thì thằng
cháu Vũ về quê từ 24 Tết trở lên giúp gian nhà bớt vắng
vẻ.
Trong những ngày Tết, mỗi khi cháu
Vũ đi vắng, người đàn bà tên Bảo Loan, không chồng nhưng
có 3 con mà vợ tôi cho cô ta vào ở một bên nhà không lấy
tiền từ hai năm nay, khi mẹ con cô ta bị đuổi vì không trả
tiền nhà, cô ta sang gặp tôi, có ý nói vợ tôi đưa người
vượt biển và còn giữ vàng giống như trong đơn mà Công
An tên Hoàng đã nói với tôi:
"Cô về bên cô đi, tôi không phải
là người đàn ông mà cô đang nghĩ trong đầu đâu. Cô đừng
bao giờ gặp tôi vì tôi không muốn nghe cô nói với tôi bất
cứ điều gì".
Do lời nói của cô ta, tôi liên
tưởng cô ta có dính dáng đến cái đơn, và cái đơn đó
rất có thể do tên Hoàng (công an) gợi ý cho cô ta viết, vì
hành động như vậy giúp cả hai đều có lợi: "Tên công an
có lợi là nhận số vàng tôi nộp để đổi lấy tự do cho
vợ tôi, còn cô không chồng có 3 con kia có lợi là gây chia
rẽ giữa vợ chồng tôi". Ðến đây xem như tôi phăng ra đầu
mối cô Bảo Loan này kết với tên Hoàng công an, đẩy vợ
tôi vào nhà giam. Hai tên địch trong vụ này.
Rất có thể do sự cứng rắn của
tôi, nên chẳng bao lâu sau đó tên phụ trách nhà đất của
Phường đến cho tôi biết, là cô Bảo Loan sẽ dọn ra khỏi
nhà tôi và thay vào đó là một gia đình bốn người thuộc
"diện chính sách" vào ở, vì nhà tôi quá rộng. Tôi đang căm
giận cô ta nên tôi chấp nhận. Mà không chấp nhận cũng không
được, vì tình trạng từ khi cái nhà nước xã hội chủ
nghĩa cai trị toàn cõi Việt Nam, tất cả những chủ nhà trong
cư xá Bắc Hải này phải mướn nhà của mình, hằng tháng
phải trả tiền cho cái gọi là nhà nước. Chuyện thế này.
Họ nói tất cả nhà trong cư xá này là do chúng tôi bóc lột
nhân dân mới có, bây giờ họ quản lý và cho mướn để
ở là may rồi, khi họ muốn lấy lại lúc nào là họ lấy.
Vì vậy mà tôi nói "không chấp nhận cũng không được".
Suốt những ngày Tết, tôi không
tiếp bạn bè nào, cũng không đến thăm ai vì nghĩ rằng mình
không nên mang chuyện buồn đến nhà bạn. Nhờ đó mà tôi
được nghỉ ngơi dưỡng sức sau cơn đau.
Ngày 24/2, Công An Quận 10 gởi giấy
cho biết là họ chuyển vợ tôi sang khám Chí Hòa. Hôm sau,
tôi đến khám Chí Hòa hỏi người gác cổng về ngày thăm
nuôi thân nhân, anh ta bảo tôi đến xem bản thông báo sẽ
biết. Theo đó thì ngày 3/3 (1988) tức 16 tháng giêng âm lịch
là ngày thăm nuôi. Tôi chuẩn bị một số vật dụng cần
thường và thức ăn, kể cả thức ăn của bạn bè gợi cho
vợ tôi.
Do chỉ dẫn của chị bạn, tôi
làm đơn đến nộp cho Viện Kiểm Sát, xin được thăm gặp
vợ tôi. Tôi được họ cấp cái "giấy thăm nuôi".
Ngày 3/3, tôi chở theo con bé Hiền
vì hai giỏ thức ăn khá nặng. Ðến chỗ làm thủ tục khai
báo, anh phụ trách đưa mỗi người một tờ khai:
"Các anh chị ghi vào tờ khai từng
món quà và số lượng. Ai khai xong đưa lại tôi kiểm soát,
trước khi mang vào trong".
Trên tờ khai của tôi, anh ta gạch
bỏ món chuối, nước mắm kho đặc, xà bông giặt, xà bông
tắm, kem đánh răng, với lý do là tôi có thể giấu đồ vật
trong đó. Chú cháu tôi xách hai giỏ và tờ khai vào trong. Ðến
cửa, Công An căn cứ theo tờ khai bảo để lại những món
không được mang vào, khi trở ra sẽ lấy lại. Khu thăm gặp
ngay bên ngoài cửa khám Chí Hòa. Trong khi chờ đợi tôi thấy
có người mang xà bông vào được. Tôi ngạc nhiên nên hỏi
cho biết, và được giải thích rằng:
"Anh không biết, những món gì mà
"căn tin" ngay bên cạnh có bán thì ngoài kia người ta cấm.
Bất cứ món gì bán ở đây, anh mua mang vào được hết".
"Cám ơn chị. Vậy là tôi hiểu
rồi. Họ cấm mình mang vào để họ bán ở đây, chớ không
phải sợ mình giấu thứ gì trong đó cả, vì cục xà bông
chút xíu thì giấu được cái gì".
Tôi nhờ cháu Hiền vào "căn tin"
mua mấy thứ cần dùng mà họ vừa bắt tôi bỏ lại.
Tại khu thăm nuôi, ai không có giấy
thăm nuôi thì đưa quà cho Công An kiểm soát, trước khi họ
giao cho ""tù hình sự tự giác" mang vào các buồng giam trao
cho những người có tên trên các giỏ quà. Ai có giấy được
thăm gặp như trường hợp tôi thì đứng chờ. Khu thăm gặp
chỉ là một dãy nhà nhỏ, dài, có mái che mà không có vách.
Một cái bàn dài tương đương chiều dài dãy nhà, bề ngang
mặt bàn độ 5 tấc, ngăn cách giữa người thăm với người
được thăm. Họ chia ra từng ô, mỗi ô rộng khoảng 1.5 thước.
Theo qui định, tối đa là 3 người vào thăm 1 người với
thời gian 30 phút. Họ hướng dẫn từng đợt, mỗi đợt từ
10 đến 15 người từ trong buồng giam ra gặp thân nhân.
Tôi chọn một ô mà bên trên không
có thanh gỗ chắn ngang. Ðến đợt 2, vợ tôi ra. Vừa vào
chỗ, tôi chồm lên hôn mái tóc vợ tôi, trong khi cháu Hiền
đang ôm cánh tay vợ tôi mà khóc. Tôi lần lượt kể cho vợ
tôi nghe những việc làm của tôi trong vụ này. Thấy con Hiền
vẫn khóc thút thít, vợ tôi nói:
"Hiền. Nín đi con. Ở nhà con nhớ
nhắc Chú uống mật ong với thuốc bổ nghe con. Chú ốm nhiều
rồi đó".
Nói đến đó là vợ tôi rơm rớm
nước mắt! Vợ tôi hỏi:
"Anh có cho các con biết là Em bị
bắt không?"
"Có Em. Nhưng sau 3 tuần Anh mới
viết thư cho các con. Em nhớ là hằng tuần mình gởi thư cho
các con, nên Anh không thể làm thinh lâu được e là các con
lo lắng không biết chuyện gì xảy ra. Do vậy mà Anh chỉ kéo
dài 3 tuần vắng thư thôi. Trong khám này ra sao Em?"
"Ở đây tương đối dễ thở hơn
bên nhà giam Quận 10. Có người giặt giũ áo quần mền chiếu
và có nước tắm nữa, mỗi tháng Em trả 1.000 đồng. À! Anh
ký gởi tiền cho Em chưa? Tháng rồi Em nợ họ 1.000 đồng
đó".
"Xong rồi. Anh vừa ký gởi cho Em
5.000 đồng. Em cứ xài thong thả, lần tới Anh sẽ gởi tiếp.
Chị gì đó còn ăn cơm chung với Em không?"
"Còn Anh à. Gia đình chỉ có chuyện
hục hặc đến má của chỉ cũng bỏ chỉ luôn. Tội nghiệp
lắm".
"Anh hỏi thiệt. Trong đó có ai chèn
ép gì Em không?"
"Không Anh à! Họ sắp xếp cho các
chị lớn tuổi ở chung một phòng, nên không có chuyện gì
hết. Chiều nay Anh gởi vào Em cái túi xách với bộ đồ đỏ
dài tay, để thay bộ áo quần bị giản dây thun không mặc
được".
"Trong đó Em vẫn mặc bộ áo quần
tù này hả?"
"Không Anh. Trong buồng giam vẫn mặc
áo quần của mình, chỉ khi ra gặp gia đình họ bắt mặc
áo quần này để phân biệt với người đến thăm".
"Anh hiểu rồi. Trong căn tin có bán
thức ăn hông Em?"
"Họ bán đủ thứ hết. Có tiền
là mua được thức ăn cũng như những vật dụng cần dùng
thường ngày. Phẩm chất hàng không tốt, nhưng có dùng còn
hơn không".
"Vậy là chiều nay Anh ký gởi thêm
tiền cho Em".
"Em nghe nói 3 tuần mới được gởi
quà vào phải hông Anh?"
"Không Em. Hai tuần thôi Em. Lúc nãy
Em đưa giấy gởi quà kỳ tới là ngày 17/3. Ngày mai Anh sẽ
đến Viện Kiểm Sát xin gặp Em vào ngày đó. Không biết có
được hay không, nhưng Anh sẽ cố gắng".
Ðang nói chuyện vui vẻ, bỗng vợ
tôi hỏi: "Sao Anh ốm vậy?"
Tôi lẩn tránh nguyên nhân:
"Tại Anh nhớ Em chớ có bệnh hoạn
gì đâu. Em đừng hỏi nữa làm Anh thêm nhớ nữa đó".
Trước khi rời nhà, tôi dặn con
Hiền không nói cái việc tôi bị đau trong những ngày Tết,
vì nếu không dặn trước là con bé nói hết do bản tính thành
thật của nó.
Công An phụ trách nói lớn: "Hết
giờ rồi".
Chúng tôi hôn nhau trước khi vợ
tôi theo mọi người vào phòng giam.
Buổi chiều, tôi gởi cái túi xách
với áo quần cho vợ tôi. Tạt vào "căn tin" hỏi về cách
bán hàng, họ cho biết là các món thuộc tạp phẩm thì mỗi
tuần bán 2 lần, còn rau cải và thức ăn thì bán hằng ngày.
Họ đưa hàng tới bán tại các buồng giam, và căn cứ theo
đó mà trừ trong số tiền ký gởi. Nói chung, nếu có tiền
ký gởi thì vấn đề ăn uống của người thân bị giam nơi
đây không có gì phải lo. Tôi đến ký gởi thêm 2.000 đồng
nhưng người phụ trách không nhận. Lý do là mỗi lần chỉ
được ký gởi 2.000 đồng, trong khi lúc sáng họ nhận cho
tôi gởi 5.000 đồng là dễ dàng rồi. Với lại tôi nghĩ,
sau khi trả 1.000 còn lại 4.000 đồng xài trong 2 tuần chắc
là không thiếu, cho dù vợ tôi giúp đỡ người bạn đáng
thương trong tù cũng vậy.
Về đến nhà vừa lúc Ba tôi từ
Nha Mân (Sa Ðéc) lên đến. Sau Tết, bà cô đưa Má tôi lên
trước. Nghe tôi thuật chuyện vợ chồng tôi gặp nhau, cả
nhà vui lắm. Ba Má tôi với bà cô chuẩn bị ngày mai -6/3/1988-
tức 19 tháng Giêng âm lịch, cúng giỗ em trai tôi, Phạm Bá
Sang, chết do tai nạn xe ngay trước cửa nhà ở số 146 đại
lộ Nguyễn Huệ, Vĩnh Long, năm 1967, lúc ấy em tôi 20 tuổi,
đang chuẩn bị vào đại học.
Trong khi gia đình đang cúng giỗ,
Công An khu vực đến:
"Ngày mai, anh đến Ðội An Ninh
có việc cần".
Ngày 7/3, tôi đến Ðội An Ninh,
tên Hoàng nói:
"Anh theo tôi đến ngân hàng gởi
16 chỉ vàng này để có biên bản kèm theo hồ sơ "đề nghị
miễn tố" cho nhanh".
Trước khi đi, tôi dự liệu trường
hợp xấu nhất là họ dụ tôi đến để bắt với cái tội
gì đó hầu bịt miệng số vàng, nếu họ bỏ túi riêng. Vì
vậy mà tôi viết mảnh giấy nhỏ dán ở cửa buồng, nếu
đến 5 giờ chiều mà tôi chưa về thì Ba tôi đẩy cửa vào
trong có trang giấy trên bàn sẽ rõ ý tôi. Trang giấy đó tôi
dặn con bé Hiền cho anh chị thông gia tôi hay, đồng thời
chuẩn bị vài áo quần và mua bánh mì thịt đem đến nhà
giam Quận 10 cho tôi. Tôi cũng dự phòng, nếu đi bằng xe 2
bánh PC khi bị bắt thì mất xe, nên tôi đi bằng xe xích lô.
Rồi việc ấy suôn sẻ. Tôi có
trong tay biên bản của ngân hàng, vàng tốt nhưng thiếu 3 ly,
hay là thiếu 3/100 của một chỉ vàng, nên họ chấp nhận.
Ngày 17/3, Công An Quận 10 mới thật
sự chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm Sát Quận. Tôi lại đến
Viện Kiểm Sát, được họ cho biết đã nhận hồ sơ. Tôi
làm đơn xin gặp vợ tôi. Nhưng cũng "trầy vi tróc vẩy" mới
có được cái giấy thăm nuôi. Hôm sau đến khám Chí Hòa trình
giấy thăm nuôi, tên Công An mặt mũi rất khó nhìn, cầm cái
giấy xem đi xem lại một lúc mới phán"
"Không được. Tháng 3 thăm nuôi
rồi. Về đi, tháng tới trở lại".
Tháng tới tức ngày 7/4. Tôi trình
bày mãi hắn mới chấp nhận với điều kiện là trừ vào
kỳ thăm tháng tới. Tôi đồng ý, cứ lúc nào gặp được
là gặp. Biết đâu vợ tôi được về trước thời hạn đó.
Hôm nay có thằng Vũ (cháu vợ tôi)
cùng đi, vì đến 1 giờ trưa nó mới vào lớp học. Tôi đưa
tiền cho nó và dặn:
"Vũ. Khi Dì Ba ra, con vào căn tin
mua 2 chai nước ngọt với 3 cái ca nhựa để mình cùng uống
nghe con".
Ðợt 2 thì vợ tôi ra. Hai bên bàn
đều có người choán hết, tôi chen vào giữa hai cô bé đứng
chờ đợt thăm gặp thứ 3. Khi thấy tôi chồm lên thanh gỗ
chắn ngang hôn trên mái tóc vợ tôi, bà cụ đứng cạnh hỏi:
"Con gái lớn thế à?"
"Dạ. Con gái đó, nhưng là con gái
của bà nhạc tôi".
Tôi vừa cười vừa đáp. Một lúc
sau bà cụ hiểu ra:
"Này. Sao mà tếu thế".
Rất có thể vợ tôi không quá ưu
tư như những tuần lễ đầu, nên sắc diện hồng hào. Có
lẽ vì vậy mà bà cụ mới hỏi tôi câu ấy. Vũ đem nước
đến, cả ba cùng uống. Vợ tôi mặc bộ đồ mà tôi mới
gởi vào hôm đầu tháng, nhưng phải khoác thêm cái áo tù
bên ngoài.
"Lần trước thấy Anh ốm, Em buồn
ghê!"
"Vậy là Em công nhận Anh mập lại
rồi phải hông?" Vợ tôi trả lời bằng cái gật đầu kèm
theo nụ cười. Tôi nói tiếp:
"Anh có đến Viện Kiểm Sát Quận
10, họ cho biết là hồ sơ đề nghị miễn tố bên Công An
chuyển sang đây rồi. Có thể một vài tuần tới Em sẽ về".
"Liệu có tin được họ hông Anh?"
"Mình biết là khó tin họ lắm,
nhưng hoàn cảnh mình chỉ có cách là cố mà tin họ chớ biết
làm sao hơn Em. Mà Em còn tiền xài hông?"
"Em hết rồi Anh. Ðúng ra phần Em
xài không bao nhiêu, nhưng Em mua thức ăn cho mấy đứa con gái
nghèo. Tội nghiệp, tuổi tụi nó đang lớn nên thèm ăn đủ
thứ mà ba má tụi nó đâu có nuôi nỗi. Có đứa cả năm
nay không một ai trong gia đình đến thăm. Tụi nó kêu Em bằng
Má ngọt lắm, và làm giúp Em mọi việc lặt vặt".
"Vậy là tốt. Anh vừa ký gởi cho
Em 3.000 đồng. Chốc nữa Anh năn nỉ họ gởi thêm 2.000 nữa
xem sao".
"Nếu họ không cho gởi cũng không
sao đâu, Anh đừng lo".
"Em trả lời thật cho Anh nghe. Em
có bị ai chèn ép gì không?"
"Hổng có đâu Anh. Em thấy mấy
đứa nghèo quá, Em mua thức ăn cho tụi nó, nên tối ngày tụi
nó theo chọc cho Em cười hoài. Tụi nó sợ Em buồn".
"Anh yên tâm rồi".
Hết giờ thăm gặp, chúng tôi nắm
tay thật chặt như truyền cho nhau niềm tin tưởng vững chắc.
Ðứng nhìn vợ tôi xách hai giỏ thức ăn khuất vào trong,
tôi và đứa cháu mới ra về mang theo niềm vui lẫn nỗi buồn!
Ngày 5/4 (1988), Viện Kiểm Sát Quận
10 gọi tôi đến và họ chỉ dẫn nên làm đơn xin cứu xét
tạm tha trong khi chờ giải quyết dứt khoát. Thật ra tôi không
hiểu hệ thống tư pháp của họ tổ chức và điều hành
như thế nào, nghe nói vậy là tôi ngồi tại chỗ viết đơn.
Sáng hôm sau, 6 tháng 4, tôi chuẩn
bị đi chợ mua thức ăn và vật dụng cần thiết để mai
gởi cho vợ tôi. Má tôi hỏi:
"Con còn tiền mua đồ cho vợ con
hông?"
"Dạ còn Má à!
"Nếu hết thì Ba con cho. Mấy đứa
nó (các em tôi) mới gởi về cho Ba Má đó".
Họa hoằn lắm tôi mới nhận tiền
Ba Má tôi cho, nếu không, e là Ba Má tôi buồn. Chúng tôi muốn
Ba Má chúng tôi dành tiền bỏ túi xài vặt, nhất là mỗi
khi về quê thường biếu xén bà con láng giềng ở Nha Mân
(Sa Ðéc), từ sau năm 1975 đến giờ nghèo lắm! Từ liệt một
bên người khi bị tai biến mạch máu não, vợ tôi đưa Má
tôi lên nhà (Sài Gòn) và hằng ngày đưa đi "bấm huyệt",
khi tôi về thì Má tôi đi lại được nhưng chầm chậm. Chúng
tôi vẫn tiếp tục đưa Má tôi điều trị theo khoa ấy, và
tình trạng sức khỏe Má tôi ngày càng tốt thêm, đến mức
một mình lên sân thượng không khó khăn.
Ngày thăm nuôi của tháng 4. Lẽ
ra tôi không được gặp vợ tôi vì "quyền lợi" của tháng
4 này tôi đã sử dụng "ứng trước" hồi tháng 3 rồi. Nhưng
"trời xui đất khiến" gì mà tên công an phụ trách thăm nuôi
cho tôi gặp 2 lần hồi tháng 3, nghỉ ở nhà nên tên công
an khác tạm thay, do đó hắn xem giấy là cho tôi gặp và gặp
ngay trong đợt đầu. Lần này tôi không được hôn lên mái
tóc vợ tôi, vì họ đóng lưới kẽm ngăn hai bên bàn, chừa
một khoảng trống đủ để đưa giỏ thức ăn vào thôi, nên
chúng tôi chỉ nắm tay nhau. Sau khi tôi thuật mọi diễn tiến
từ lần thăm gặp trước, và câu kết của tôi là cho đến
giờ xem như không có gì trục trặc. Nhưng cũng thòng thêm
câu: Có lời nào của cộng sản mà mình tin được đâu Em,
chừng nào thật sự xảy ra mới biết là chắc".
"Thời gian Anh trong tù, Em chạy đôn
chạy đáo, họ nói vậy Em nghe vậy chớ đâu tin họ được.
Tới đâu hay đó nghe Anh. Bây giờ Anh cho Em mì gói ăn liền
nhiều nhiều một chút, vì thời gian gần đây họ cho ăn cơm
nhiều trấu với sạn lắm, không dám nuốt sợ đau bao tử
thì nguy".
Thằng cháu Vũ vào căn-tin mua ngay
30 gói mì nhét vào giỏ thức ăn luôn.
"Em cứ mua bất cứ thức ăn gì
ở căn-tin để thay cơm nghe Em. Anh vừa ký gởi cho Em 10.000
đồng. Trong 10.000 đó có 5.000 đồng của Má cho Em. Bây giờ
họ cho gởi bao nhiêu cũng được chớ không giới hạn như
trước nữa".
"Chiều nay Anh gởi cho Em thêm vài
bộ áo quần, chừng 200 bánh tráng, kí lô cà chua, và mắm
thái. Mà Anh còn tiền xài không?"
"Còn. Vợ chồng thằng Tư với Con
gởi về cho hồi trước Tết và sau Tết. Anh còn thong thả
lắm".
"Anh viết thư nói cho các Con là
bây giờ Em hiểu "thế nào là ở tù", như Anh với các Con
đã ở tù".
Thưa quí vị quí bạn, các con chúng
tôi -trừ con trai út sinh năm 1971- đều ở tù xã hội chủ
nghĩa. Con trai thứ nhất bị gần một năm tù ở Bà Rá, con
gái cũng một tuần lễ do bị bắt khi lên tàu vượt biển
ở Vũng Tàu, con trai kế tiếp hai lần bị bắt cộng chung
hơn hai tháng trong tù, con trai thứ tư cũng nếm mùi tù mấy
ngày. Vậy là cả gia đình chúng tôi đều ở tù xã hội chủ
nghĩa. Năm 2004, tôi đọc được bài viết dường như của
ông Lê Hồng Hà, một đảng viên cộng sản ở Bộ Công An
đã ra khỏi đảng, ông viết:
"Dưới chế độ cộng sản, mọi
người dân dưới quyền đều có tội. Có điều là Công An
phải tùy lúc tùy nơi mà bắt người nào trước người nào
sau".
Nhận thức này tôi cho là không
sai, bởi đâu có người dân nào chấp nhận chế độ độc
tài cho nên có cơ hội là chống đối, âm thầm hoặc công
khai bằng lời nói hay lời viết, chỉ trích những điều sai
của các cá nhân các tổ chức trong bộ máy nhà nước. Chỉ
có vậy là quá đủ để Công An bắt rồi.
Ngày 13/4/1988, tôi đến gặp ông
Viện Trưởng Kiểm Sát Quận 10 trên đường Phan Thanh Giản
mà họ đổi là đường Ðiện Biên Phủ:
"Tôi cho anh biết, nội vụ trở
nên phức tạp vì địa phương đòi xử lý tiếp chứ không
chấp nhận tạm tha rồi giải quyết sau. Anh gắng chờ".
"Theo ông, tuần tới tôi có thể
trở lại đây để biết thêm tin tức được không?"
"Ðược".
Ngày 21 tháng 4, sau khi đến khám
Chí Hòa gởi thức ăn cho vợ tôi, tôi đến Viện Kiểm Sát,
để rồi nhận thêm tin làm nặng thêm nỗi lo. Ông ta cho biết
là có thể truy tố ra tòa nếu như Công An địa phương không
thỏa hiệp với Viện Kiểm Sát về tạm tha.
Ngày 5 tháng 5 là ngày tôi được
gặp vợ tôi. Lần này có bà nhạc tôi và thằng cháu Vũ cùng
đi. Cái bàn dài dành cho thân nhân thăm gặp bị choán hết
chỗ, tôi kéo tay vợ tôi ra đứng sát đầu ngoài cái bàn.
Bà nhạc tôi không khóc thì vợ
tôi không khóc. Nhưng chỉ trong tích tắc, mắt bà nhạc tôi
vừa rớm đỏ là vợ tôi khóc! Trong khi tôi lau nước mắt
vợ tôi, bà nhạc tôi nói:
"Con nín đi Con. Thấy Con mạnh là
Má mừng lắm".
Vợ tôi hỏi: "Ba với mấy đứa
em Con mạnh hông Má?"
"Cả nhà mạnh khỏe, Con đừng lo
buồn nghe. Ai làm điều ác, họ sẽ nhận hậu quả. Những
người ác có thể tránh được luật pháp, nhưng họ không
tránh được lưới Trời đâu Con".
"Má nói đó Em. Em cố giữ cho được
sự bình thản để có được sức khỏe là điều quan trọng
hơn hết nghe Em". Tôi quay sang bà nhạc tôi:
"Má thấy vợ Con có ốm hông Má?"
"Má thấy con Ba cũng vậy hè Con".
Trong gia đình, vợ tôi thứ ba, nên Ba Má tôi gọi là con Ba.
Trước khi hết giờ, tôi đưa vợ
tôi xem xấp ảnh các con chúng tôi mà tôi mới nhận:
"Anh để Em giữ xấp ảnh này, chừng
nào về Em đem về nghe Anh".
Tiếng cai tù phụ trách thăm nuôi:
"Hết giờ rồi. Các anh chị mang
thức ăn vào để đợt 2 ra gặp gia đình".
Nói xong là hắn bảo xếp hàng để
kiểm lại. Ðếm đủ hắn dẫn vào. Hai giỏ thức ăn nặng
hơn 20 kí lô, vì sáng sớm có hai chị bạn đến gởi tặng
vợ tôi mấy chục trái măng cụt với xoài chín. May là có
một chị cũng được người nhà thăm nuôi, phụ vợ tôi mang
vào.
Theo qui định, buổi chiều được
gởi thêm quà nếu muốn. Tôi gởi thêm một giỏ thức ăn,
trong đó có con gà luộc mà chính tôi làm từ A đến Z, cộng
với cơm nóng và bột đậu nành để pha sữa uống mỗi sáng.
Có thể nói là khi tôi bị giam ở trại tập trung Nam Hà trên
đất bắc, vợ tôi nuôi tôi thế nào, bây giờ tôi cố gắng
nuôi vợ tôi cũng gần như vậy.
Ngày tháng lặng lẽ trôi! Lặng
lẽ đến mức mà thời gian chẳng hay biết gì về nỗi ưu
tư của tôi cả! Cứ giữa tháng tôi gởi quà cho vợ tôi,
và đầu tháng chúng tôi gặp nhau. Tôi vẫn cứ hi vọng từ
tháng này sang tháng khác, nhưng chẳng thấy Công An Quận 10
cũng như Viện Kiểm Sát Quận cho biết tin gì.
Cái chuyện cô Bảo Loan dọn ra khỏi
nhà tôi mà cơ quan nhà đất nói từ tháng 4, nhưng đến ngày
12 tháng 6, cô ta mới dọn ra, và một gia đình mà họ gọi
là "diện chính sách" gì đó dọn vô ngay. Ðây là một gia
đình gồm 5 người lớn và 1 đứa bé dọn vào nhà tôi, chiếm
ngụ phần mà cô không chồng nhưng có 3 con vừa mới dọn
ra. Mấy hôm sau tôi mới biết tình trạng của gia đình gọi
là "chính sách" như thế này. Ông chồng tập kết ra bắc năm
1954, bà vợ có tên là Xê, cùng con trai duy nhất ở lại và
sống nhờ những gia đình sĩ quan trong cư xá Bắc Hải chúng
tôi. Chẳng bao lâu sau đó, bỗng dưng bà có bầu và sinh một
bé gái. Theo lời bà thì năm 1976, chồng bà từ bắc trở về
nam sống với bà, nhưng liệu điều đó có đúng không vì
có thể đứa con đó là con của vợ chồng bà? Thắc mắc
của tôi không có lời đáp, nhưng lại có thêm thắc mắc
khác. Nếu thật sự chồng bà đến năm 1976 mới về nam, thì
liệu trong hơn 20 năm được bà ở lại miền nam này, bà có
phải là " Việt Cộng nằm vùng" và hoạt động ngay trong cư
xá sĩ quan làm việc tại các cơ quan trung ương? Dù sao thì
sự kiện cộng sản Phường 15 Quận 10 gọi gia đình này là
"diện chính sách" nên được "ưu đãi", bằng cách cho vào
ở một phần nhà tôi sẽ gây khó khăn cho tôi. Bởi, từ nay
có những đôi mắt cú vọ theo dõi sinh hoạt của gia đình
tôi, nhất là lúc các bạn tôi đến thăm. Tôi cũng có cách
che mắt che tai cái gia đình "chính sách" này, bằng cách chúng
tôi sẽ tiếp các bạn ở tầng trên, đóng cửa lại thì chẳng
có âm thanh nào lọt xuống tầng dưới được. Quá lắm là
họ chỉ báo cáo với đám công an khu vực hay công an Phường
là ngày nào tôi tiếp mấy người thôi.
Số tiền mà tôi ký gởi cho vợ
tôi hồi đầu tháng 6 (1988) này là do tôi bớt phần ăn sáng,
thay vì trước đây vợ chồng tôi mỗi sáng cùng ăn phở,
mỗi tô 300 đồng rồi tăng lên 400 đồng, nay thì tôi ăn sáng
với ổ bánh mì không, giá 90 đồng. Do vậy mà tôi có được
tiền nói trên, chớ trong túi không còn đồng nào. Ba Má tôi
có cho, nhưng tôi viện dẫn lý do còn tiền nên không nhận.
Ngày 7 tháng 7, cùng đến gặp vợ
tôi còn có em trai vợ tôi là Triệu Văn Lễ và con gái của
nó tên Loan từ Vĩnh Long lên. Tôi hỏi đứa em:
"Tư ơi! Em thấy chị Ba thế nào?"
"Chỉ cũng vậy hè. Mà trắng nữa".
Cháu Loan tiếp lời: "Con thấy Cô
Ba khỏe mà tươi nữa".
"Em nè. Trong thư mới đây, con gái
Tuyết Vân cho biết sẽ "thăng chức Ngoại" cho tụi mình vào
tháng 1 năm tới đó Em".
Ngày 22 tháng 7, Viện Kiểm Sát Quận
gọi tôi đến:
"Cho anh biết là lệnh tạm tha
đã ký rồi, nhưng vì Sở Công An có nêu thắc mắc nên chưa
thả được. Anh cố gắng chờ kết quả".
Họ nói là họ nói chớ tôi không
cố gắng cũng không được. Thật sự cái Sở Công An của
họ có thắc mắc hay không, tôi đâu có biết. Nhưng tôi không
loại trừ giả thuyết, họ cố tình dằn mặt tôi bằng cách
bắt giam vợ tôi, rồi cứ trì hoãn liên tục mặc dù họ
đã nhận vàng của tôi rồi. Ngay đến cái lệnh tạm tha đã
ký rồi, họ vẫn kéo dài sự việc.
Thưa quí vị quí bạn, nỗi lo của
tôi giờ đây gia tăng gấp đôi, vì vợ tôi vẫn còn bị giam
trong khám Chí Hòa, trong khi sức khỏe Má tôi bỗng dưng suy
sụp. Trước đây, vợ tôi hằng ngày bồng Má tôi lên xe xích
lô, bồng vào nhà ông thầy bấm huyệt, và lặp lại những
động tác như vậy cho lượt về, dần dần sức khỏe Má
tôi tốt hơn. Khi tôi về, mỗi sáng, vợ chồng tôi cùng Má
tôi đi bộ một vòng trong cư xá. Khi vợ tôi vào nhà giam,
tôi vẫn làm công việc ấy, nhưng bây giờ thì sức khỏe
Má tôi suy yếu thật nhanh.
Ngày 4 tháng 8, tôi cố gắng dành
thì giờ đến thăm gặp vợ tôi. Cùng đi còn có cô em dâu
của vợ tôi, cô em gái tôi, và chị bạn trẻ của vợ tôi
mà hằng chục năm cùng nhau "gánh gạo" ra bắc thăm nuôi chồng.
Theo qui định của họ, tối đa là 3 người gặp 1 người,
nhưng hôm nay là 4 người, tôi phải xuống nước năn nỉ anh
Tổ Trưởng tổ tiếp dân, mãi rồi anh ta cũng ký cái giấy
cho phép 4 người được thăm. Ðó mới là cửa ải thứ nhất
mà tôi nghĩ là cửa ải chánh. Vào đến cửa ải thứ nhì,
năn nỉ vài lần là trót lọi. Nhưng tại cửa ải chót, tên
công an gắt gỏng:
"Một người ở lại".
"Tôi đã trình bày và được anh
Tổ Trưởng đồng ý rồi. Anh thông cảm chút đi".
Hắn quát:
"Tôi nói nguyên tắc là nguyên
tắc. Anh không được lý luận".
Tôi hơi tức:
"Chỉ có vấn đề xét cho vào thăm
gặp thân nhân trong nhà tù, một người quyết định là đủ,
nhưng không ngờ là bất cứ ai tại hai cửa ải còn lại cũng
có quyền hết trơn. Nhiều quyền quá làm sao có hiệu năng
được, việc nhỏ nhặt mà như vậy còn những việc lớn
thì sao".
Nói xong, tôi cứ tưởng hắn càng
sừng sỏ, nào ngờ hắn nói nhẹ re: "Vào đi".
Phải chăng họ chỉ ăn hiếp người
gọi dạ bảo vâng, còn ai cứng đầu với một chút lý luận,
họ sẽ "thông cảm" chăng?
Vợ tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy
"cô giáo Hòa" vợ anh Vũ Quang Tĩnh mà anh em chúng tôi lúc trong
tù gắn cho anh cái tên "Quách Tĩnh", và gắn tên "Hoàng Dung"
cho cô giáo Hòa, hai nhân vật này trong truyện kiếm hiệp Trung
Hoa thời phong kiến của Kim Dung. Cô giáo Hòa vói nắm tay vợ
tôi và tíu tít:
"Em rất ngạc nhiên về sức khỏe
của chị. Trông chị mập một cách mạnh khỏe, mà lại trắng
ra nữa. Em về nói cho anh Tĩnh biết, chắc ảnh cũng ngạc
nhiên lắm".
Em dâu vợ tôi nói nhỏ nhẹ:
"Chị Ba. Thấy chị khỏe Em mừng
quá. Hôm trước anh Tư nói mà Em không tin, bây giờ thì Em
tin rồi.
Ðến cô em gái tôi:
"Chị Hai yên tâm, ở nhà có Em với
cô Bảy lo cho Má được rồi".
Trời đất ơi, tôi đã dặn đừng
nói mà cô em tôi đã nói làm vợ tôi đang vui, như muốn khóc!
"Bộ Má trở bệnh hả Anh?"
"Má bình thường thôi mà. Con Năm
nó nói hổng đầu hổng đuôi gì hết trơn".
"Anh à! Con Hoa (ở Khánh Hội) biết
Em lúc nào cũng bên cạnh Má, vậy mà khi nói "bói bài" cho
Em hồi trước khi Anh về, nó nói khi Má chết sẽ không có
Em bên cạnh. Em lo lắm. Ở nhà Anh ráng lo cho má nghe Anh". Rồi
vợ tôi khóc thật!
Chúng tôi đứng nhìn vợ tôi xách
hai giỏ thức vào khuất bên trong rồi cùng quay về. Vậy là
vợ tôi bắt đầu lo nghĩ về Má tôi, không chừng sẽ ảnh
hưởng đến sức khỏe.
Và rồi 12 giờ trưa ngày 29 tháng
7, đang ngồi nói chuyện, Má tôi bỗng ngã xuống giường và
nói trong hơi thở mệt nhọc: "Khó thở quá!"
Ba tôi, tôi, và cô em gái, cùng xoa
bóp tay chân Má tôi. Một lúc sau, Ba tôi thấy như chân phải
Má tôi không cử động được nữa. Vậy là Má tôi liệt
nữa người bên phải rồi! Hai năm trước, Má tôi bị liệt
nửa người bên trái, nhờ điều trị với khoa "bấm huyệt"
mà mấy tháng sau là đi được tuy không hoàn toàn 100%, nhưng
đã là quá tốt. Nay bị liệt bên phải. Từ đó, em gái tôi
ngủ cùng giường với Má tôi. Nói là ngủ chớ thật ra có
ngủ được gì đâu, vì Má tôi gần như thức suốt ngày đêm!
Tội nghiệp nó ốm khá nhiều!
Phản ứng kế tiếp là tôi chạy
sang ông thầy bấm huyệt ở gần trường đua Phú Thọ, nhưng
ông đã dọn sang Xóm Củi rồi. Không ai giúp tôi địa chỉ
mới của ổng, nên hôm sau xách xe PC chạy rông khu vực bên
kia cầu Xóm Củi, tìm mãi cũng đến được nơi ông đang hành
nghề. Tôi chờ đến 6 giờ 30 chiều mới đón được ông
sang nhà tôi. Xem xong, ông nhận lời ông sẽ đến điều trị
tại nhà tôi trong 5 ngày, với điều kiện tôi phải đón và
đưa ông về. Sau 5 ngày, nửa người bên phải cử động được,
mỗi lần Má tôi ăn được 1 chén cơm, đêm ngủ được, nhưng
vẫn khó thở.
Sau nhiều lần năn nỉ Má tôi đi
bác sĩ xem tim ra sao, Má tôi không chịu, và nói với Ba tôi
rằng:
"Chờ vợ thằng Hai về nó đưa
tôi đi".
Khi Ba tôi ra khỏi phòng:
"Má tưởng là Má không thấy được
Con. Má cầu Trời cầu Phật cho Má gặp được Con trước
khi chết. Bây giờ thấy được Con mạnh khỏe, Má có chết
cũng không có gì buồn. Má thương vợ con lắm, nếu không
có nó lo thì Má chết lâu rồi. Má thấy nó nhớ Con nó buồn
quá, Má mới mướn con Hiền đem lên ở cho vợ con đỡ buồn".
Tôi ngả đầu lên cánh tay gầy
guộc của Má tôi mà ... khóc! Khóc như lúc còn nhỏ, mỗi
khi bị Má tôi đánh vì cái tội ăn cắp bưởi đem vào trường
học làm banh đá, là tôi ôm Má tôi mà khóc.
Việc năn nỉ Má tôi đi bác sĩ,
mãi đến khi thấy Ba tôi buồn quá, Má tôi mới bằng lòng.
Tôi với Ba tôi đưa Má tôi đến phòng mạch bác sĩ Thân Trọng
Minh để khám về tim. Ông Minh chưa quả quyết bệnh trạng,
nhưng hằng ngày cứ đưa đến để ông test xem sao. Như mấy
ngày trước đó, chiều ngày 8 tháng 8 (1988), sau khi từ phòng
mạch bác sĩ Minh trở về, Má tôi không nói ra lời, cơ thể
oằn oại như không còn cử động được nữa. Trước tình
cảnh ấy, thầy bấm huyệt bằng lòng mỗi chiều đến điều
trị tiếp. Chiều tối 9 tháng 8, khi tôi đưa về đến nhà
ông, ông nói với tôi:
"Tôi thấy không xong rồi. Sau
mấy ngày bấm huyệt, bà cụ có phần tỉnh táo giống như
ngọn đèn sắp tắt chớ không phải hồi phục như trước
đâu. Tôi nghĩ là gia đình nên chuẩn bị là vừa".
Sáng ngày 11 tháng 8 năm 1988, cô
em gái tôi xin phép Ba tôi trở về Pleiku để lo cho đứa con
vượt biển, vì đến ngày hẹn với chủ tàu. Cũng may là
ngay buổi chiều thì chị Cẩm Liên -cùng cha khác mẹ với
anh em chúng tôi- từ Vĩnh Long lên đến, nhưng đêm đó nằm
cạnh Má tôi là bà cô mà anh em chúng tôi gọi là Cô Bảy.
Ðến 11 giờ đêm, Má tôi gần như
hoàn toàn mất cảm giác. Tôi gọi lâu lắm, Má tôi mới hé
được mí mắt rồi nhắm lại ngay. Lúc ấy, ống quần Má
tôi lên đến đầu gối, tôi nhìn thấy 8 vệt đỏ hình tròn
hoặc gần như tròn, tôi kêu Ba tôi và nói không thành tiếng:
"Ba ơi! Bắp chân của Má giống
như mấy cái mạch máu bị đứt vậy Ba".
Chị Cẩm Liên nói:
"Hồi chiều khi Chị thay đồ cho
Má, Chị thấy mấy vệt này có chút xíu mà bây giờ nó loang
ra lớn vậy rồi".
Tôi đỡ Má tôi ngồi dậy trong
trạng thái như hôn mê. Cô Bảy vạch mí mắt thì mắt Má
tôi đứng tròng, Cô hoảng hốt nói với tôi:
"Chắc hổng xong rồi Cậu Hai ơi!"
Tôi để Má tôi nằm xuống. Ba tôi
nói:
"Chắc Má Con không qua khỏi đêm
nay đâu! Con bảo thằng Vũ chạy sang nhà Dượng Ba, nhờ Dượng
mướn xe đưa Má con về Nha Mân, khi Má con chết thì chôn trong
nghĩa trang gia đình cho tiện".
"Bây giờ là 4 giờ sáng (12/8/1988)
đi được rồi, nhưng Con nghĩ là mình nên mời bác sĩ đến
họ cho ý kiến chuyên môn, lúc đó mình hãy tính nghe Ba".
Ba tôi đồng ý. Tôi đi mời ông
thầy bấm huyệt và ông bác sĩ ở chung nhà với ông ấy.
Hai ông đến nhà tôi lúc 6 giờ 15 phút sáng. Hai ông đều
lắc đầu, tôi hỏi:
"Gia đình chúng tôi xin bác sĩ hãy
nói thật theo cách chẩn đoán của bác sĩ, xin bác sĩ cho lời
khuyến cáo là nên ở lại hay nên về quê? Nếu ở lại, có
nghĩa là tình trạng của Má tôi còn chạy chữa được. Nếu
về quê có nghĩa là Má tôi chết".
Bác sĩ, rồi thầy bấm huyệt, trả
lời: Nên về quê.
Ba tôi yêu cầu bác sĩ chích cho
Má tôi mũi thuốc hồi sinh, để chở về Nha Mân mà không
bị Công An gây khó khăn dọc đường, vì chở bệnh nhân chớ
không phải chở xác chết. Trên chiếc tắc xi có Ba Má tôi,
cô Bảy, và chị Cẩm Liên. Còn tôi phải đến Viện Kiếm
Sát Quận 10 để hỏi xem ngày nào vợ tôi về được, vì
họ có gởi giấy cho biết mọi việc thu xếp xong rồi. Lại
phải đến Công An Phường 15 xin giấy phép ngủ đêm ngoài
phạm vi nhà tôi. Tôi không biết các bạn tôi có bị cái lệnh
như vậy hay không, nhưng họ ra lệnh cho tôi không được ngủ
bất cứ nơi nào nếu họ chưa cho phép. Ðến 1 giờ trưa hôm
đó, họ nhất quyết không cấp phép cho tôi và buộc tôi phải
trình diện trước 12 giờ mỗi đêm.
Tôi về đến Nha Mân lúc 5 giờ
25 phút chiều thì Má tôi đã tắt thở lúc 4 giờ 45 phút.
Hôm ấy là ngày 12 tháng 8 năm 1988! Tức là mồng Một tháng
Bảy năm Mậu Thìn! Tôi chỉ đứng cạnh thi hài Má tôi có
2 tiếng đồng, trong khi bà con lối xóm bận rộn giúp Ba tôi
chuẩn bị tẩn liệm lúc 7 giờ tối, rồi trở về Sài Gòn
để trình diện họ kịp giờ. Có ngủ được gì đâu, một
nỗi lo về vợ tôi trong nhà giam, một nỗi lo về lễ tang
Má tôi.
Lúc 3 giờ sáng, tôi vào bến xe
Miền Tây và về đến Nha Mân lúc 7 giờ sáng. Rất đông thân
quyến và bà con lối xóm, chật cả trong nhà lẫn ngoài đường.
Lúc 12 giờ trưa nay, 13 tháng 8, an táng Má tôi xong là tôi về
Sài Gòn vì tôi có làm đơn xin cho vợ tôi về chịu tang. Về
đến Sài Gòn, tôi gởi điện tín cho em tôi ở Pleiku biết
tin buồn, và bảo về Nha Mân ngay. Trước khi hết giờ buổi
chiều, tôi đến gặp họ và họ cho biết ngày 15 tháng 8 sẽ
có họp quyết định. Còn đơn đó họ không xét.
Hằng ngày cứ khoảng 3 giờ sáng
là tôi vào bến xe để về Nha Mân, và về lại Sài Gòn trước
12 giờ đêm theo bắt buộc của Công An Phường 15. Ngày 15
tháng 8, Ba tôi cúng khai mộ mà miền quê thường gọi là "mở
cửa mả". Quay về Sài Gòn, đến Viện Kiểm Sát, họ bảo
tôi sang Công An Quận 10. Tại đây, họ bảo tôi ngày mai đến
Ðội An Ninh làm việc.
Ngày 16 tháng 8, vẫn Công An tên
Hoàng:
"Quyết định mới nhất là anh
chọn 1 trong 2 cách: Hoặc là anh phải nộp cho công quỹ 30
chỉ vàng, kể cả 16 chỉ đã nộp, hoặc vợ anh ra tòa với
bản án 3 năm. Anh phải trả lời ngay bây giờ".
"Tôi chấp nhận nộp thêm 14 chỉ
vàng nữa trong vòng 15 ngày, kể từ ngày vợ tôi ra khỏi nhà
giam, vì tôi cần thời gian vay mượn".
Hắn đứng dậy, đi đâu đó. Một
lúc sau hắn quay lại:
"Ðược. Anh ký tên vào đây rồi
về".
Tôi đọc cẩn thận. Theo những
dòng chữ trên trang giấy, không có chữ nào mà tôi nghĩ là
gài bẫy, nhưng không biết những chữ đó có cùng nghĩa như
tôi hiểu hay không. Dù sao tôi cũng ký vào, mọi việc về
sau ra sao sẽ tính sau.
Về đến nhà thì vợ chồng em tôi
từ Vĩnh Long lên từ lúc sáng. Sự kiện may mắn này do bà
nhạc tôi bảo hai em chúng tôi lên thăm để biết diễn tiến
nội vụ đến đâu rồi. Nhân đó, hai em cho tôi mượn thêm
15 chỉ vàng. Vì trong túi hết tiền, nên chỉ vàng còn lại
để chi dùng đến cuối tháng các con chúng tôi mới gởi về.
Sáng ngày 19 tháng 8, Công An khu vực
đến cho tôi biết là lệnh tạm tha đã đưa sang khám Chí
Hòa, và trong chiều nay vợ tôi sẽ ra khỏi nơi đây.
Ngay lúc trưa, tôi đem nữ trang và
bộ đồ đến quán cà phê trước cổng khám Chí Hòa, bất
đắc dĩ ngồi "nhâm nhi cà phê" chờ vợ tôi. Ðến 3 giờ
chiều, vẫn chưa thấy bóng dáng gì cả. Tôi đến văn phòng
cạnh cổng gác, nhét gói thuốc lá đầu lọc vào tay một
anh ngồi sau bàn viết không biết có phải là Công An không,
nhờ hắn vào xem tin tức ra sao. Gần 1 tiếng đồng hồ sau
đó, hắn ngoắc tôi lại và cho biết:
"Lệnh tạm tha mới đến hồi
trưa. Họ đang làm thủ tục. Anh ngồi chờ một chút, xong
chiều này mà".
Lại uống thêm một ly cà phê đá
nữa. Cà phê đá lạnh mà sao nóng ruột quá, vì vừa đúng
4 giờ là Công An "cai tù" lũ lượt ra về, vì hết giờ buổi
chiều! Dường như họ ngồi chờ từ lúc nào nên 4 giờ là
họ ra tới cổng rồi.
Lúc 4 giờ 15 phút, vợ tôi thấp
thoáng trong sân. Tôi đến cổng, chờ vợ tôi trình "lệnh
tạm tha" và ra cổng. Chúng tôi ôm nhau rồi cùng nhau vào quán
cà phê. Trong khi bưng ly nước chanh, vợ tôi hỏi:
"Má ra sao rồi Anh?"
"Má chết một tuần rồi Em!"
Ly nước rơi xuống nền gạch bể
từng mảnh. Vợ tôi òa khóc! Tôi đứng cạnh và ép nhẹ đầu
vợ tôi vào tôi: "Em cứ khóc tự nhiên!"
Khi nỗi buồn vơi bớt, tôi đeo
bông tai cho vợ tôi, vì vợ tôi chưa hoàn toàn tỉnh táo. Thấy
tôi đeo mãi không xong, chị bán quán đến giúp một tay. Vợ
tôi nói:
"Hôm đầu tuần, con nhỏ trong nhà
giam bói bài cho Em. Nó nói trong tuần này Em về, nhưng chưa
về đến nhà thì có tin đại tang. Vì vậy mà Em nghi, mới
hỏi Anh đó".
"Má nhắc Em hoài. Ðến mức Ba bảo
Má đi bác sĩ Minh để khám tim, Má nói chờ Em về đưa Má
đi. Hai cô bói bài cho Em ở hai nơi khác nhau và bói trong hai
thời gian khác nhau, nhưng cả hai đều đúng. Hay thật".
Uống nước xong, chúng tôi ngồi
trên xe PC trên đường Lê Văn Duyệt, qua Tô Hiến Thành, rồi
Nguyễn Tri Phương, ghé vào tiệm uốn tóc. Xong, một mạch
xuống đường Trần Hưng Ðạo thăm thông gia chúng tôi, và
hẹn sáng mai gặp lúc 9 giờ tại bưu điện Chợ Lớn để
nói chuyện với con rể chúng tôi từ Hoa Kỳ sang Toronto, vì
lúc ấy chưa có đường dây điện thoại Hoa Kỳ-Việt Nam.
Nói chuyện thì nhiều, nhưng hai điều quan trọng mà tôi nhấn
mạnh là "Mẹ các con chúng tôi đã về, và Bà Nội chúng đã
mất".
Thật là khó hiểu, khi vợ tôi còn
bị giam thì Công An bắt tôi phải trình diện trước 12 giờ
mỗi đêm nếu như ban ngày tôi rời khỏi Sài Gòn, ngay cả
những ngày tôi về Nha Mân (Sa Ðéc) lo tang lễ Má tôi cũng
vậy, nhưng chiều hôm nay tôi đến Công An Phường xin họ
cho tôi vắng mặt 3 ngày để vợ chồng tôi về Vĩnh Long SaÐéc3
ngày, thăm thân nhân. Tôi không thể ngờ là họ chấp nhận
lời xin của tôi nhanh một cách lạ thường. Ðiều này giúp
củng cố sự suy đoán của tôi là Công An cấp Sở, Quận,
Phường, "đe dọa tôi và moi vàng từ chúng tôi".
Ngày 22 tháng 8, vợ chồng tôi về
Vĩnh Long, Nha Mân (Sa Ðéc), thăm hai bên Ba Má. Ðồng thời
"cúng tuần" lần thứ 2 cho Má tôi. Vợ tôi thật buồn và
ngồi cạnh mộ Má tôi thật lâu. Một phần của nỗi buồn
vì suốt sáu tháng bồng bế đi bấm huyệt, vậy mà không
được ôm Mẹ lần cuối cùng! Mặt trời xuống khá lâu, chúng
tôi mới rời mộ.
Cúng tuần xong, Ba tôi hỏi:
"Con biết đứa nào cho con Năm hay
Má con chết mà nó về vậy? Ba giận nó lắm".
"Con cho nó hay đó Ba. Ba giận nó
là đúng, nhưng Con không giận nó được, vì nó còn phải
lo cho con của nó vượt biển mà hôm ấy là ngày có hẹn với
chủ tàu. Với lại Con là anh nó, Con không cho nó hay thì sau
này nó trách Con mà Con không biện minh được. Con cũng thưa
với Ba là tuần trước (20 tháng 8), Con đã báo tin cho mấy
em bên Hoa Kỳ hay tin Má mất rồi. Ba có giận Con thì Con xin
lỗi Ba, chớ Con không thể làm thinh với mấy em Con được".
Từ đó Ba tôi không giận cô em
gái tôi nữa.
Ngày 25 tháng 8, chúng tôi về lại
Sài Gòn và trình diện Công An đúng hạn. Sở dĩ mỗi khi tôi
rời khỏi Sài Gòn phải xin phép họ, vì ngay trong nhà tôi
đã có cả một gia đình mà họ gọi là "diện chính sách"
đang ở. Hằng ngày có đến 10 con mắt theo dõi. Tôi có thể
qua mắt họ khi tiếp bạn bè ở tầng trên, nhưng không thể
qua mắt họ khi tôi vắng nhà ban đêm. Tình cảnh của tôi
như vậy, nhưng tôi không biết các bạn tôi trong và ngoài
cư xá Bắc Hải có như vậy hay không.
Sau đó, hằng tuần vào trước ngày
"cúng tuần", vợ chồng tôi đều đặn xin 3 ngày vắng mặt
Sài Gòn để về Nha Mân.
Ngày 26 tháng 9, tôi cũng xin phép
về Nha Mân 3 ngày để "cúng 49 ngày" vào ngày 28 tháng 9 cho
Má tôi, mà bà con thường gọi là "trai thất chung tuần" cho
người theo đạo Phật sau khi từ trần. Khi về lại Sài Gòn,
chúng tôi nhận được tờ "hộ khẩu" có tên vợ tôi. Xin
nói thêm, đây không phải là họ tự động cho vợ tôi "nhập
hộ khẩu" mà là chúng tôi nộp hồ sơ với 11 tờ giấy chứng
minh kèm theo, kể cả lệnh trả tự do chánh thức (14 tháng
9) và chấm dứt mọi truy cứu hình sự.
Ổn định tinh thần, vợ tôi lần
lượt thuật chuyện trong các buồng giam đã trải qua. Gần
2 tháng bị giam tại Công An Quận 10, tâm trạng của mọi người
đều mong đến ngày thứ tư để nhận quà từ gia đình gởi
vào, vì không thể sống với cách nuôi ăn của nhà giam. Chỉ
trong ngày thứ tư, vợ tôi và 2 cô gái trẻ được ăn cơm
trắng với thức ăn còn nóng, những ngày khác là ăn mì gói.
Trái cây tươi với bánh ngọt, để dành ăn được 4 hoặc
5 ngày. Hai cô gái mà vợ tôi giúp đỡ là Phụng và Minh. Cô
Phụng được tha trước vợ tôi hai tháng, có ghé nhà tôi
cho biết tin tức sinh hoạt của vợ tôi.
Khi chuyển sang khám Chí Hòa ở buồng
giam 20 thuộc khu AH, dành giam giữ phụ nữ thuộc Công An các
Quận gởi đến. Buồng trưởng buồng giam 20 tên là Mai. Bà
ta bị bắt về tội phá thai theo cách riêng của bà, và bà
không biết gì về y khoa cả. Mẫu người "sát nhân" như vậy
vào nhà giam trở thành "đại bàng" cũng không có gì là lạ.
Có điều không may là "đại bàng" trong buồng giam khoảng 30
phụ nữ, có vợ tôi trong đó. "Ðại bàng" là danh từ do tuần
báo Công An với tuần báo Thanh Niên tại Sài Gòn thường nói
đến, để chỉ những người trấn lột trong buồng giam.
Ðây là một trong những cách trấn
lột của đại bàng Mai. Lúc kiểm soát quà, bà ta lấy từng
món trong giỏ ra trước sự chứng kiến của người nhận,
và nữ Công An "quản giáo" buồng giam. Món nào "vừa ý", bà
ta liếc nhìn chủ nhân thì y như rằng, sau đó phải chia cho
"đại bàng" ít nhất là một. Không phải nữ "cai tù" không
hiểu cái liếc mắt, nhưng sự làm ngơ của "cai tù" không
phải là vô ích, vì thường khi được "đại bàng" chia phần.
Vì vậy mà những món như xà bông thơm ngoại quốc, bánh kẹo
của vợ tôi, cũng trong tình trạng trấn lột của "đại bàng"
Mai. Có lần tôi mua trong căn tin chỉ còn 1 cục xà bông thơm,
vậy mà "đại bàng Mai" vẫn bắt vợ tôi phải nộp! Quả
thật, nhà tù hay trại tập trung nào cũng đầy dẫy đắng
cay!
Khoảng hai tháng sau đó, họ chuyển
vợ tôi sang buồng giam 4 vẫn trong khu AH, và họ chỉ định
làm buồng trưởng của 30 phụ nữ. Trong "bộ chỉ huy" buồng
giam này, ngoài vợ tôi còn có một cô phụ trách đời sống,
tức mua hàng căn-tin như lúc tôi bị giam trại tập trung Nam
Hà họ gọi là "hậu cần", và một cô phụ trách trật tự.
Theo "lệ" của nhà giam, cô trật tự phải là "dữ dằn" mới
giữ được trật tự. Nhưng "bộ chỉ huy" này sử dụng tình
cảm để giữ trật tự, và rất kết quả. Từ đó buồng
giam số 4 được nữ Công An "cai tù" cho là trật tự hơn hết.
Tôi mướn nhà tôi.
Trở lại với vài nét sinh hoạt
trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tôi đang sống
trong sự bao vây của Công An cộng sản. Trước hết là "tôi
mướn nhà tôi".
Ngược dòng thời gian vào giữa
năm 1964, lúc ấy tôi là Thiếu Tá, Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng
Quốc Phòng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Ðội (Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm). Một hôm, Ðại Tá Bùi Ðình Ðạm điện thoại
bảo tôi:
"Anh trình Ðại Tướng về việc
căn nhà X12 trong cư xá Chí Hòa (năm 1966 đổi tên là cư xá
Bắc Hải) để ai đứng tên, vì Phòng Tư/ Bộ Tổng Tư Lệnh
cần hoàn tất danh sách các sĩ quan mua nhà để trình Bộ Quốc
Phòng".
"Vâng. Khi nào trình được tôi chuyển
lời đến Ðại Tá".
Chiều hôm ấy, nhân khi vào trình
công văn, tôi trình luôn:
"Thưa Ðại Tướng, Ðại Tá Ðạm
xin Ðại Tướng cho biết ai đứng tên căn nhà mà tháng trước
Ðại Tướng dặn. Ðại Tá Ðạm cho biết các sĩ quan ghi tên
mua nhà đã nhận xong, Phòng Tư đang hoàn tất hồ sơ đệ
trình Tổng Nha Tài Chánh & Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng".
Ông im lặng một lúc, rồi nhìn
tôi:
"Chú cần căn nhà đó không?"
"Tôi rất cần nhưng không đủ tiền
trả trước 1/4, tức 60.000 đồng, thưa Ðại Tướng".
"Chú có bao nhiêu?"
"Dạ gom góp lại tối đa cũng được
khoảng 20.000 đồng".
"Chú mua căn nhà đó đi. Phần thiếu,
chú mượn trong số tiền chú đang giữ rồi trừ dần trong
số tiền tôi cho hằng tháng".
"Cám ơn Ðại Tướng. Vậy là gia
đình tôi có được căn nhà rồi".
Tháng 8 năm 1964, tôi hoàn tất hồ
sơ mua và chánh thức nhận nhà. Ðây là căn nhà liên kế một
tầng trệt một tầng lầu, ngang 4 thước dài 16 thước, thuộc
dãy X căn 12. Vì là căn bìa, nên được sử dụng thêm 4 thước
bề ngang, cộng chung là 8 thước ngang x 16 thước dài, vị
chi là 128m2. Sau khi sửa sang chút ít và làm hàng rào, gia đình
chúng tôi dọn từ cư xá Bộ Tổng Tư Lệnh sang cư xá Chí
Hòa ngày 8 tháng 10 năm 1964, ngay sau ngày Ðại Tướng Khiêm
và gia đình bị buộc rời Việt Nam lưu vong. Giá căn nhà là
240.000 đồng (Tiền Việt Nam Cộng Hòa. Lúc ấy hối suất
chánh thức, 35 đồng Việt Nam = 1 mỹ kim). Trả trước 60.000,
còn lại 180.000 đồng trả góp 12 năm, bằng cách Tổng Nha
Tài Chánh & Thanh Tra Quân Phí trừ ngay trên sổ lương hằng
tháng. Ðến tháng 12 năm 1974, tôi trả dứt 24.000 đồng còn
lại. Căn nhà này, vợ chồng tôi đứng tên.
Từ sau ngày sụp đổ 30 tháng 4
năm 1975 và tôi vào trại tập trung, đám cán bộ đảng viên
cộng sản ngang qua cơ quan nhà đất của Phường của Quận,
ít nhất là 1 lần niêm phong tịch thu và 3 lần tìm mọi lý
lẽ mà họ gọi là "vận động" vợ tôi dọn về quê làm
ruộng, nhưng vợ tôi chống đối đến mức liều mạng mới
giữ được. Nhưng họ bắt vợ tôi cũng như các chị bạn
cùng trường hợp, "ký hợp đồng thuê nhà" với lý do nhà
chưa trả hết tiền, vì theo hợp đồng lúc mua nhà trả góp
đến tháng 7 năm 1976 mới hết. Vợ tôi đưa họ xem biên nhận
tôi trả đủ tiền và giấy chủ quyền tạm, trong khi chờ
giấy chủ quyền chánh thức do tòa Ðô Chánh cấp, vì cơ quan
này xây cất bán cho sĩ quan trả góp trong chương trình "hữu
sản hóa nhà ở cho quân nhân viên chức". Họ căn cứ một
cách cứng nhắc để ép phải ký giấy thuê nhà của mình.
Tháng 8 năm 1988, họ bảo tôi đến
cơ quan nhà đất làm lại hợp đồng mới để giảm bớt
diện tích do "gia đình chính sách" đang ở, và tăng tiền mướn
theo thời giá. Tôi không đồng ý giảm diện tích, vì phần
mà họ gọi là "gia đình chính sách" đang ở vẫn là của
tôi . Nhà nước của cái xã hội xã hội chủ nghĩa này cai
trị bằng những chính sách gian manh dối trá, tìm mọi cách
đánh lừa để cướp đoạt tài sản. Cái xã hội này không
còn con người tử tế nữa, nhất là những người gọi là
cán bộ đảng viên viên chức trong bộ máy cai trị.
Từ 380 đồng một tháng, từ nay
tăng lên 20.000 đồng một tháng.
Nhớ lại một chút về giá trị
đồng bạc Việt Nam cộng sản, để có nét nhìn tổng quát
về kinh tế xã hội chủ nghĩa từ tháng 5 năm 1975 đến năm
1988. Sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa và đánh quỵ xã hội
miền Nam (từ vĩ tuyến 17 xuống nam) ngang bằng với xã hội
miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 lên bắc), qua những chính sách
"đánh tư sản mại bản", đánh "ngành giao thông vận tải",
đánh "ngành tiểu thương & dịch vụ", rồi cưỡng bách
nông dân mà họ gọi là vận động, đưa "ruộng đất vào
hợp tác xã nông nghiệp", và đánh thẳng "vào đồng bạc".
Tháng 9/1975, họ đổi tiền theo trị giá tự họ qui ra chớ
không căn cứ vào nền kinh tế, theo đó thì 500 đồng bạc
Việt Nam Cộng Hòa bằng 1 đồng bạc mới của họ. Tháng
9/1985, họ lại đổi tiền theo trị giá 10 đồng bạc đang
lưu hành bằng 1 đồng bạc mới phát hành. Như vậy, 1 đồng
năm 1988 bằng 5.000 đồng năm 1975. Theo trị giá đó, "tôi mướn
nhà tôi" mỗi tháng đến 100.000.000 đồng (100 triệu), chỉ
cách nhau có 13 năm! Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ơi, sao mà
khiếp quá vậy!
Giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Thưa quí vị quí bạn, trong bối
cảnh xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một xã hội mà toàn bộ
các sinh hoạt trong tình trạng suy sụp, ngay cả đạo đức
cũng vậy. Ngành giáo dục, một ngành mà lãnh đạo cộng sản
Việt Nam trao trách nhiệm "trăm năm trồng người", lại là
tệ hại hơn tất cả! Lỗi của học sinh sinhviên chăng? Tôi
nghĩ, một phần nhỏ. Lỗi của phụ huynh chăng? Tôi nghĩ,
một phần nhỏ. Lỗi của xã hội chăng? Tôi nghĩ, một phần
nhỏ. Nguồn gốc tội ác này là nhóm lãnh đạo cộng sản
Việt Nam trong bộ chính trị, cơ quan có toàn quyền hoạch
định mọi đường lối chính sách, và thúc đẩy thực hiện
những hoạch định đó. Chính họ chỉ thị soạn sách giáo
khoa và cũng chính họ chấp nhận nội dung đưa vào học đường.
Và khi họ đã quyết định thì không một ai có quyền đề
nghị thay đổi, ngay cả sai lầm cũng không được phủ nhận.
Tôi đến Houston hồi tháng 4/1991
trong đợt HO 5. Tháng 6/1991, tôi sang Westminster (Nam California)
làm trong tiệm "Hằng Nga Beauty Supply cùng với anh Võ Hồng
Lạc. Theo lời anh Lạc thì anh là Hiệu Trưởng Trường Trung
Học Mạc Ðỉnh Chi (Phú Lâm, Sài Gòn) đến cuối cùng. Ngay
sau ngày 30/4/1975, một phụ nữ cộng sản từ ngoài rừng vào
đô thị ngồi vào ghế Hiệu Trưởng thay anh, và anh trở về
vị trị "giáo sư sử địa". Câu chuyện khá dài, như lời
tâm sự của người giáo sư sử địa bị bắt buộc phải
dạy những điều hoàn toàn trái ngược với môn sử địa
Việt Nam. Tôi tóm tắt như sau:
Bài viết về sông Cửu Long trong
sách giáo khoa như thế này: "Sông Cửu Long có đoạn chảy
ngang Sài Gòn …" Anh cứ tưởng mình sẽ được khen tặng
vì chứng minh sự sai lầm khi anh cầm cuốn sử địa xin gặp
"bà Hiệu Trưởng". Anh Lạc nói với bà ta là sách giáo khoa
này viết không đúng, vì sông Cửu Long không có đoạn nào
chảy ngang Sài Gòn cả. Nói xong, anh lấy làm lạ về sự kinh
hãi của bà cộng sản hiệu trưởng khi nghe anh phê bình sách
giáo khoa. Bà ta dẫn anh vào gặp người cộng sản đàn ông
mà anh nghe xưng hô là Bí Thư chi bộ đảng của trường. Cái
anh bí thư này cũng kinh hãi, rồi ú ớ hẹn 3 giờ chiều anh
Lạc đến trình diện.
Ðúng giờ, anh Lạc đến., bị bí
thư quát cho một trận:
"Anh dám phê bình lãnh đạo đảng?"
"Không. Tôi chỉ nói sự thật. Sông
Cửu Long đâu có đoạn nào chảy ngang Sài Gòn. Nếu tôi dạy
không đúng thì học sinh sẽ hiểu không đúng, rất là hại".
"Sách giáo khoa này đảng đã
duyệt, mà khi đảng đã duyệt thì không có gì sai cả".
"Trên địa thế không phải như
viết trong sách, làm sao tôi dạy học sinh được. Nếu vậy,
tôi xin nghỉ dạy".
"Anh chống đối đảng hả? Anh
viết kiểm điểm rồi trình tôi".
Anh Lạc lặng lẽ ra về mà lòng
ấm ức. Chỉ xin nghỉ việc cũng bị ghép vào tội chống
đối. Cảm thấy nguy hiểm, khi nộp bản kiểm điểm, anh xuống
nước giãi bày sự kiện. Và cuối cùng anh cũng được yên
thân và nghỉ việc.
Ðến đây là hết phần tóm tắt
câu chuyện của giáo sư Võ Hồng Lạc. Nhưng sự kiện này
góp phần chứng minh về sự ngu muội của các tầng lớp cán
bộ đảng viên. Sự kiện này làm tôi nhớ lại lúc bị giam
trong trại tập trung trong rừng già quận Trấn Yên, tỉnh Hoàng
Liên Sơn những năm 1976-1978. Tên Trung Úy Khảm, quản giáo
Tổ có tôi trong đó. Với vẻ mặt đầy kiêu hãnh khi hắn
nói:
"Năm 1964, khi Mỹ dùng Hạm Ðội
7 tấn công các hải đảo của ta, phi công cách mạng rất
linh hoạt sáng tạo, đã bay thấp xuống và chui dưới đáy
tàu Mỹ qua bên kia trồi lên bay tiếp, nên súng đạn Mỹ không
làm gì được".
Quí vị quí bạn nghe có được
không? Chiếc phi cơ khu trục được sản xuất cho dù từ nước
Nga cộng sản hay nước nào trên thế giới, đâu có khả năng
lặn dưới nước mà vẫn bay như bay trong không gian vậy. Thế
mà hắn vênh mặt lên như thế anh em chúng tôi từ hành tinh
khác mới đến địa cầu vậy.
Chưa hết. Ðến chuyện phi cơ tắt
máy phục kích trên tầng mây. Cũng tên Khảm, quản giáo Tổ
chúng tôi. Tối hôm ấy, hắn vào "lán" chúng tôi kể chuyện
về Ðại Hội 4 đảng cộng sản của hắn, với tổng kết
sơ khởi có 4.000.000 (4 triệu) thanh niên miền bắc chết trong
chiến tranh. Ý của hắn cho là tại chúng tôi chống cái chế
độ độc tài của hắn nên nhiều triệu thanh niên xã hội
chủ nghĩa phải chết vậy. Xong hắn lại khoe khoang cũng xoay
quanh cái việc phi công của hắn linh hoạt sáng tạo, nhưng
lần này không phải lặn xuống biển mà là phục kính trên
trời. Hắn có vẻ sung sướng khi nói với chúng tôi:
"Trong thời gian B52 Hoa Kỳ thả
bom rải thảm miền Bắc, phi công anh hùng Phạm Tuân đã vọt
lên không trung, chui vô mây, tắt máy phục kích. Chờ B52 bay
phía dưới, phi công rồ máy tấn công B52 từ trên cao".
Hắn là Trung Úy chớ có phải là
lính dốt nát ngu đần đâu, mà hắn nói như thiệt vậy quí
vị quí bạn à! Trên tầng mây cao, phi cơ tắt máy phục kích
... Sao người cộng sản lại ngu muội đến như vậy!
Thời phong kiến xa xưa được học
qua sử sách, các quan trong triều từ nhỏ đến lớn khiếp
sợ vua đến nhũn người, nhất cử nhất động đều phải
vái lạy vua và tạ ơn vua, kể cả lúc vua trừng phạt cũng
vậy. Bây giờ, nền giáo dục của cộng sản Việt Nam từ
năm 1954 trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,
và từ năm 1975 trên toàn cõi Việt Nam, chỉ đào tạo những
thế hệ thần dân để tuân phục đảng, tuân phục đến
nhũn người như thời phong kiến hằng trăm hằng ngàn năm
trước! Tuân phục đến mức đảng của họ nói sông Cửu
Long đoạn chảy ngang Sài Gòn mà họ vẫn cúi đầu chấp nhận!
Quả thật ông Hồ và đàn em đàn cháu của ông, đã "thành
công trong nỗi đớn đau của lịch sử" về cái chính sách
trăm năm trồng người của họ, và vẫn tiếp tục thực hiện
công cuộc "trồng người máy" để tạo nên những lớp người
ngu muội, dẫn đến một xã hội suy tàn đạo đức!
Chung qui từ giáo dục mà ra. Mời
quí vị quí bạn theo dõi cuộc hội thảo về giáo dục, trong
giai đoạn ngắn ngủi gọi là "cởi trói" cho báo chí phản
ảnh sinh hoạt xã hội. Ðây là tóm lược bài viết của Vũ
Hạnh, đăng trong báo Công An ngày 31/5/1989 tại Sài Gòn.
Trung tuần tháng 5/1989, Viện Nghiên
Cứu Giáo Dục phía Nam, và Ban Khoa Giáo thành ủy Sài Gòn mà
họ gắn cái tên ông Hồ vào đó, phối hợp tổ chức cuộc
hội thảo tại số 36 đường Lê Thánh Tôn, với sự tham dự
của giáo viên giáo sư từ các trường học và từ các cơ
quan nghiên cứu giáo dục. Mục đích, tìm hiểu về sự suy
đồi đạo đức học đường. Bà Tôn Thuyết Dung, được
đánh giá là nhà giáo dũng cảm khi nhận trách nhiệm nghiên
cứu và trình bày đề tài "Tìm hiểu nhược điểm và khuyết
điểm của sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy đạo
đức cho học sinh".
Bà Dung nhận định rằng: "Sách
giáo khoa đang sử dụng đã lỗi thời vì nó được soạn
ra trong thời kỳ chiến tranh, và chỉ nhắm vào lớp trẻ sống
ở nông thôn miền Bắc. Tất cả chỉ phục vụ mà không quan
tâm đến đạo đức, chuyên chở những chủ đề mà tầng
lớp thanh thiếu niên không dễ gì cảm nhận được chứ nói
gì đến học hỏi. Chẳng hạn như "cá thể với tập thể,
đả đảo với ủng hộ, ngụy quyền với chánh quyền, đế
quốc với cách mạng, phản động với trung thành, ..v..v..".
Sách giáo khoa lại tham lam khi đề cập nhiều vấn đề, nội
dung phản lại giáo dục ở điểm trưng dẫn những sự kiện
xấu mà không chỉ dạy cách sửa đổi. Sách không đào tạo
con người trước khi nói đến chủ nghĩa cộng sản. Về các
câu hỏi để học sinh trả lời không nhắm vào chủ đề
rõ rệt, không giúp học sinh phát huy nhận thức, trái lại
gò ép học sinh trả lời một cách dối trá".
Cũng trong hội thảo này, ông Xuân
Diệu (không biết có phải là nhà thơ Xuân Diệu hay không)
nhận xét thật ngắn nhưng rất sâu sắc: "Một trong những
thiếu sót quan trọng là giáo dục không đào tạo con người,
nên rốt cuộc xã hội chúng ta chỉ có thần dân mà không
có công dân".
Lại một nhận thức sâu sắc khác:
"Giáo
dục phải nhắm mục đích tạo nên con người dân chủ từ
bé, phải chống lại sự tha hóa lớn nhất hiện nay là sự
quanh co dối trá, sự thiếu thành thật giữa con người với
nhau".
Tiếp đây là bài viết trên báo
Tuổi Trẻ: "Tại buổi lễ cuối năm học 1988-1989 tổ chức
vào ngày cuối tháng 5/1989, tại một trường trung học phổ
thông Quận 1, khi một nữ sinh lớp 9 đang phát biểu một cách
trôi chảy rằng; Nhờ ơn bác dẫn dắt, nhờ ơn đảng soi
đường, nhờ ơn đoàn chắp cánh cho em bay lên, à. Thì ông
đại diện Quận 1 hỏi Bí thư đoàn thanh niên của trường
đang ngồi bên cạnh:
"Con bé rất tiến bộ. Vậy nó
đã vào Ðoàn chưa?
Anh bí thư đáp: "Nó không chịu
vào đoàn. Môn văn của nó khá lắm nên nó trình bày rất
hay, nhưng cứ mỗi lần vận động vào đoàn thì nó trả lời,
vào đoàn chỉ mất thì giờ chớ chẳng có lợi gì hết. Thành
ra nó nói vậy chớ không phải vậy đâu".
Cũng trong tờ báo này, có mẩu tin
liên quan đến câu "nói vậy nhưng không phải vậy" trên đây.
"Trong buổi kiểm tra cuối lục
cá nguyệt, thầy giáo kiểm tra hết lời khen ngợi bài luận
về "Gia đình em trong cuộc sống hôm nay" của một nữ sinh
lớp 8, vì bài viết rất thực, rất sống động về cuộc
sống nghèo nàn gian khổ. Nhưng thầy rất đau lòng khi nói
với học sinh của mình rằng: "Em viết rất hay, rất thật,
nhưng thầy khuyên em, nếu như em muốn tiếp tục học nữa
thì em phải viết theo bài học. Vì bài luận này trình lên
Sở thì em không thể học nữa đâu. Thầy thật lòng khuyên
em như vậy".
Tác giả bài báo thêm một câu
vắn tắt rằng: "Từ lâu lắm rồi, dối trá là nấc thang
trong học đường, và liệu bao giờ, giáo dục mới thoát khỏi
cái văn hóa dối trá đó?"
Và đây là tóm tắt báo cáo của
Sở Giáo Dục ngày 7/10/1989 đăng trong báo Tuổi Trẻ ngày 10/10/1989:
"Tình hình giáo dục vẫn trong
tình trạng yếu kém trên toàn quốc. Nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này rất nhiều, nhưng có thể qui vào các điểm:
Thứ nhất là ngân sách giáo dục toàn quốc chỉ 4 đến 4.5%,
riêng tại thành phố đạt đến 10% nhưng không thỏa mãn tối
thiếu về nhu cầu lương cho thầy giáo cô giáo. Cho nên giáo
viên không thể tập trung vào dạy và học, vì phải đi làm
thêm để kiếm sống. Tệ hơn nữa là các Quận ven thành phố
thường là nợ lương giáo viên từ 3 đến 4 tháng. Cũng vì
vậy mà Sở Giáo Dục hằng năm chỉ tuyển được 50% giáo
viên trong tổng số nhu cầu. Thứ hai là phẩm chất giáo
dục (mà họ gọi là chất
lượng) rất tệ. Chỉ có 5% học sinh được xếp vào hạng
giỏi. Số học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 bỏ học đến
80%". Thứ hai là lương giáo viên. Nhân Ngày Nhà Giáo Việt
Nam 20/11/1988, lãnh đạo của thành phố chỉ thị Quận/Huyện
trực thuộc phải trích ngân sách để tăng lương cho giáo
viên từ 40.000 đồng/tháng lên 80.000 đồng/tháng. Quận/Huyện
la lên ngân sách không gánh vác nổi, và quay sang bắt dân gánh
chịu bằng cách đóng tiền học hằng tháng, mà nguyên tắc
trường công là không học phí. Quận/Huyện qui định mỗi
học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 đóng 1.000 đồng. Lớp 4 lớp
5 đóng 2 kí lô gạo, mỗi học sinh cấp 2 (tức trung học đệ
nhất cấp) đóng 3 kí lô gạo, và học sinh cấp 3 (tức trung
học đệ nhị cấp) đóng 4 kí lô gạo. Tất cả những kí
lô gạo đó đều qui ra tiền khi nộp cho nhà trường. Thứ
ba là trường học ngày càng cũ kỹ mà không được tu
bổ đúng mức. Trong đài truyền hình Cần Thơ có tiết mục
"Chuyện Xã Tôi" từ năm 1988 mà báo chí Sài Gòn lẫn Hà Nội
đều khâm phục là rất can đảm, đã dám đưa lên màn ảnh
nhỏ một sự thật ở cấp xã thuộc tỉnh Hậu Giang, đó
là ngôi trường học xiêu vẹo, dột nát, chỉ có mái lợp
mà không có tấm vách nào bao bọc chung quanh che gió chắn mưa.
Thê thảm hơn nữa là không có cái bàn học nào cả, ngoại
trừ cái bàn và cái ghế duy nhất của giáo viên. Học sinh
phải đem theo manh chiếu để ngồi và mảnh ván nhỏ để
trên nền đất, học sinh trong thế nửa ngồi nửa nằm mà
viết".
Thưa quí vị quí bạn, tôi xin tách
ra chữ "can đảm" ở đoạn trên đây để giãi bày cho rõ
thêm. Thuở ấy là "thời cởi trói" cho truyền thông nhà nước
do ông Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đưa ra, nên ông phóng viên
nào đó của nhà nước Cần Thơ mới dám đưa cái hoạt cảnh
giáo dục xã hội chủ nghĩa lên truyền hình. Tôi xem tiết
mục "mỗi tuần một chuyện" trên đài truyền hình Cần Thơ.
Nhiều chuyện khác nhau trong sinh hoạt nông thôn, nhưng tôi
chỉ chú trọng những chuyện liên quan đến giáo dục. Nhưng
rồi cái thời cởi trói ấy chỉ "tự do" được trong thời
gian ngắn ngủi, tất cả bị trói lại và trói chặt hơn trước,
chỉ vì trong thời gian cởi trói mà nhiều tệ trạng trong
xã hội xã hội chủ nghĩa phơi bày ra ánh sáng. Chưa phải
là tất cả, nhưng quá đủ để lãnh đạo cộng sản Việt
Nam trong bộ chính trị kinh hãi rồi!
Cũng trong giáo dục. Trên màn ảnh
đài truyền hình Sài Gòn tối 20/7/1989, có bài tường thuật
hội nghị tổng kết năm học 1988-1989 riêng cho các tỉnh phía
Nam, từ Thừa Thiên/Huế xuống đến Cà Mau, như sau:
"Hội nghị nhận định là học
sinh tiểu học, đầu mối quan trọng của hệ thống giáo dục,
có trình độ rất kém. Kém đến mức học sinh lớp 1 chỉ
có 20% biết đọc bập bẹ, còn lại 80% chẳng biết gì cả.
Hội nghị đã gióng nhiều hồi chuông báo động trong toàn
diện hệ thống giáo dục, ít nhất là giáo dục tại các
tỉnh miền Nam. Ðặc biệt là hồi chuông báo động về sự
suy đồi đạo đức".
Trong bài tường thuật, tôi không
thấy hội nghị đưa ra biện pháp nào để chỉnh đốn những
hồi chuông báo động đó, mà là kết thúc theo kiểu bỏ ngõ
như vậy.
Thưa quí vị quí bạn, theo tôi,
giáo dục là lãnh vực quan trọng bậc nhất trong xây dựng
con người, từ đó dẫn đến phát triển đất nước. Vì
vậy mà tôi chỉ ghi lại đây một vài góc cạnh về giáo
dục trong 14 năm xã hội chủ nghĩa, 1975-1989 .
Ðến nay là năm 2007, giáo dục trong
xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không có gì khá hơn suốt
chiều dài 32 năm qua. Bằng chứng là ông Bộ Trưởng Giáo
Dục & Ðào Tạo, trong buổi điều trần tại cơ quan gọi
là Quốc Hội cộng sản Việt Nam hồi cuối năm 2006, ông cho
rằng:
"à Có 7 vấn đề cấp bách trong
hệ thống giáo dục Việt Nam tồn tại từ lâu nay, là: (1)
Bệnh thành tích. (2) Tiêu cực trong thi cử. (3) Bằng cấp giả
mạo. (4) Cần cải tổ chương trình cấp phổ thông. (5) Biên
soạn và ấn hành sách giáo khoa. (6) Phẩm chất giáo dục mà
ông gọi là "chất lượng giáo dục". (7) Giúp sinh viên tìm
việc làm.... "
Ông nêu 7 vấn đề như là cấp
bách của Bộ Giáo Dục & Ðào Tạo, nhưng không thấy ông
cho biết đã thực hiện chưa, nếu đang thực hiện thì diễn
tiến ra sao, mà ông chỉ nói suông thôi.
Ông cũng cho biết là Thủ Tướng
của ông đã chấp thuận thành lập thêm 5 trường đại học
công và 15 trường đại học tư. Số lượng 20 trường đại
học này sẽ thành lập tại: Tỉnh Hòa Bình 1 trường + đồng
bằng Sông Hồng 7 trường + Miền Trung 4 trường + 8 trường
còn lại thành lập tại đồng bằng sông Cửu Long và Sài
Gòn.
Tôi vào trang Web về giáo dục của
cộng sản Việt Nam, có rất nhiều lãnh vực, nhưng thực chất
đó chỉ là hình thức, còn nội dung bên trong không giúp gì
cho sự nghiên cứu, chẳng hạn như:
- Có những ô những cột mà bên
trong hoàn toàn trống rỗng.
- Có những bài viết chung chung,
không nói lên được góc cạnh nào rõ nét cả.
- Có bài viết nhưng lỗi thời,
vì những dữ kiện của sáu bảy năm về trước. Ðiển hình
bây giờ là năm 2007 mà trang Web <Vietnam Education> của họ
chỉ có tài liệu năm 1997. Theo đó, năm học 1996-1997, toàn
cõi Việt Nam có 22.000.000 học sinh tiểu học, 17.500.000 học
sinh trung học, 26.000 sinh viên cao đẳng và đại học.
Với con số học sinhsinh viên ghi
nhận trên đây, nếu nhìn theo khía cạnh dân số thì Việt
Nam là một dân số trẻ, nếu nhìn theo khía cạnh giáo dục
thì những thế hệ này tiếp tục bị chế độ nhận chìm
trong chính sách giáo dục một chiều đào tạo "những thế
hệ thần dân", và đây là mối quan tâm bậc nhất của những
vị lãnh đạo Việt Nam thời hậu cộng sản trong mục đích
đào tạo những thế hệ công dân trong xã hội pháp trị tương
lai.
Cũng trong trang Web <Vietnam Education>
đảng và chánh phủ Việt Nam cộng sản, đặt giáo dục và
phát triển khoa học kỹ thuật lên hàng chiến lược, nhưng
không thấy nói cách thực hiện chiến lược giáo dục như
thế nào, mà họ chỉ cho biết hệ thống giáo dục Việt Nam
hiện nay trong tình trạng rất nhiều khó khăn. Chẳng hạn
như nhiều trường học không được bảo trì đúng mức, dụng
cụ trang bị học đường lỗi thời, sách giáo khoa chỉ cải
tiến ở trên ngọn chớ chưa cải tiến nền tảng, giáo viên
không đủ phẩm chất giảng dạy, và hằng triệu học sinh
bỏ học, và ..v.. v...
Theo giáo sư tiến sĩ Trần Văn Hiến,
giảng dạy tại đại học Houston ở thành phố Clear Lake, ông
thường được trường đề cử sang Việt Nam giảng dạy bộ
môn kinh tế tài chánh, và phụ trách các chương trình giúp
sinh viên Việt Nam sang du học Hoa Kỳ. Ông trả lời phỏng
vấn của đài Á Châu Tự Do, khi được hỏi về sự đánh
giá của thế giới về nền giáo dục Việt Nam hiện nay, ông
nói:
"Năm 2006, giáo dục Việt Nam ở
thứ hạng 90/135 quốc gia. Nếu Việt Nam không nhanh chóng cải
tổ giáo dục thích nghi với sức phát triển chung của thế
giới, thì kinh tế Việt Nam chỉ làm gia công cho các nhà đầu
tư ngoại quốc".
Thưa quí vị quí bạn, xã hội Việt
Nam chúng ta sau 15 năm sống trong xã hội chủ nghĩa (1975-1990),
tất cả lãnh vực sinh hoạt quốc gia đều suy đồi thảm
hại, nhất là giáo dục, trong khi giáo dục là nền tảng xây
dựng con người để từ đó xây dựng quê hương đất nước.
Thế nhưng, từ năm 1990 cho mãi đến bây giờ là năm 2007,
bộ máy điều hành xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vẫn
là lớp "thần dân" chỉ biết tuân phục đảng và nhà nước
cộng sản của họ. Trong khi một lớp người có tư cách công
dân, đứng lên đòi hỏi quyền được sống và quyền mưu
cầu hạnh phúc cho xã hội mà Hiến Pháp năm 1992 thừa nhận,
thì họ nhân danh đảng nhân danh nhà nước đàn áp trừng
phạt. Hiến Pháp do chính cộng sản soạn thảo ban hành, nhưng
nó chỉ được sử dụng để che chắn cái bản chất độc
tài gian manh dối trá của họ, chớ không bảo vệ người
dân. Vậy mà, họ thường huênh hoang con người là vốn quí,
được sống trong chế độ ưu việt, chế độ không có người
bóc lột người, họ là đại diện của giai cấp công nhân
nông dân, ..v..v..."
Suy cho cùng, lãnh đạo cộng sản
Việt Nam nói đúng. Ðúng ở chỗ, "không có người bóc
lột người, mà chỉ có đảng cộng sản bóc lột dân thôi,
vì
giữa dân với nhau có ai bóc lột ai đâu, phải không quí vị
quí bạn?
(Tiếp theo Chương
mười)
|